Bài tổng quan
Trạch Phong Đại Quá: nước đầm ngập cây, cột nặng giữa nên cong
Cái cột có phần giữa quá lớn mà hai đầu quá nhỏ, chống một mái nhà thì cong xuống từng chút. Có người lót cỏ trắng để đặt đồ cúng, có cây dương khô vẫn đâm rễ mới, và có kẻ lội nước ngập đầu để cứu người... Vậy lúc việc lớn vượt quá sức, ai mới đáng gánh?
Mục lục · 8 phần
- 01Đại Quá là lớn lao quá mức: đầm nước ngập cây
- 02Cái cột giữa quá nặng, hai đầu quá nhỏ
- 03Hào sơ lục: lót cỏ mao trắng, cẩn trọng đến mức không lỗi
- 04Hào cửu nhị: cây dương khô nảy rễ, chồng già được vợ trẻ
- 05Hào cửu tam: cột cong queo, quá cứng nên gãy
- 06Hào cửu tứ: cột lớn vững chãi, chỉ cần đừng nghĩ khác
- 07Hào cửu ngũ: cây dương khô nở hoa, chẳng đáng khen cũng chẳng đáng chê
- 08Hào thượng lục: lội ngập đầu mà không đáng trách
Đại Quá là lớn lao quá mức: đầm nước ngập cây
Quẻ số hai mươi tám là Trạch Phong Đại Quá, thuộc hàng quẻ xấu, tiết khí tháng Hai. Đại Quá mang nghĩa hư hao, gian nan, lớn lao quá mức. Trên là Đoài, là đầm; dưới là Tốn, là gió, là cây.
Trạch diệt mộc, Đại Quá. Quân tử dĩ độc lập bất cụ, độn thế vô muộn.
Lời Tượng nói nước đầm dâng lên làm chết cây là quẻ Đại Quá. Người quân tử nhìn quẻ này mà đứng riêng một mình không sợ, ẩn mình cả đời không phiền muộn.
Cái cột giữa quá nặng, hai đầu quá nhỏ
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán bảo phần dương quá nhiều, phần âm quá ít, như cái cột yếu, cong xuống, chống không nổi; nhưng tiến đi thì lợi, được hanh thông. Nhìn hình quẻ, bốn hào dương ở giữa, hai hào âm ở hai đầu, như cây cột khúc giữa lớn mà ngọn và chân nhỏ quá, chống không nổi nên phải cong đi. Tuy vậy, hai hào dương là hào hai và hào năm đều đắc trung, thế là cương mà vẫn trung. Quẻ Tốn ở dưới mang nghĩa thuận, quẻ Đoài ở trên mang nghĩa hòa vui; thế là hòa thuận vui vẻ. Cho nên bảo hành động thì hanh thông.
Lời Tượng bàn thêm: Đoài là đầm ở trên, Tốn là cây ở dưới, nghĩa là nước lớn quá làm ngập cây. Người quân tử gặp quẻ này biết rằng phải có đức độ, hành vi hơn người; việc gì hợp đạo, chính đáng thì cứ làm, dù một mình đứng riêng, trái với thiên hạ cũng không sợ. Nếu là việc không hợp đạo thì không thèm làm, dù có phải trốn đời cũng không phiền muộn.
Phan Bội Châu giải rõ thêm: chữ Đại Quá đối lập với chữ Bất Cập, tức chưa tới. Đại Quá là công việc lớn quá chừng. Sử Ký có câu: ắt có người phi thường mới làm nên việc phi thường, mà những việc phi thường chắc chắn phải chờ người phi thường, bởi vì đó quyết không phải việc hạng người thường làm nổi. Đó chính là nghĩa của chữ Đại Quá.
Ông chú thêm rằng quẻ Đại Quá đứng sau quẻ Di là rất hay. Xưa nay, các bậc thánh hiền hào kiệt, trước khi làm việc Đại Quá đều phải tiềm tàng, ẩn chứa, trải biết bao thời gian súc dưỡng. Súc dưỡng đầy đủ rồi mới phát triển lớn lao; chưa thấy ai không súc dưỡng mà làm nên việc phi thường. Ông Y Doãn đi cày ở đất Hữu Sằn, hơn nửa đời người ngâm thơ đọc sách, vui với đạo Nghiêu Thuấn, rồi sau mới giúp vua Thang đánh vua Kiệt, an dân. Cavour của nước Ý cũng cày ruộng đọc sách, âm thầm nghiên cứu lẽ xưa nay hơn mười năm, sau mới làm nên sự nghiệp thống nhất nước Ý.
Một phụ chú khác của ông bàn về thời Đại Quá: lời Thoán có câu to lớn rồi vậy, thời Đại Quá. Tức như đi qua đời quân chủ mà đổi ra dân chủ như cuộc Đại cách mạng Pháp; hoặc giữa nước theo đạo Bà la môn mà lập riêng đạo Phật như đức Thích Ca. Thấy đó đều là công việc đại quá, mà cũng chỉ bậc tài đại quá mới làm nên. Nhưng cũng phải đúng thời tiết: nếu có tài đại quá mà chưa gặp thời đại quá thì tất nhiên cũng không làm xong. Chỉ khi gặp thời Đại Quá, người có tài Đại Quá mới làm nên những việc Đại Quá.
Còn một phụ chú nữa về lời Tượng, nói rằng bậc quân tử thời Đại Quá một mình đứng riêng độc lập với thiên hạ cũng không sợ, dù có phải trốn đời cũng không phiền muộn. Cùng là một hạng quân tử mà thủ đoạn có khác nhau. Việc gì đáng làm, dù cả thiên hạ không ai làm mà mình cứ làm, xông vào nguy hiểm chẳng kinh, mắc lấy lời dèm chê mãi chẳng quản, đó là cách độc lập mà không sợ. Việc gì không đáng làm, dù cả thiên hạ đều làm mà mình không chịu làm, đã trái mặt với thế gian thì thôi bỏ cuộc đời mà giữ thân được tự do tự tại, đó là cách trốn đời mà không phiền muộn. Lời Mạnh Tử rằng uy vũ chẳng khuất phục được, bần tiện chẳng đổi dời được, chính hợp với lời Tượng này.
Về dự báo, quẻ Đại Quá chỉ thời vận khó khăn, nhiều tầng lớp trung gian cản trở, mọi việc khó thành. Trong xã hội, nhiều việc trọng đại rơi vào tay những kẻ bất tài, tài nhỏ chí to, kế hoạch không sát thực tế nên gây đổ vỡ, như chiếc cột chống nhà không vững. Tài vận kém, kinh doanh kém phát đạt; thi cử khó khăn; xuất hành bất lợi, bệnh tật tưởng nhẹ hóa nặng; tình yêu lắt léo, lắm kẻ trung gian dèm pha; hôn nhân không thuận, khó có kết quả.
Hào sơ lục: lót cỏ mao trắng, cẩn trọng đến mức không lỗi
Hào âm. Hào từ nói lót dưới bằng cỏ mao trắng, không có lỗi, tỏ ý rất cẩn thận.
Tạ dụng bạch mao, vô cữu.
Cung kính và cẩn thận thì ít sai lầm. Người Trung Hoa xưa lót cỏ mao trắng trên nền đất để đặt đồ cúng. Hào có lợi cho những người tính tình cẩn thận, khiêm nhường. Toán Hà Lạc nói kính cẩn, thận trọng để khỏi lầm lỗi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, địa vị rất thấp, muốn làm việc lớn vì ở thời Đại Quá mà không nổi, thì xử sự cẩn thận, kính cẩn sẽ không có lỗi. Khổng Tử từng giảng về hào này: nếu đặt đồ xuống đất thì cũng đã được rồi, mà còn dùng cỏ mao trắng lót cho nó, thì còn sợ gì đổ vỡ nữa. Kính cẩn đến mức rất mực là như thế.
Người mệnh hợp cách thanh cao, liêm khiết, được tín dùng, hưởng phúc lâu bền; đó là hạng người thanh cao, ẩn dật, không màng danh lợi. Người mệnh không hợp cách thì tính ưa hư vô, ẩn nơi rừng núi, đủ dùng không tham nên không mất mát gì; cũng là người có nhân cách tốt, sống thanh bạch.
Về vận hạn: quan chức cẩn thận giữ gìn thì lộc vị bền; kẻ sĩ cẩn mật, siêng đức nghiệp; người thường kiệm ước đủ dùng, nhưng phòng có tang.
Hào cửu nhị: cây dương khô nảy rễ, chồng già được vợ trẻ
Hào dương. Hào từ nói cây dương khô đâm rễ mới, ông già được vợ trẻ, không gì là không lợi.
Khô dương sinh đề, lão phu đắc kỳ nữ thê, vô bất lợi.
