Bài tổng quan
Thuần Ly: hai lần sáng nối nhau, sáng quá thì phải biết nhu thuận
Mặt trời nối mặt trời, ánh sáng trùng điệp soi khắp bốn phương, nhưng có người xỏ nhầm giày vì vội, có người gõ vò sành mà hát lúc xế chiều, có người nhào tới như đám cháy. Ánh sáng thì ai cũng muốn, vậy sáng đến mức nào mới không tự thiêu?
Mục lục · 8 phần
- 01Ly là nương dựa, là sáng: hai lần sáng nối nhau
- 02Lửa và nước nằm giữa trời đất
- 03Hào sơ cửu: xỏ giày lầm lộn, kính cẩn thì không lỗi
- 04Hào lục nhị: sắc vàng của sự sáng, tốt nhất quẻ
- 05Hào cửu tam: mặt trời xế bóng, gõ vò sành mà hát
- 06Hào cửu tứ: đột ngột ập tới như lửa cháy
- 07Hào lục ngũ: nước mắt như mưa mà cuối cùng tốt
- 08Hào thượng cửu: nhà vua ra quân, bẻ đầu sỏ, tha kẻ theo đuôi
Ly là nương dựa, là sáng: hai lần sáng nối nhau
Quẻ số ba mươi là Thuần Ly, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Tư. Ly nghĩa là sáng đẹp, văn minh; cũng là nương dựa, bám vào. Quẻ gồm hai quẻ Ly chồng lên nhau, trên dưới đều là lửa, là ánh sáng.
Minh lưỡng tác, Ly. Đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phương.
Lời Tượng nói hai lần sáng làm nên quẻ Ly. Bậc đại nhân nhìn quẻ này mà tiếp nối đức sáng suốt, soi ra bốn phương.
Lửa và nước nằm giữa trời đất
Nguyễn Hiến Lê giảng: Kinh Dịch mở đầu bằng hai quẻ Càn và Khôn, còn phần kinh thượng kết thúc bằng hai quẻ Khảm và Ly, vì hai lẽ. Một là ba hào thuần dương là Càn, lấy một hào của Khôn thay vào giữa Càn thì thành Ly. Hai là ba hào thuần âm là Khôn, lấy một hào của Càn thay vào giữa Khôn thì thành Khảm. Vậy Ly và Khảm là cái giữa trời và đất; công dụng tạo hóa của trời đất nhờ cả vào lửa và nước. Khảm ở chính Bắc, Ly ở chính Nam; Khảm ở giữa đêm, giờ Tý, Ly ở giữa trưa, giờ Ngọ. Khảm giữa là nét dương liền, thực, nên đức của nó là trung thực. Ly giữa là nét âm đứt, hư, rỗng, nên đức của nó là sáng, là văn minh.
Phan Bội Châu giảng: Ly có nghĩa chính là lệ thuộc, là dựa vào; lại có nghĩa phụ là rời, là lìa. Ở đây chỉ lấy nghĩa chính, Ly là nương dựa. Vạn vật không vật gì là không có chốn nương dựa. Như loài chim nương vào rừng, loài cá nương vào nước; đến loài người cũng thế: bạn hữu nương dựa nhau mà nên đức nghiệp; cha con, vợ chồng, anh em nương dựa nhau mà nên gia đình; loài người nương dựa nhau mà nên dân tộc, nên xã hội. Nhưng đã nương dựa nhau thì có hai phương diện: một là nương dựa theo lối chính, hai là nương dựa theo lối tà.
Cho nên lời quẻ nói rằng người ta tất phải có chốn nương dựa, mà cốt nhất là nương dựa cho được chính thì mới hanh thông. Lời quẻ còn một nghĩa nữa, lấy ví dụ bằng đức của con bò cái, một giống thuận, dễ bảo; nhu thuận thì mới tốt. Bởi vì là quẻ Thuần Ly, trên dưới đều sáng; sáng quá, lúc nào cũng tỏ ra hơn người thì ít người ưa. Nên phải giấu bớt cái sáng đi, trau dồi đức thuận của con bò cái thì mới được lành.
Lời Tượng nói hai lần sáng, nhằm chỉ mặt trời liên tiếp chiếu sáng; đức sáng trùng điệp, đó là tượng quẻ Ly. Nói bậc đại nhân, không nói quân tử như nhiều quẻ khác, là bởi phải có đức như thánh nhân, có ngôi vị như bậc nguyên thủ thì mới có thể chiếu sáng khắp bốn phương.
Về dự báo, quẻ chỉ vận thế khó khăn: mới nhìn tưởng sáng sủa nhưng thực tế nhiều trở ngại, không thuận lợi cho đường công danh sự nghiệp, chưa phải thời triển khai việc lớn. Dễ đề xuất những kế hoạch không thực tế, hành động dễ dẫn đến nóng nảy, hỏng việc. Tài vận khó khăn, kinh doanh trắc trở; xuất hành bất lợi; bệnh tật dễ nặng lên; thi cử có thể đạt tốt; hôn nhân không thuận, tình yêu dang dở không như ý muốn.
Hào sơ cửu: xỏ giày lầm lộn, kính cẩn thì không lỗi
Hào dương, hào bình. Hào từ nói xỏ giày lầm lộn, giữ lòng kính cẩn thì không có lỗi.
Lý thác nhiên, kính chi vô cữu.
Tốt cho những việc nhỏ. Như người cấp dưới thấy cấp trên thì sợ, bước đi rối loạn. Lợi nhỏ, thành công việc nhỏ. Toán Hà Lạc nói làm bậy phải cẩn thận.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào dương này ở thời đầu quẻ Ly là sáng, nên có tính nóng nảy, cầu tiến quá mà còn non nớt, như đứa trẻ vội vàng, dẫm bậy, xỏ nhầm giày người khác. Phải kính cẩn, thận trọng thì mới khỏi tội lỗi. Đức kính nằm ngay trong lúc vội xỏ chân vào giày, cốt để tránh điều lỗi lầm.
Người mệnh hợp cách kính cẩn, xét kỹ cơ sự, trở về điều chính thì sự nghiệp cũng thành, được người ngưỡng mộ; là người cẩn thận, kính trọng người trên, làm nên sự nghiệp. Người mệnh không hợp cách thì sửa đổi rồi cũng được ít nhiều thụ hưởng; là người hay lo sợ, dễ bị bối rối, nhưng biết cách ăn ở nên yên vui.
Về vận hạn: quan chức phòng nông nổi, bất cẩn mà bị lỗi; kẻ sĩ phòng sai ngoa, xuyên tạc; người thường vượt cái phận dành riêng cho mình, bị lôi thôi.
Hào lục nhị: sắc vàng của sự sáng, tốt nhất quẻ
Hào âm, hào tốt. Hào từ nói văn minh, được sắc vàng, đứng ở giữa, rất tốt.
Hoàng Ly, nguyên cát.
Hào hai âm hợp đạo trung chính. Quan chức có địa vị cao, công lớn; kẻ sĩ có tài đỗ đạt cao, được trọng dụng; người thường nhiều sáng kiến, kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc nói giúp sức xây nên văn minh.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm này ở quẻ Ly có đức văn minh, đắc trung, đắc chính, trên ứng với hào năm cũng văn minh, đắc trung, nên rất tốt. Vì ở giữa, văn minh, nên tượng trưng bằng sắc vàng, đẹp, là sắc ở giữa các màu sắc. Đây là hào tốt nhất trong quẻ.
Người mệnh hợp cách uyển chuyển, khiêm nhường, giúp người trên, hòa người dưới, thành nền nếp văn minh, hưởng phúc lớn, được kỳ vọng; là người có tài khai sáng, mở mang văn minh, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách cũng thành thật, nghiệp nhà hưng thịnh, hưởng phúc lớn; cũng là người chân chính giữ được cơ nghiệp, nhiều phúc lộc như người về già cao tuổi.
