Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Địa Phong Thăng: trong lòng đất mọc cây, góp từng chút để lên cao lớn

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Địa Phong Thăng: trong lòng đất mọc cây, góp từng chút để lên cao lớn

Có người trèo thang không phải để ngồi chỗ cao, mà để dắt cả thế đạo lên theo mình. Cũng có người đã lên đến đỉnh rồi mà vẫn muốn lên nữa, và một chữ ấy đủ phân biệt bậc thánh hiền với kẻ tầm thường... Cùng một cái tâm cầu thăng, vì sao kết quả lại khác xa?


Thăng là tiến lên: trong lòng đất mọc ra cây

Quẻ số bốn mươi sáu là Địa Phong Thăng, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng tám. Thăng nghĩa là tiến, từ thấp tiến dần lên cao. Trên là Khôn, là đất; dưới là Tốn, vừa là gió vừa là cây, ở đây hiểu là cây. Cây mọc dưới đất, mỗi ngày mỗi nhô lên cao, nên gọi là Thăng.

Địa trung sinh mộc, Thăng. Quân tử dĩ thuận đức, tích tiểu dĩ cao đại.

Lời Tượng nói trong đất sinh ra cây là quẻ Thăng. Người quân tử nhìn đó mà thuận theo, chịu tu đức, góp từng cái nhỏ để thành cái cao lớn.

Người sinh vào tháng tám gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng tiến bước về hướng Đông Nam thì tốt, trời xanh, ngày lại dài, mệnh tươi, tai họa sạch, danh lợi được cả hai bề.

Cây nhô khỏi đất: cương nhu ứng nhau thì lên không vướng

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói lên thì có gốc, hanh thông; phải dùng người tài đức, tức bậc đại nhân, thì không có gì lo ngại, cứ tiến về phía trước thì tốt. Chữ Tốn là gió mà cũng là cây, ở đây hiểu là cây. Cây mọc dưới đất, mỗi ngày đâm lên cao, cho nên gọi là quẻ Thăng.

Cũng có thể hiểu: Khôn vốn là âm nhu mà tiến lên quẻ ngoại, vì ở thời tiến lên thì nên như vậy; còn bình thường thì dương mới thăng, âm thì giáng. Tốn có tính nhún, Khôn có tính thuận; lại thêm hào năm âm có đức nhu và trung, ứng với hào hai có đức dương cương, cho nên rất hanh thông. Phải dùng người có tài đức, tức hào hai, thì mới không có gì lo ngại. Chữ Hán trong lời Thoán có chữ nam chinh, nghĩa là tiến về phía trước mặt, không có nghĩa là tiến về phía Nam. Lời Tượng khuyên người gặp quẻ này nên thuận đạo mà sửa đức, mỗi ngày một chút, lần lần sẽ rất cao.

Phan Bội Châu phụ chú: lời Thoán có hai chữ nguyên hanh, có gốc, hanh thông, mà không có thêm hai chữ lợi trinh như quẻ Càn. Nhưng như thế cũng chỉ có ba quẻ là có hai chữ ấy: ba quẻ Đại Hữu, Đỉnh, Thăng, được gọi là đắc thời hành đạo, tức được thời để thực hành đạo. Thăng là quân tử tiến lên hành đạo không trở ngại; Đỉnh là quân tử được lộc trời; Đại Hữu là quân tử có cánh lớn. Đặc điểm chung của ba quẻ ấy là đều có hào dương ở vị hai, hào âm ở vị năm, cho biết rằng trong cương có nhu, trong nhu có cương, và đều đắc trung. Cương nhu đắc trung mà ứng với nhau tạo thành thời thế như ba quẻ ấy, thiên thời nhân sự gặp nhau mà lên, há phải lời nói không hay sao.

Về lời Tượng, ông cho rằng chữ hay nhất là chữ góp. Muốn thăng mà không tích góp thì không bao giờ thăng được. Góp là chồng chứa lại, ví như trèo thang tất bắt đầu từ bậc dưới cùng, xây tháp tất bắt đầu từ nền dưới hết. Đất có một hòn mà muốn xây nên mười tầng tháp thì thật vô lý. Xưa Lưu Huyền Đức có nói rằng chớ khinh điều thiện nhỏ mà không làm.

Hào sơ lục: tin nhau mà được dắt lên, tốt lớn

Hào âm, hào tốt. Thuận tình đi lên, tốt lớn lắm.

Doãn thăng, đại cát.