Đó là người gặp may lúc tuổi già, như già trẻ kết hợp; phúc lộc đến muộn, vận hay phải chờ. Toán Hà Lạc nói dương được âm giúp.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương nhưng ở ngôi vị âm, vậy là cương mà có chút nhu, lại đắc trung. Nó thân cận với hào một âm, thế là cương nhu giúp nhau, bớt cứng đi, như cây dương khô mà đâm rễ mới, rồi cành lá sẽ tươi tốt. Có thể ví với người già cưới được vợ trẻ. Theo Phan Bội Châu, lời Tượng nói về hào này có một chữ quá, là vì hào hai quá cương, làm thân với hào một âm còn non, như chồng già mà vợ quá trẻ, thân nhau một cách quá mức. Chữ quá ở đây có nghĩa là khác thường.
Người mệnh hợp cách cứu nguy dẹp loạn, lập công lớn; đến lúc về già còn lập công giúp nước yên dân. Người mệnh không hợp cách thì trước tân khổ, tuổi muộn mới vinh thăng, hoặc vợ muộn, con muộn; đó là người hậu vận tốt, số muộn, về già mới nhiều phúc lộc.
Về vận hạn: quan chức nếu đã nghỉ việc thì được phục chức; kẻ sĩ chờ lâu thì được vời đến; người thường hoặc lấy vợ, sinh con, hoặc có con nuôi, hoặc giới thiệu được đồ đệ.
Hào cửu tam: cột cong queo, quá cứng nên gãy
Hào dương, hào xấu. Hào từ nói cột cong queo, xấu. Chỉ sự thiếu ngay thẳng, công bằng, không đủ năng lực đảm đương công việc. Toán Hà Lạc nói quá cương thì chẳng có ích gì cho việc.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào ba dương ở ngôi dương, thế là quá cương, định làm việc lớn quá sức vì đang ở thời Đại Quá, mà quá cương thì cong xuống, gãy, việc sẽ hỏng. Nên để ý: lời Thoán nói về nghĩa của cả quẻ cũng nói cột cong xuống mà vẫn khen là tốt. Còn lời hào này chỉ nói riêng nghĩa hào ba, chê là xấu, vì hào này quá cương, dù ứng với hào sáu âm nhu ở trên cũng không chịu để hào đó giúp mình.
Phan Bội Châu bàn: theo thông lệ trong Dịch, hào ba và hào sáu ứng với nhau, ba cương sáu nhu, đáng lẽ giúp nhau, cớ sao hào ba dương lại bỏ nghĩa tương ứng với hào sáu âm mà không nhắc đến? Đó chính là sự biến hóa của Kinh Dịch: ở thời Đại Quá, xu thế đã quá rồi, nay thể dụng lại ở ngôi dương, là hào ba quá cương rồi. Người đã quá thật là quá thì ai giúp được, và người ấy cũng chẳng chịu nghe ai, nên kết quả chỉ là cong xuống, xấu. Truyện của Trình Di có câu: học Dịch cần thứ nhất là biết thời thế. Thế có nặng nhẹ, thời có thay đổi.
Người mệnh hợp cách hăng hái lập công giúp đời nhưng thường bạo mạnh quá nên bị thương tổn, có khi nguy hiểm; làm việc lớn mà cứng nhắc, không công minh, dân tình không phục, phúc lộc mỏng, không bền. Người mệnh không hợp cách thì hung bạo, tự dụng, nên gặp họa hại; kẻ hung bạo, cậy mạnh hay ức hiếp người khác dễ gây tai vạ, hình án, gặp nhiều gian nan.
Về vận hạn: quan chức và kẻ sĩ phòng thiệt hại, phòng nguy; người thường phòng đổ vỡ, đau mắt, đau chân.
Hào cửu tứ: cột lớn vững chãi, chỉ cần đừng nghĩ khác
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói cây cột lớn khỏe nên tốt, nhưng nếu có ý khác, đam mê khác thì sẽ hối thẹn.
Đống long, cát, hữu tha, lận.
Toán Hà Lạc nói cương nhu đủ cả nên gánh được trọng trách, nhưng nếu thiên về phía mềm yếu thì sẽ hỏng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: cũng là hào dương nhưng ở ngôi âm, hào bốn vừa cương vừa nhu, như cái cột lớn vững chãi đỡ đòn nhà, ý nói làm được việc lớn, không lo thất bại. Tuy nhiên hào này lại ứng hợp với hào một âm, là tiểu nhân ở dưới, như vậy chắc nó quá nhu, cho nên lời hào khuyên: chớ quyến luyến quá với hào một, có ý nghĩ khác thì đáng xấu hổ.
Phan Bội Châu chú: hào bốn dương như cái cột vững, vốn hoàn hảo, nhưng hiềm vì ứng xuống hào một nên có lời hễ có ý khác thì xấu thẹn. Là vì hào một âm là tiểu nhân; ở thời Đại Quá, làm việc Đại Quá mà dính tiểu nhân vào thì việc phải hỏng. Đó là thâm ý của thánh nhân.
Người mệnh hợp cách là rường cột của đất nước, công huân lớn; chức trọng quyền cao, phúc lộc lâu bền. Người mệnh không hợp cách cũng có danh vọng, được việc lớn cho gia đình, phúc lộc dày và bền; cũng là người có công, phúc lộc dồi dào.
Về vận hạn: quan chức thường đứng đầu, giữ trọng trách; kẻ sĩ tiến thủ, thành danh; người thường hay kiến thiết, tu tạo; hay cô độc, có khi rơi vào bọn gian nịnh để rồi hổ thẹn.
Hào cửu ngũ: cây dương khô nở hoa, chẳng đáng khen cũng chẳng đáng chê
Hào dương, hào xấu. Hào từ nói cây dương khô nở hoa, bà già lấy được chồng trai tráng, không lỗi gì, cũng chẳng ai khen.
Khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kỳ sĩ phu, vô cữu vô dự.
Toán Hà Lạc nói cương nhu không đủ tài để giúp đời.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào năm dương cương, trung chính, ở ngôi chí tôn, đáng lẽ làm được việc rất lớn, nhưng ở thời Đại Quá thì quá cương. Quá cương mà lại ở gần hào trên cùng, âm ở ngôi âm, là một người quá nhu, hai bên không giúp nhau được việc gì, cũng như cây dương đã khô mà ra hoa cuối mùa, sắp tàn tạ đến nơi. Khác nào bà già mà có chồng trai tráng, chẳng mong gì sinh đẻ nữa. Hào này khác hào hai ở chỗ hào hai vừa cương vừa nhu nên tốt, ví với cây dương khô đâm rễ mới; hào năm thì quá cương, xấu, ví với cây dương khô không đâm rễ mà ra hoa, nhựa sắp kiệt rồi.
Phan Bội Châu chú: tên quẻ là Đại Quá mà lời hào lại ghét những người quá, mới biết Dịch lý quý sự đắc trung, tức có cương có nhu; vả lại công việc Đại Quá chẳng phải ai cũng làm được.
Người mệnh hợp cách cương quá, gặp kẻ không ra người, không đủ tài lập công, chỉ đủ cơm áo, chẳng vinh chẳng nhục; người quá cương hóa gàn, quyết định không đúng, khó làm nên sự nghiệp. Người mệnh không hợp cách thì hoặc vợ già, con keo kiệt, tuổi thọ mỏng, tài xoàng; là người gàn dở, hay làm việc trái khoáy, gặp vất vả, long đong.
Về vận hạn: quan chức không bền; kẻ sĩ khó tiến; người thường khó kinh doanh, đang vui hóa buồn, đường đẹp hóa xấu, trước nghịch cảnh sau mới thuận.
Hào thượng lục: lội ngập đầu mà không đáng trách
Hào âm, hào xấu. Hào từ nói lội qua nước sâu, ngập lút cả đỉnh đầu, xấu, nhưng không có lỗi.
Quá thiệp diệt đỉnh, hung, vô cữu.
Toán Hà Lạc nói tử nạn vì nước.
Nguyễn Hiến Lê giảng: bản chất hào này âm nhu, tài hèn, lại ở vào cuối thời Đại Quá, muốn làm việc lớn thì tất nguy thân, như người lội chỗ nước sâu lút đầu. Nhưng làm việc nguy hiểm đó là để cứu đời, cho nên không thể gọi là có lỗi. Hào này chỉ hạng người hy sinh thân mình để làm điều nhân, đáng phục chứ không chê được.
Người mệnh hợp cách vì việc nước lâm đại nạn, lưu danh sử sách; là người vì nước, đến lúc phải đương đầu với hiểm nguy, có thể gặp tử nạn. Người mệnh không hợp cách cũng là người xông pha nơi khó khăn, nguy hiểm, dễ gặp tai nạn.
Về vận hạn: quan chức nguy đến thân; kẻ sĩ đỗ khôi khoa; người thường bị tai nạn đến đầu, đến trán.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
