Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Vương Hổ Ứng

Bài tổng quan

Đồng xu rơi khỏi tay, một việc gieo nhiều quẻ liên tiếp

Bói Dịch - Vương Hổ Ứng05/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Đồng xu rơi khỏi tay, một việc gieo nhiều quẻ liên tiếp

Đồng xu lăn khỏi tay, rơi xuống sàn, có khi chui khuất gầm bàn, và người gieo quẻ lập tức nghi ngờ lần gieo ấy. Một người mẹ gieo bốn quẻ hỏi chuyện thi của con gái, một gia đình có người bệnh nặng thì ba người ruột thịt gieo ba quẻ khác nhau. Các quẻ ấy có cãi nhau không?


Đang gieo quẻ mà đồng xu lăn khỏi tay, rơi xuống đất, chui vào gầm bàn, có khi biến mất khỏi tầm mắt. Nhiều người hoảng, nghĩ quẻ đã hỏng và phải gieo lại. Thực ra chuyện ấy không làm hỏng quẻ, và chuyện gieo thêm quẻ cũng có lệ riêng của nó.

Đồng xu rơi xuống đất thì xử lý thế nào

Người hay đoán quẻ cho người khác sớm muộn cũng gặp cảnh này: một đồng tiền văng ra khỏi bàn, rơi xuống sàn, hoặc lăn tới chỗ mắt không nhìn thấy. Gặp vậy không cần gieo lại từ đầu. Dù đồng xu rơi ở đâu, lần gieo ấy vẫn được tính. Việc cần làm chỉ là tìm đồng xu về, xem nó ngửa hay sấp, rồi đặt nó cạnh hai đồng còn lại mà đọc cả ba mặt cùng lúc.

Có khi đồng xu dựng đứng, tựa vào một vật gì đó và không đổ. Khi ấy cứ lấy mặt đang nhìn thấy được mà xác định ngửa hay sấp. Người đoán lâu năm đã gặp cảnh này nhiều lần, đều xử lý như vậy, và quẻ vẫn ứng nghiệm như thường, chẳng sai lệch chút nào.

Muốn đỡ phiền vì phải lần tìm đồng xu, có thể lót một cái đĩa phẳng, hoặc đồ vật nông lòng tương tự, làm chỗ đựng ba đồng xu khi lắc. Xu ít văng ra ngoài hơn. Cũng có thể gieo trên một mặt bàn rộng hơn bình thường.

Một việc có được gieo hai, ba quẻ không

Được. Nhưng nếu quẻ đầu đã nói rõ điều cần hỏi thì không cần gieo quẻ thứ hai. Chỉ khi quẻ đầu tin tức mơ hồ, hoặc khó phán đoán, mới nên gieo thêm một quẻ, rồi đặt các quẻ cạnh nhau mà tham chiếu. Ví dụ dưới đây cho thấy ba quẻ cùng một người hỏi có thể kể cùng một kết cục từ ba phía khác nhau.

Mẹ hỏi con gái thi đại học: bốn quẻ nói cùng một điều

Một người mẹ người Nhật hỏi con gái có đỗ đại học hay không. Hôm ấy là ngày Nhâm Dần, tháng Sửu. Quẻ gieo được là Thiên Sơn Độn, không có hào nào động. Sáu hào xếp từ hào sáu xuống hào một như sau:

  • Hào sáu: Phụ mẫu Tuất thổ, hào dương, lâm Bạch Hổ.
  • Hào năm: Huynh đệ Thân kim, hào dương, hào Ứng, lâm Đằng Xà.
  • Hào bốn: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào dương, lâm Câu Trần.
  • Hào ba: Huynh đệ Thân kim, hào dương, lâm Chu Tước.
  • Hào hai: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào âm, hào Thế, lâm Thanh Long.
  • Hào một: Phụ mẫu Thìn thổ, hào âm, lâm Huyền Vũ.

Hỏi chuyện thi cử thì Quan quỷ là dụng thần chính, Phụ mẫu là hào tham khảo. Trong quẻ Quan quỷ hiện hai chỗ, nên lấy hào đứng ở ngôi Thế là Ngọ hỏa hào hai làm dụng thần. Phụ mẫu cũng hiện hai chỗ; lấy Thìn thổ hào một, hào đang gặp tuần không. Quan quỷ Ngọ hỏa được ngày Dần mộc sinh nên vượng, lại lâm Thanh Long, vị thần chủ điềm mừng, nên hào dụng thần vừa có sức vừa có điềm tốt đi kèm. Hào Quan quỷ này lại đứng ngay ngôi Thế, nên cả hào dụng thần lẫn hào chủ vị đều chung một chỗ. Phụ mẫu Thìn thổ tuy không vong nhưng được tháng Sửu củng phù nên cũng vượng. Hai hào tham chiếu cùng nghiêng về một phía, nên gộp lại đoán là đỗ. Sau quả nhiên đỗ.

Ngày Đinh Mùi cùng tháng Sửu, người mẹ gieo lại, được Trạch Phong Đại Quá tĩnh, không hào nào động:

  • Hào sáu: Thê tài Mùi thổ, hào âm, lâm Thanh Long.
  • Hào năm: Quan quỷ Dậu kim, hào dương, lâm Huyền Vũ.
  • Hào bốn: Phụ mẫu Hợi thủy, hào dương, hào Thế, lâm Bạch Hổ.
  • Hào ba: Quan quỷ Dậu kim, hào dương, lâm Đằng Xà.
  • Hào hai: Phụ mẫu Hợi thủy, hào dương, lâm Câu Trần.
  • Hào một: Thê tài Sửu thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Chu Tước.

Quan quỷ được nhật nguyệt sinh phù nên vượng tướng. Phụ mẫu bị nhật nguyệt khắc nên hưu tù. Người xưa có câu:

Quan vượng có thể sinh Phụ suy.

Đoán thi cử thì Quan quỷ nặng, Phụ mẫu nhẹ. Trong quẻ tĩnh, hào vượng tướng có thể nâng đỡ hào hưu tù. Quan vượng lại sinh Thế, nên cũng đoán được cô con gái đỗ đại học. Việc ứng nghiệm cũng giống quẻ trước.

Ngày Mậu Thân, tháng Sửu, người mẹ gieo lần nữa, được Lôi Phong Hằng biến Chấn vi Lôi:

  • Hào sáu: Thê tài Tuất thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Chu Tước.
  • Hào năm: Quan quỷ Thân kim, hào âm, lâm Thanh Long.
  • Hào bốn: Tử tôn Ngọ hỏa, hào dương, lâm Huyền Vũ.
  • Hào ba: Quan quỷ Dậu kim, hào dương động, hào Thế, lâm Bạch Hổ, hóa ra Thê tài Thìn thổ.
  • Hào hai: Phụ mẫu Hợi thủy, hào dương động, lâm Đằng Xà, hóa ra Huynh đệ Dần mộc.
  • Hào một: Thê tài Sửu thổ, hào âm động, lâm Câu Trần, hóa ra Phụ mẫu Tý thủy.

Vẫn lấy Quan quỷ làm dụng thần, Phụ mẫu làm hào tham khảo. Quan quỷ hiện hai chỗ, nên lấy hào đang phát động ở ngôi Thế là Dậu kim. Hào ấy được tháng sinh, ngày giúp nên vượng tướng, lại động hóa ra hào sinh lại cho mình. Hào quá vượng vốn không tốt. Nhưng hào một Sửu thổ phát động, kéo Quan quỷ nhập mộ. Người xưa nói:

Thái quá thì tổn thất sẽ thành.

Dụng thần chồng chất thì cần mộ khố để thu giấu.

Hào quá vượng gặp mộ khố thì sức giảm bớt. Phụ mẫu Hợi thủy được ngày sinh phù, cũng không hưu tù. Đoán gộp lại là đỗ đại học. Kết quả giống quẻ trước.

Một điểm đáng chú ý ở quẻ này là Dụng thần không đứng yên mà phát động. Bình thường hào động hóa ra hào sinh lại mình là điều tốt, nhưng khi hào đã vượng quá mức thì sự sinh thêm ấy lại thành gánh nặng. May có hào một động kéo nó vào mộ, đúng như phép chế ngự: cái gì tràn đầy thì cần một cái kho để cất giữ bớt.

Cũng ngày ấy bà gieo thêm một quẻ nữa, được Lôi Phong Hằng biến Lôi Thiên Đại Tráng:

  • Hào sáu: Thê tài Tuất thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Chu Tước.
  • Hào năm: Quan quỷ Thân kim, hào âm, lâm Thanh Long.
  • Hào bốn: Tử tôn Ngọ hỏa, hào dương, lâm Huyền Vũ.
  • Hào ba: Quan quỷ Dậu kim, hào dương, hào Thế, lâm Bạch Hổ.
  • Hào hai: Phụ mẫu Hợi thủy, hào dương, lâm Đằng Xà.
  • Hào một: Thê tài Sửu thổ, hào âm động, lâm Câu Trần, hóa ra Phụ mẫu Tý thủy.

Quẻ này khá giống quẻ vừa rồi. Dụng thần vẫn là Quan quỷ Dậu kim đứng ở ngôi Thế, được nhật nguyệt sinh phù, vượng mà giữ Thế. Hào một Sửu thổ là Thê tài phát động, hóa ra Phụ mẫu Tý thủy; Thê tài thuộc thổ, thổ lại sinh kim, nên Thê tài động ở đây là đang sinh cho Quan quỷ. Vì thế thi đỗ có phần may mắn, nhưng vẫn là đỗ. Việc ứng nghiệm cũng như hai quẻ trước.

Một người bệnh, ba người ruột thịt gieo ba quẻ

Ngày Đinh Dậu, tháng Dậu, một người phụ nữ trung niên lâm bệnh. Chồng bà gieo quẻ hỏi bệnh, được Lôi Sơn Tiểu Quá tĩnh:

  • Hào sáu: Phụ mẫu Tuất thổ, hào âm, lâm Thanh Long.
  • Hào năm: Huynh đệ Thân kim, hào âm, lâm Huyền Vũ.
  • Hào bốn: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào dương, hào Thế, lâm Bạch Hổ.
  • Hào ba: Huynh đệ Thân kim, hào dương, lâm Đằng Xà.
  • Hào hai: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào âm, lâm Câu Trần.
  • Hào một: Phụ mẫu Thìn thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Chu Tước.

Người chồng hỏi bệnh vợ nên lấy Thê tài làm dụng thần. Thê tài Mão mộc không hiện trong quẻ mà ẩn dưới Quan quỷ Ngọ hỏa ở hào hai. Mão mộc bị cả tháng Dậu lẫn ngày Dậu xung, thành nguyệt phá và nhật phá, rất hưu tù. Dụng thần lại nằm dưới Quan quỷ, bị Quan quỷ đè lên, là điềm đại hung. Điều ấy nói bà đã bị bệnh dày vò lâu ngày, bệnh nặng.

Câu Trần chủ chứng ung thư. Hào hai là ngôi của cơ quan sinh dục, hào phi thần Ngọ hỏa lại là thai địa của Tử tôn, đè lên dụng thần, báo rằng nơi sinh con đẻ cái có bệnh. Gộp lại, đoán là ung thư tử cung. Dụng thần nguyệt phá, đến tháng Tuất là hợp phá, hung. Về sau người vợ mất vì ung thư tử cung vào giờ Mùi, ngày Canh Tuất, tháng Tuất.

Cũng ngày Đinh Dậu ấy, người chị gái của bà bệnh nhân gieo một quẻ hỏi cát hung của em gái, được Thủy Phong Tỉnh biến Khảm vi Thủy:

  • Hào sáu: Phụ mẫu Tý thủy, hào âm, lâm Thanh Long.
  • Hào năm: Thê tài Tuất thổ, hào dương, hào Thế, lâm Huyền Vũ.
  • Hào bốn: Quan quỷ Thân kim, hào âm, lâm Bạch Hổ.
  • Hào ba: Quan quỷ Dậu kim, hào dương động, lâm Đằng Xà, hóa ra Tử tôn Ngọ hỏa.
  • Hào hai: Phụ mẫu Hợi thủy, hào dương, hào Ứng, lâm Câu Trần.
  • Hào một: Thê tài Sửu thổ, hào âm, lâm Chu Tước.

Hỏi bệnh em gái thì lấy Huynh đệ làm dụng thần. Quẻ này và quẻ trước, tuy người hỏi và người bệnh có quan hệ khác nhau, cuối cùng vẫn đi đến cùng một kết cục. Dụng thần ở đây cũng ẩn dưới hào hai, bị ngày tháng khắc chế, lại có Quan quỷ Dậu kim đang động đến khắc, dụng thần hoàn toàn không có sinh khí, hung nhiều cát ít. Kỵ thần động nhưng bị Ngọ hỏa khắc chế. Đến tháng Tuất, Ngọ hỏa nhập mộ, kỵ thần không còn gì chế ngự, có sức khắc dụng thần. Kỳ ứng nghiệm giống quẻ trước.

Cùng ngày Đinh Dậu ấy, cô cháu gái của bà bệnh nhân gieo hỏi bệnh của cô, được Địa Sơn Khiêm biến Lôi Sơn Tiểu Quá:

  • Hào sáu: Huynh đệ Dậu kim, hào âm, lâm Thanh Long.
  • Hào năm: Tử tôn Hợi thủy, hào âm, hào Thế, lâm Huyền Vũ.
  • Hào bốn: Phụ mẫu Sửu thổ, hào âm động, lâm Bạch Hổ, hóa ra Quan quỷ Ngọ hỏa.
  • Hào ba: Huynh đệ Thân kim, hào dương, lâm Đằng Xà.
  • Hào hai: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào âm, hào Ứng, lâm Câu Trần.
  • Hào một: Phụ mẫu Thìn thổ, hào âm, lâm Chu Tước.

Cô thuộc bậc trên nên lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Quẻ có hai hào Phụ mẫu, lấy hào đang động là Sửu thổ. Dụng thần không được nhật nguyệt sinh phù, thuộc hưu tù, hung nhiều cát ít. Dụng thần tuy động hóa ra hào sinh lại, nhưng chỉ là tạm thời. Đến tháng Tuất, nguyên thần nhập mộ, dụng thần không có chỗ sinh, tất hung. Còn hào Phụ mẫu Thìn thổ kia gặp không vong, lại hợp với ngày. Người xưa nói bệnh lâu gặp không thì chết; nay hợp với ngày chỉ là tạm yên. Đến tháng Tuất, nơi hợp gặp xung, xung không thì thành thực, tất hung. Kỳ ứng nghiệm cũng giống các ví dụ trước.

Cả ba quẻ đều chỉ về một nơi. Người hỏi khác nhau thì dụng thần khác nhau: chồng lấy Thê tài, chị lấy Huynh đệ, cháu lấy Phụ mẫu. Bệnh của bà vẫn nằm ở một chỗ, nhưng quẻ nào cũng soi bệnh ấy từ một góc của riêng mình, nên không có quẻ nào mâu thuẫn với quẻ nào.

Nguồn: Vương Hổ Ứng, Lục hào nghi hoặc chỉ mê.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Vương Hổ Ứng