Về ứng nghiệm: quan chức dễ thăng tiến, được đề bạt lên cao; kẻ sĩ gặp thời, đậu cao, được sử dụng, tiến nhanh; người thường kinh doanh đắc lợi. Hà Lạc nói có người giúp sức để tiến, lại rất may, được lời của bậc nguyên thủ nên thực hiện được đường lối.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, ở dưới cùng, làm chủ quẻ Tốn, có đức khiêm tốn, nhu thuận, theo sau hai hào dương là hào hai và hào ba mà nhờ hai hào đó dắt lên, rất tốt. Chữ doãn nghĩa là tin: hào một tin hào hai và hào ba, mà hai hào ấy cũng tin hào một. Lời Tiểu tượng gọi như vậy là hợp chí nhau.

Người mệnh hợp cách có đức khiêm nhường, cung kính, lại được người đề bạt, trở thành rường cột quốc gia. Người mệnh không hợp cách cũng hiểu nhân tình, được nhiều người giúp sức, toại ý, nghiệp nhà hưng vượng.

Về vận hạn: quan chức vượt lên cao; giới sĩ được tiến cử; người thường kinh doanh xứng ý. Câu thơ của hào nói tiến trình chưa thấy vẻ vang, giai nhân lục hợp thu sang tiếng lừng.

Hào cửu nhị: lòng thành thì lễ mọn cũng đủ cảm người trên

Hào dương, hào tốt. Có lòng chí thành thì dù chỉ dùng lễ thược rất đơn sơ mà vẫn cảm được thần, tức hào năm, không lỗi gì. Dễ thăng tiến, nhiều vận may để hoàn thành sự nghiệp.

Phu nãi lợi dụng thược, vô cữu.

Hà Lạc nói thành thực đối với người trên, nhất là trong việc tế lễ.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương mà ở dưới, hào năm âm nhu mà ở vị cao, hai bên khác nhau như vậy mà ứng với nhau, là rất tin nhau, cảm nhau bằng lòng chí thành, hợp tác với nhau làm nên sự nghiệp ở thời Thăng. Đã có lòng chí thành thì lễ vật rất đơn sơ cũng được, không có lỗi.

Người mệnh hợp cách tài đức lớn, trên mến dưới kính, công nghiệp hiển hách. Người mệnh không hợp cách cũng thành tâm kết giao, thanh danh đức nghiệp đều tốt.

Về vận hạn: quan chức được thăng hoặc trông coi việc tế lễ; giới sĩ nên danh; người thường có vui mừng, bệnh khỏi, việc thành, vận xấu có thể được tăng tế. Câu thơ của hào nói việc gì thành kính cũng xuôi, tai qua nạn khỏi, mừng vài đến liền.

Hào cửu tam: lên dễ như bước vào một ấp vắng người

Hào dương, hào tốt. Lên dễ dàng như đi vào cái ấp bỏ trống, không ai ngăn cản.

Thăng hư ấp.

Hà Lạc nói tiến dễ dàng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đắc chính, có tài, ở trên cùng quẻ nội Tốn, có đức thuận theo ba hào âm ở trên, được ba hào này dắt lên một cách dễ dàng, như vào một cái ấp không có ai ngăn cản, không có gì ngại cả.

Người mệnh hợp cách đường nam chinh dễ như chẻ tre, phá ngói; lớn thì giữ đường lối, nhỏ thì ăn lộc ấp quận. Người mệnh không hợp cách toại ý, không trở ngại, gia nghiệp vượng, hoặc tu đạo thanh khiết.

Về vận hạn: quan chức thăng lên quận lớn, quận ngày xưa to hơn tỉnh bây giờ; giới sĩ thành danh; người thường doanh mưu toại ý. Số xấu thì biến thành điềm xe chở thây về. Câu thơ của hào nói ngồi bế tắc thì cứ đi về hướng chính nam, ngựa phi lại có người giúp thì đường đi nhẹ như chơi.

Hào lục tứ: vua dâng lễ ở núi Kỳ, thuận trên nhường dưới

Hào âm, hào tốt. Vua dùng lễ dâng lên Đế, tức hào năm, ở núi Kỳ Sơn thì tốt, không lỗi gì. Hào âm nhu thuận đắc chính, dễ thăng tiến.

Vương dụng hanh vu Kỳ sơn, cát, vô cữu.

Hà Lạc nói lòng thành dâng lễ lên thần thì được hưởng phúc.

Phan Bội Châu giảng: lời hào này vẫn rất tốt, đáng có chữ lên như mọi hào, vậy sao lại không có chữ lên? Bởi vì hào bốn sắp gần hào năm, hào năm là địa vị rất tôn; nếu nơi hào bốn mà còn có chữ lên thì lên vào đâu, tất là đánh đổ hào năm. Nên lời hào không có chữ lên, cốt cho khỏi cái họa bức người trên. Dịch lý thường ở chỗ không chữ; xem như lời hào không có chữ lên, người học Dịch nên để ý vào chỗ ấy.