Về vận hạn: quan chức giữ chức vị cao ở trung ương; kẻ sĩ thi đỗ khôi khoa; người thường hưởng lợi tức.
Hào cửu tam: mặt trời xế bóng, gõ vò sành mà hát
Hào dương, hào xấu. Hào từ nói ánh sáng của mặt trời đã xế; chẳng gõ vò sành mà hát thì hẳn người già cả than thở, thế là xấu.
Nhật trắc chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại điệt chi ta, hung.
Quan chức đến kỳ hưu trí; kẻ sĩ hết thời, tham quyền thì dễ bị chỉ trích; người thường hết vui đến buồn. Phải đề phòng ốm đau, bệnh hoạn, tang ma. Toán Hà Lạc nói vận đã suy, không cứu vãn được.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào ba này ở trên cùng quẻ nội Ly, như mặt trời sắp lặn mà chưa lên đến quẻ ngoại Ly, chưa tới lúc mặt trời mọc. Lời hào tả người già như mặt trời lúc xế chiều, tính khí thất thường, không đáng vui mà vui, không đáng buồn mà buồn, gõ vào cái vò rượu mà hát. Trong lời hào, cái vò gọi là phẫu, vò đựng rượu bằng sành, ngày xưa còn dùng làm nhạc khí. Chu Hy giảng câu này là không biết yên phận mà vui vẻ, lại than thở vì già nua, thế là không biết tự xử.
Phan Bội Châu chú: Thơ Đường có câu dịch rằng hát Ngô múa Sở dở dang, mặt trời đã nửa ngậm gương non Đoài; lại có câu dịch rằng con buôn biết nước mất đâu, cách sông hát bội giấy câu hận đình. Gõ vò mà hát là như thế. Lời hào cho ta hình dung một thời tâm tình hôn ám, chẳng khác mặt trời lúc xế chiều; đức sáng đã đến lúc nhòe, chẳng còn lâu nữa.
Người mệnh hợp cách hiểu rõ lẽ thịnh suy, vơi đầy, nên an mệnh mà sống vui thì cũng không tổn hại phúc trạch; là người hiểu được thiên mệnh, sống yên vui, hưởng được phúc lộc. Người mệnh không hợp cách thì thương thân, tốn tài, hình khắc về phía vợ; là người hay than thân trách phận, làm tổn hại tâm thân và thể xác.
Về vận hạn: kẻ sĩ bị bôi xấu; người thường vui quá hóa buồn; gian nan đến nỗi bất kỳ ngày nào cũng có thể nguy đến thân.
Hào cửu tứ: đột ngột ập tới như lửa cháy
Hào dương, hào xấu. Hào từ nói đột nhiên mà tới, như thiêu đốt, như chết, như bỏ.
Đột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như.
Hào xấu, sa vào gian lao cực khổ, dễ bị hình phạt. Toán Hà Lạc nói cậy cương mạnh để làm biến cách chính trị thì chỉ chóng đi đến chỗ chết.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào bốn này dương cương, nóng nảy, bất chính, bất trung, mới từ quẻ nội đi lên, gặp hào năm âm nhu thì muốn lấn át, như một người ở đâu thình lình chạy tới, lồng lộn lên, muốn đốt người ta là hào năm. Táo bạo, vụng về như vậy thì làm sao tránh khỏi cái chết. Không ai dùng được người như thế.
Phan Bội Châu giảng: vào lúc ánh sáng trước đã tắt, ánh sáng sau sắp tới, nếu được người kế thừa tốt thì hay; nhưng hào bốn dương thì trái hẳn. Hào này tương tự như Đổng Trác thời Hán, hay Nguyễn Hữu Chỉnh thời Tây Sơn.
Người mệnh hợp cách nếu thủ cựu, an thường, trên tuân luật pháp, dưới không gây thù oán thì có thể bảo vệ được thân mình; là người an phận giữ đạo, bảo vệ được mình và cơ nghiệp khi gặp biến. Người mệnh không hợp cách không trung chính, lăng bức người trên, làm bậy, tội đến chết; là kẻ thiếu trung chính, làm càn, phạm vào hình khắc. Quan chức thì lộng quyền, bị ghét bỏ; người thường là kẻ ngỗ ngược hung bạo, cậy mạnh làm càn, bị nạn binh đao, gian nan cực khổ.
Về vận hạn: quan chức bị nghi lộng quyền; kẻ sĩ có tài nhưng tưởng lầm là mình thông suốt hết; người thường ngỗ ngược, phạm thượng, hoặc chịu binh đao, hoặc cực khổ trăm điều.
Hào lục ngũ: nước mắt như mưa mà cuối cùng tốt
Hào âm. Hào từ nói nước mắt chảy ròng ròng, lo buồn than van, rồi lại tốt.
Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát.
Hào ít phúc lộc, nhiều khó khăn gian khổ. Toán Hà Lạc nói bậc nguyên thủ phải hết đạo lo việc nước thì mới được yên.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, ở ngôi tôn, trung nhưng không chính, bị ép giữa hai hào dương, như mắc vào hoàn cảnh khó khăn, cho nên nước mắt ròng ròng. Nhưng nhờ đức văn minh của quẻ Ly, nên than thở đấy mà biết lo tính đấy, tìm cách đối phó với hoàn cảnh, cho nên rồi sẽ tốt.
Phan Bội Châu chú: chữ than thở ở hào năm và chữ than thở ở hào ba, nghĩa đen tuy giống nhau, nhưng hào ba là hạng người mê muội tâm thân mà thở than, hào năm lại là người biết thời thế, lo sợ cho trách nhiệm mà thở than.
Người mệnh hợp cách mềm dẻo, khiêm tốn, biết lo xa, nên kẻ cường bạo không chen được vào khe hở, bảo vệ được phúc trạch, an toàn; là người hết lòng vì công việc chung. Người mệnh không hợp cách thì nhu nhược, quyền vào tay người khác, hôn ám; hoặc biết vun đắp vào cái thời của bậc đại nhân thì đạt được chí một phần, trước khó sau dễ. Là người thiếu sáng suốt, gặp khó khăn bị hao tài tổn sức, kinh doanh kém phát đạt.
Về vận hạn: quan chức đang hiển đạt thì đắc chí; kẻ sĩ khó tiến thủ; người thường kinh doanh đình trệ; vận xấu khó tránh đau buồn.
Hào thượng cửu: nhà vua ra quân, bẻ đầu sỏ, tha kẻ theo đuôi
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói vua dùng việc ra quân chinh phạt; có điều tốt đẹp là bẻ gãy được tên đầu sỏ, không bắt tội đám xấu xa theo đuôi, như vậy không có lỗi.
Vương dụng xuất chinh, hữu gia, chiết thủ, hoạch phỉ kỳ xú, vô cữu.
Hào tốt, cơ hội tốt để tạo sự nghiệp; kẻ sĩ đỗ đạt, thành danh; nhà buôn kinh doanh thuận lợi. Toán Hà Lạc nói việc chinh phạt đem lại sự chính đáng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương lại ở trên cùng quẻ Ly, thế là vừa cương quyết vừa sáng suốt đến cực điểm; bậc nguyên thủ dùng tài ấy để trừ kẻ gian tà thì thành công lớn. Nhưng vì cương quá dễ hóa tàn bạo, nên lời hào khuyên dẹp loạn thì chỉ nên giết kẻ đầu sỏ, còn những kẻ đi theo thì bắt sống thôi. Như vậy sẽ không có lỗi.
Người mệnh hợp cách văn võ kiêm toàn, mở vận hội thái bình; là người có tài thao lược, giúp nước lập công. Người mệnh không hợp cách thì hoặc làm binh sĩ, khách buôn, vất vả ngược xuôi, hoặc đau đầu, mất thanh danh; kiếm sống khó khăn, cuộc đời vất vả, long đong.
Về vận hạn: quan chức đi hay ở đều nên công; kẻ sĩ tiến thủ, đứng đầu danh sách; người thường kinh doanh đắc lợi.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
