Bài tổng quan
Địa Sơn Khiêm: núi cao nép dưới đất thấp, nhún mình mà thành
Núi vốn cao hơn đất, vậy mà ở quẻ này núi chịu nằm xuống dưới đất, và chính vì thế mà mọi việc hanh thông. Người qua đò nhường kẻ khác bước lên trước, chậm hơn một chút, rồi lại là người đặt chân lên bờ sớm hơn... Vì sao cả sáu hào đều ít nhiều mang điềm lành?
Mục lục · 9 phần
- 01Khiêm là thoái nhường: núi cao chịu nằm dưới đất thấp
- 02Núi cao mà nép mình dưới đất thấp, nên hanh thông
- 03Bức tranh chung: thời vận đi dần tới chỗ bình ổn, nôn nóng sẽ hỏng việc
- 04Hào sơ lục: người quân tử khiêm nhường, sang sông lớn cũng được
- 05Hào lục nhị: tiếng thơm lừng lẫy vì đức, nhưng phải giữ chính
- 06Hào cửu tam: có công khó nhọc mà vẫn nhún nhường, quân tử giữ trọn đến cuối
- 07Hào lục tứ: không gì chẳng lợi, càng phải phát huy đức nhún
- 08Hào lục ngũ: chẳng cần giàu cũng thu phục được láng giềng, nhưng phải có chút uy
- 09Hào thượng lục: tiếng khiêm lừng lẫy, chỉ trị được người trong ấp mình
Khiêm là thoái nhường: núi cao chịu nằm dưới đất thấp
Quẻ số mười lăm là Địa Sơn Khiêm, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Chín. Khiêm nghĩa là thoái nhượng, lùi nhường một bước, nhún nhường. Trên là Khôn, là đất; dưới là Cấn, là núi.
Địa trung hữu sơn, Khiêm.
Lời Tượng nói rằng trong đất có núi là quẻ Khiêm, tức nhún nhường. Người quân tử nhìn quẻ này mà bớt chỗ nhiều, bù chỗ ít, cho vạn vật được cân bằng.
Người sinh vào tháng Chín gặp quẻ này là cách công danh phú quý.
Núi cao mà nép mình dưới đất thấp, nên hanh thông
Trên là đất, dưới là núi. Núi thì cao, đất thì thấp; núi lại chịu nằm dưới đất. Đó là cái tượng nhún nhường, khiêm hạ, vì vậy mà được hanh thông. Quẻ này chỉ có một hào dương duy nhất là hào ba, và hào ấy được dùng làm chủ của quẻ. Lời Tượng khuyên người quân tử xén bớt chỗ nhiều, bù vào chỗ ít, để cho sự vật được cân bằng.
Bức tranh chung: thời vận đi dần tới chỗ bình ổn, nôn nóng sẽ hỏng việc
Quẻ Khiêm chỉ thời vận đang tiến tới chỗ bình ổn vô sự, điều chỉnh những chỗ thái quá, sự vật tiến tới chỗ cân bằng hơn. Đây là thời cơ tốt để triển khai công việc; tuy chưa thể thành công ngay nhưng sẽ dần dần tiến tới.
Tài vận: tương lai sẽ đến, nôn nóng sẽ hỏng việc. Sự nghiệp: về sau thành đạt, muốn nhanh cũng không được. Xuất hành: thuận lợi. Kiện tụng: kéo dài, nên hòa giải thì hơn. Bệnh tật: dây dưa nhưng về sau khỏi. Thi cử: không có gì trở ngại. Tình yêu: nên lấy khiêm nhường, tôn trọng lẫn nhau thì có nhiều thuận lợi. Hôn nhân: không thể nôn nóng nhưng có thể trở thành lương duyên.
Hào sơ lục: người quân tử khiêm nhường, sang sông lớn cũng được
Hào này tốt cho sự khiêm tốn. Hào từ nói người quân tử nhún nhường rồi nhún nhường nữa, dùng cách ấy mà vượt sông lớn thì tốt. Giới chức sát dân, kẻ sĩ gần quần chúng, thương gia phát đạt. Người số xấu dễ bị kỷ luật, truất giáng; sĩ tử bị chê trách; người thường buôn gian bán lận thì bị thiệt hại. Toán Hà Lạc ghi rằng nhún nhường mới đạt được chí.
Hào này âm nhu mà lại ở dưới cùng, trong thời Khiêm, thật là hạ mình đến cùng, nên đâu gặp cảnh hiểm nguy nào cũng vượt qua được.
Phan Bội Châu chú rằng các quẻ thường nói lợi sang sông lớn, còn quẻ này lại nói dùng sang sông lớn, khác nhau ở chữ lợi và chữ dùng. Chữ lợi nghĩa là tài ấy, cảnh ấy xứng nhau. Chữ dùng nghĩa là dùng cách ấy mà làm việc ấy. Quẻ này khuyên người ta nên dùng đạo Khiêm để sang sông lớn. Ví như người qua đò sang sông, chịu nhường cho người khác lên đò trước, tuy chậm hơn người một chút, nhưng đến bờ bên kia thì mình lại bước lên bờ trước.
Người mệnh hợp cách biết lẽ khiêm cung, vượt đường nguy hiểm, trên tin dưới cậy, giữ được đất đai, tu dưỡng an nhàn. Là người khiêm nhường, được nhiều người mến, xây dựng được sự nghiệp, nhiều phúc lộc. Người mệnh không hợp cách thì lười, thoái bộ, vụng thi thố, cam tâm phận dưới; là người thô vụng, không đảm đương nổi trách nhiệm, kém phúc lộc.
Về vận hạn: quan chức giữ chức huyện, quận, gần dân; học trò chờ được triệu mời; người thường làm khách buôn, rộng bước giang hồ; số xấu thì bị thương tổn.
Hào lục nhị: tiếng thơm lừng lẫy vì đức, nhưng phải giữ chính
Hào này tốt. Hào từ nói tiếng tăm lừng lẫy vì đức khiêm, giữ chính đáng thì tốt. Biết kiên trì nhường nhịn, mọi sự gặp may. Giới chức được khen thưởng, đề bạt; sĩ tử thi đậu, được trọng dụng; người thường được tiếng tốt, kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc nhận xét danh dự lên cao mà vẫn giữ đức chính.
Hào này nhu thuận, đắc trung, đắc chính, rất tốt, nên lời hào bảo là tiếng tăm lừng lẫy vì đức Khiêm. Nhưng ngại rằng đã có tiếng tăm lừng lẫy thì dễ ham danh, rồi hóa ra quá khiêm, đến mức giả bộ nhún nhường hoặc ninh bợ. Cho nên lời hào khuyên phải giữ đức trung và chính của hào hai thì mới tốt.
Người mệnh hợp cách có tài đức, không xiểm nịnh, dễ giữ chức ngôn luận, giảng viên, thông tin. Là người kiên trì, khiêm tốn, hợp với việc giảng dạy, tuyên huấn, có tín nhiệm, được mọi người kính trọng. Người mệnh không hợp cách thì được tiến cử, cũng gặp vận may, dễ tìm công ăn việc làm, có phúc lộc.
Về vận hạn: quan chức lên cấp bậc hoặc đổi chức vụ; học trò tiến thủ, thành danh; người thường không khinh động, nhưng nắm được dịp may.
Hào cửu tam: có công khó nhọc mà vẫn nhún nhường, quân tử giữ trọn đến cuối
Hào này tốt cho mọi việc. Hào từ nói khó nhọc mà vẫn nhún nhường, người quân tử giữ được trọn vẹn nên tốt. Biết khiêm tốn, nhún mình cầu người thì kết quả tốt, nhiều phúc lộc.
Hào ba có đức dương cương, làm chủ cả quẻ, năm hào âm đều trông cậy vào. Như người có địa vị, vì ở cuối quẻ nội; có tài năng, vì là hào dương; mà khiêm tốn, vì ở trong quẻ Khiêm; không khoe công nên càng được mọi người phục, giữ được địa vị và đức độ tới cùng. Phan Bội Châu nêu hai tấm gương xứng với hào này: ở phương Đông có vua Hạ Vũ, ở phương Tây có ông Hoa Thịnh Đốn.
Người mệnh hợp cách tài đức vượt người, lập công to, phúc lộc nhiều. Người mệnh không hợp cách thì trung thực, được kính mến nơi hương thôn, có đức không khoe, làm ơn không cầu báo; cũng là người khiêm nhường, không khoe khoang về mình, được mọi người kính nể.
Về vận hạn: quan chức lên cao; học trò gặp dịp; người thường được lợi nhưng cũng hao tâm tổn sức.
Có công mà chẳng cậy tài, khiêm nhường đến thế hẳn người mến theo.
Hào lục tứ: không gì chẳng lợi, càng phải phát huy đức nhún
Hào này tốt. Hào từ nói không gì là không lợi, hãy phát huy đức khiêm. Hào tốt cho mọi việc, mọi người; chỉ không tốt cho những ai kiêu căng, hợm hĩnh. Toán Hà Lạc nói làm đến đâu được đến đấy mà vẫn nhún nhường.
Hào này nhu thuận mà đắc chính, tốt đấy. Nhưng nó đứng trên hào ba là người có công lao, lại ở gần hào năm là ngôi nguyên thủ, nên càng phải phát huy thêm đức khiêm thì mới tránh được mọi khó khăn mà không gì là không lợi.
Người mệnh hợp cách có đức tài, biết lập ngôn, nhã nhặn, không giả trá, hưởng phú quý; có đức khiêm nhường nên được lòng mọi người, nhiều phúc lộc. Người mệnh không hợp cách thì thân cận người hiền, làm gương cho hàng xóm; cũng là người khiêm tốn, có tiếng tốt trong vùng.
Về vận hạn: sĩ, nông, công, thương đều thông đạt mà vẫn nhún nhặn.
Ở đâu bè bạn cũng tôn, phát tài dưới núi, nhẹ buồm trên sông.
Hào lục ngũ: chẳng cần giàu cũng thu phục được láng giềng, nhưng phải có chút uy
Hào này bình. Hào từ nói chẳng cần giàu, tức chẳng cần thế lực, mà thu phục được láng giềng, được nhiều người theo. Nhưng phải có chút uy để chinh phục kẻ nào chưa phục mình thì mới không gì là không lợi. Hào vừa tốt vừa xấu: tốt cho nghề binh, có thời cơ lập công; kẻ sĩ dễ lập nghiệp, lập danh; quan chức thì dễ bị tai tiếng, nghị kỵ. Xấu thì dễ bị kiện cáo, bị kỷ luật, tai nạn. Toán Hà Lạc nhận xét đức Khiêm ở ngoài lớn, ngôi tôn cũng cần phải biến hóa.
Hào này âm nhu, đắc trung, ở địa vị chí tôn, nên tự nhiên thu phục được nhiều người. Nhưng nhu quá, thiếu uy thì không đúng tư cách của một vị nguyên thủ, nên lời hào khuyên nên dùng uy võ đối với kẻ nào chưa phục mình. Hào này có thể dùng uy được vì ở ngôi dương.
Người mệnh hợp cách vì khiêm nhường mà thu nhân tâm về với mình, công nào chẳng thành, nghiệp nào chẳng vững. Người khiêm tốn được lòng mọi người, biết phát huy thế lực lúc cần thiết, đúng như ý hào: đã được lòng hàng xóm thì khi cần xâm phạt cũng không hại. Người mệnh không hợp cách có thể thành công văn võ, giàu cả làng, uy phục được kẻ ngoan cố. Nhưng người bình thường thiếu khiêm tốn, khi hữu sự lại muốn phát huy uy quyền thì kết quả thành ít bại nhiều.
Về vận hạn: quan chức văn võ kiêm toàn, có quyền về quân sự; học trò đỗ đạt; người thường gặp quý nhân, lợi bội thu, nhưng phòng kiện tụng.
Khiêm nhường cảm phục bao người, gặp bè ngoan cố, dùng oai trị liền.
Hào thượng lục: tiếng khiêm lừng lẫy, chỉ trị được người trong ấp mình
Hào này bình. Hào từ nói khiêm nhường mà có tiếng, dùng vào việc hành quân thì có lợi, chinh phục được ấp nước mình thôi. Tiếng tăm lừng lẫy về đức khiêm, được nhiều người theo, có thể lợi dụng điều đó mà ra quân, nhưng cũng chỉ trị được người trong ấp của mình không chịu phục. Hào bình, như người lợi dụng đức khiêm tốn để hành động ra oai, thì cũng chỉ thành công trong việc nhỏ. Quan chức thắng thưởng trong phạm vi nhỏ, nội bộ; sĩ tử đỗ bằng thấp; kinh doanh lợi nhỏ; số xấu bị kiện cáo, hao tài tốn của. Toán Hà Lạc: ý hào khiêm nhường và dùng tài có giới hạn thôi.
Hào này thể nhu, vị nhu, lại ở cuối quẻ Khiêm nên khiêm nhu đến cùng cực, tiếng tăm lừng lẫy, nhiều người theo. Nhân đó có thể ra quân chinh phạt những kẻ không theo mình, nhưng vì tài kém nên chỉ trị được những kẻ trong ấp mình, chưa thỏa chí được.
Người mệnh hợp cách theo cổ, xử sự có đạo lý, làm bên võ thì được như ý; là người hoàn thành trách nhiệm, lập được công nhỏ, phúc lộc trung bình. Người mệnh không hợp cách có nhiều tri kỷ nhưng ít người giúp mình, quy mô nhỏ hẹp nơi gia đình thôi; là người thành công nhỏ trong phạm vi gia đình, họ tộc.
Về vận hạn: quan chức được giao quyền quân sự coi bên trong; học trò thi bằng nhỏ, danh cao dần dần; người thường có kiện tụng nhưng tự nhiên minh giải được.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