Người mệnh hợp cách chí thành, việc dương thì cảm được bậc nguyên thủ, việc âm thì cảm được thần linh, công to, danh hiền. Người mệnh không hợp cách cũng thành thực, được lòng người, việc trôi chảy, gia nghiệp vượng.

Về vận hạn: quan chức lên cao; giới sĩ được mời như quý khách thành danh; người thường được lợi sơn lâm, hoặc ăn vui non nước; tăng đạo hưởng lộc tế lễ; số xấu thì có điềm về việc phần mộ. Câu thơ của hào nói thuận trên nhường dưới, bao dung; việc làm không tiện, hết mừng lại vui.

Hào lục ngũ: giữ chính thì như bước lên thềm

Hào âm, hào tốt. Giữ được chính thì tốt, như bước lên thềm, dễ dàng lắm. Quan chức dễ dàng thăng tiến, sĩ tử thành danh, người thường kinh doanh phát đạt.

Trinh cát, thăng giai.

Hà Lạc nói bậc nguyên thủ mà giữ chính để gần dân thì là thuận trị rồi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này tuy âm nhu nhưng đắc trung, ở dưới có hào hai là hiền thần giúp, nên dễ dàng đắc chí, lên thềm cao một cách dễ dàng, gây dựng được sự nghiệp.

Phan Bội Châu phụ chú: xưa nay quân tử ở vào thời Thăng, với mục đích Thăng, đâu phải muốn lên ngồi chỗ cao. Dắt thế đạo lên đến tháp đại đồng, đưa nhân loại tới vòng cực lạc, đây mới là mục đích Thăng của quân tử. Lời Thoán và lời Tượng về quẻ Thăng gọi đó là chí lớn. Nói cho đúng, chí tại thiên hạ chứ không phải chí tại thân, nhà, nên nói rằng đắc chí lớn. Nếu chí tại thân, nhà thì thấp hèn, nhỏ mọn lắm, làm sao gọi bằng lớn được.

Người mệnh hợp cách tuổi trẻ đỗ đạt, lập công danh, chí lớn, phúc dày. Người mệnh không hợp cách cũng giữ đạo, lập thân, biết tiến thủ, nghề nghiệp biết đổi mới.

Về vận hạn: quan chức thăng trật; giới sĩ được tiến cử; người thường doanh mưu toại ý. Câu thơ của hào nói ngồi cao, nhu thuận thắng cương, sau vườn xuân tốt, trước đường mưa tươi.

Hào thượng lục: lên đến cùng rồi mà còn muốn lên nữa

Hào âm, hào xấu. Mờ tối mà vẫn muốn lên; lợi ở chỗ giữ chính không ngừng. Dễ bị tai tiếng xấu, lời thị phi, kiện tụng; lợi cho sự rút lui, tu đức, sửa mình. Cầu lên nữa là mờ ám, vì đã lên đến cùng rồi, chỉ còn lợi ở chỗ giữ chính không ngừng.

Minh thăng, lợi vu bất tức chi trinh.

Hà Lạc nói chỉ biết lên mà không biết dừng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, hôn ám, ở cuối thời Thăng, đã lên đến cùng cực rồi mà còn muốn lên nữa. Nếu đổi lòng tham, lên đến lòng tự cường, sửa đức cho hợp đạo chính không bao giờ nghỉ thì lại tốt. Năm hào dưới đều tốt, chỉ có hào trên cùng là xấu vì quá tham, cứ muốn tiến lên hoài về danh lợi, địa vị.

Phan Bội Châu phụ chú: Thăng đã đến cực rồi mà còn cầu thăng, lấy tâm lý ấy mà xử thế thì không hay tí nào. Nhưng hướng về việc tu đức thì lại rất hay. Về địa vị mà cầu thăng không thôi thì là tiểu nhân cực điểm; về đạo đức mà cầu thăng không thôi thì là quân tử cực điểm. Cũng từ một cái tâm như thế mà hành động, mà thánh hiền và người tầm thường khác nhau xa. Xem lời hào thấy rõ ý nghĩa đến như thế, mới biết nghĩa của Dịch chẳng bao giờ tuyệt đối xấu, chỉ cốt người đọc biết biến thông mà thôi.

Người mệnh hợp cách là người ngay thẳng, tu đức tu nghiệp, có thanh danh. Người mệnh không hợp cách tham lợi, khổ sở tai ương, nhục nhã.

Về vận hạn: quan chức nên cáo hưu; giới sĩ nên tu tỉnh; người thường tham quá mắc họa; số xấu thì có điều phi pháp ám muội. Câu thơ của hào nói mặt trời sáng không bóng mây, lòng lo ngay ngáy, lâu ngày hết nguy.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc