Bài tổng quan
Thiên Lôi Vô Vọng: sấm chạy dưới trời, không cày mà vẫn có gặt
Sấm chạy dưới trời, mầm non cựa mình theo đúng tính của nó, chẳng ai ép buộc. Có người không cày mà vẫn gặt, có người bị vạ lây vì con trâu buộc ven đường, có người ốm mà chẳng cần thuốc... Vậy thế nào mới đáng gọi là sống không càn bậy?
Mục lục · 8 phần
- 01Vô vọng là không càn bậy: sấm chạy dưới trời
- 02Không cầu mà có: hợp với đạo trời thì hanh thông
- 03Hào sơ cửu: để tự nhiên mà đi, mọi việc thuận lợi
- 04Hào lục nhị: không cày mà gặt, không khai mà thành ruộng
- 05Hào lục tam: tai vạ tự nhiên, trâu buộc người đi đường dắt mất
- 06Hào cửu tứ: giữ bền chính đáng thì không lỗi
- 07Hào cửu ngũ: bệnh tự nhiên, không cần thuốc cũng khỏi
- 08Hào thượng cửu: đã đến lúc dừng, hành động thì mắc vạ
Vô vọng là không càn bậy: sấm chạy dưới trời
Quẻ số hai mươi lăm là Thiên Lôi Vô Vọng, thuộc hàng quẻ bình, tiết khí tháng Hai. Vô vọng nghĩa là không có dục vọng, không càn bậy, cứ để mọi việc theo lẽ tự nhiên. Trên là Càn, là trời; dưới là Chấn, là sấm.
Thiên hạ lôi hành, vật dữ vô vọng. Tiên vương dĩ mậu đối thời, dục vạn vật.
Lời Tượng nói dưới trời có sấm động, muôn vật đều được giữ nguyên bản tính, đó là quẻ Vô Vọng. Bậc tiên vương nhìn quẻ này mà đem sức thịnh vượng theo từng thời tiết để nuôi dưỡng muôn loài. Toán Hà Lạc cho biết người sinh vào tháng Hai thì là cách công danh phú quý.
Không cầu mà có: hợp với đạo trời thì hanh thông
Lời Thoán nói rằng không càn bậy thì rất hanh thông, hợp với chính đạo thì rất lợi. Cái gì không hợp với chính đạo, tức không hợp lẽ trời, thì có hối, có lỗi, cứ theo đó mà hành động thì không lợi. Tượng quẻ này, quẻ nội là Chấn nghĩa là động, quẻ ngoại là Càn là trời. Nghĩa quẻ là hành động hợp với lẽ trời, không càn bậy.
Trình Di giảng: sấm chạy dưới trời, âm dương giao hòa, sâu non đang náu thì giật mình, mầm non vừa nhú thì cựa động, muôn vật đều phát sinh, vật nào nhắm đúng tính mệnh của vật ấy, không có chỗ sai càn; ấy là các vật được ban cho tính không càn bậy.
Phan Bội Châu nói rõ thêm: coi quẻ này, việc gì thuộc chính đạo, chính lý thì cứ làm, không trông vào cái kỳ vọng của bản thân, không vì danh dự mà làm, không vì lý chung mà làm; hễ căn cứ vào kỳ vọng mà làm thì chưa phải là vô vọng. Phải không căn cứ vào ý chí, nguyện vọng của bản thân, cứ để sự vật diễn tiến theo lẽ tự nhiên của trời đất thì mới thật là vô vọng.
Hào sơ cửu: để tự nhiên mà đi, mọi việc thuận lợi
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói không càn bậy mà tiến thì tốt.
Mọi sự thuận lợi. Quan chức dễ thăng tiến; kẻ sĩ gặp thời, thành danh; người thường kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc nói lấy lòng thành mà tác động thì việc gì lại chẳng được, bởi lòng thành chính là lẽ tự nhiên của trời đất.
Phan Bội Châu giảng: hào này có đức dương cương, làm chủ quẻ nội, chính là người chí thành, trong lòng hồn nhiên mà theo lẽ trời, không càn bậy, không dục vọng mà đi lên, mà hành động, thì không chốn nào không lợi. Động mà hợp đạo trời, có đức chí thành vô vọng như thế thì tu thân, thân ắt chính; xử sự, việc ắt thuận; cảm hóa người, người ắt phục. Đi đâu mà chẳng thỏa chí mình.
Người mệnh hợp cách phát triển mạnh chí hướng, là nhân vật quan trọng của nước, hưởng phúc lộc, vinh hiển. Người mệnh không hợp cách cũng là người tốt, thành thực, không vọng động, sống yên ổn.
Về vận hạn: quan chức được trên yêu dưới kính; kẻ sĩ tiến thủ, thành danh; người thường hoạch lợi.
Hào lục nhị: không cày mà gặt, không khai mà thành ruộng
Hào âm, hào tốt. Hào từ nói chẳng cày mà gặt, chẳng khai khẩn mà đã thành ruộng thuộc, cứ tiến hành thì có lợi.
Bất canh hoạch, bất tri du, tắc lợi hữu du vãng.
Thời vận thuận lợi, nhiều cơ may, phúc lộc tự nhiên đến. Người chăm chỉ dễ thăng tiến; kẻ sĩ chăm chỉ thì thi đỗ dễ dàng, được trọng dụng; người thường cần mẫn sẽ có nhiều phúc, cuộc sống an nhàn; còn lười nhác thì phúc lộc ít. Toán Hà Lạc nói công đức tự trong lòng, việc làm có ích lợi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: Chu Công, người đặt lời hào, muốn bảo rằng việc chính đáng phải làm thì làm, mà không nghĩ đến cái lợi, có lợi hay không rồi mới làm, không chỉ trông mong vào kết quả; như vậy mới tốt. Hào hai là âm, vừa trung vừa chính, ứng với hào năm dương cũng trung chính. Nó vốn là âm nên có đức thuận, ở trong quẻ nội Chấn là động, như một người tốt hành động hợp với trung, chính, nên lời hào bảo tiến thì có lợi.
Phan Bội Châu chỉ rõ thêm: thánh nhân lấy công việc nhà nông làm ví dụ để nói tâm lý người ở thời vô vọng: chẳng vì lúc cày mà nghĩ đến lúc gặt, chẳng vì lúc khai phá mà nghĩ đến lúc ruộng đã thuộc; hễ nghĩa lý đáng làm là làm, không tính công mưu lợi. Thế là vô vọng. Đã vô vọng thì phúc, lợi tự nhiên đến.
Người mệnh hợp cách vừa ngay thẳng vừa hiếu thuận, chẳng tính công mà công đến, phú quý tự nhiên, bình sinh yên lành. Người mệnh không hợp cách thì chí hướng không định, hay du đãng, sinh kiêu, làm ăn khó khăn.
Về vận hạn: quan chức được tiến tới; kẻ sĩ đỗ trung khoa; người thường chỉ được những cái lợi lặt vặt. Không phải lao tâm lao lực mà nên giàu sang; ra ngoài buôn bán thì hoạch lợi.
Hào lục tam: tai vạ tự nhiên, trâu buộc người đi đường dắt mất
Hào âm, hào xấu. Hào từ nói tai vạ không do mình gây ra: có người buộc con trâu, kẻ đi đường dắt đi, người ở xóm ấy phải chịu vạ lây.
Vô vọng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.
Đó là thời vận xấu, người hiền cũng bị vạ lây. Quan chức chỉ lo bóc lột dân; kẻ sĩ khó tiến thủ; người thường bị nhũng nhiễu, tai bay vạ gió bất thường. Toán Hà Lạc nói không gây ra vạ mà vạ tự nhiên đến.
Nguyễn Hiến Lê giảng: cả sáu hào trong quẻ này đều là vô vọng, không càn bậy, nhưng hào này khác một chút ở chỗ bất trung, bất chính nên bị tai vạ. Song cái vạ ấy là vạ vô cớ mà mắc phải.
Người mệnh hợp cách đức đủ để tránh được tai vạ, hưởng phú quý phúc trạch. Người mệnh không hợp cách thì chạy chọt, quanh co, thường mắc vạ.
Về vận hạn: quan chức thì lợi cho quân, hại cho dân ấp; kẻ sĩ khó tiến thủ; nhà nông thêm súc vật, của cải, người đi buôn thêm lợi; người thường có việc không biết từ đâu đến làm tổn tài thiệt thân.
Hào cửu tứ: giữ bền chính đáng thì không lỗi
Hào dương, hào bình. Hào từ nói có thể giữ bền chính đáng thì không lỗi.
Khả trinh, vô cữu.
Nên giữ yên chức vụ cũ, cơ nghiệp cũ. Kẻ hão huyền thì hay gặp không may, sa cơ lỡ bước, chuốc hại vào thân. Toán Hà Lạc nói giữ vững tư cách của mình thì ít lầm lỗi.
Phan Bội Châu giảng: chữ trinh trong lời hào có hai nghĩa là chính đáng và bền; ở đây chỉ có nghĩa là bền. Hào bốn là dương, không ứng hợp với hào nào cả, vì hào một cũng là dương cương như nó; quả là người đứng riêng, vô tư, thực là người vô vọng vậy. Nên giữ bền tư cách ấy thì tự nhiên không có lỗi.
Người mệnh hợp cách là bậc quân tử một mình giữ được điều thiện, phúc trạch rộng lớn. Người mệnh không hợp cách thì bình sinh thong thả, sống sung túc.
Về vận hạn: quan chức và kẻ sĩ giữ chức vụ cũ; người thường giữ nghiệp cũ, thực tế, đừng hão huyền.
Hào cửu ngũ: bệnh tự nhiên, không cần thuốc cũng khỏi
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói đang vô vọng mà bị bệnh, đừng dùng thuốc cũng có thể mừng.
Vô vọng chi tật, vật dược, hữu hỷ.
Mọi việc tốt lành. Có cái vạ không phải do mình gây ra, không cần thanh minh, chạy chọt, tự nhiên sẽ sáng tỏ, như người bị bệnh nhẹ không dùng thuốc cũng khỏi. Toán Hà Lạc nói trên dưới hòa hợp, việc ngoài muốn có xảy chuyện gì cũng êm ngay.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở địa vị cao, trung chính, lại ứng với hào hai cũng trung chính, vậy là rất tốt. Chẳng may bị bệnh, nghĩa bóng là gặp tai họa, thì đừng uống thuốc, nghĩa bóng là đừng chạy chọt gì cả, cứ thản nhiên thì tai qua nạn khỏi.
Phan Bội Châu chú: như vua Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý, như đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái, chỉ cần vô vọng mà qua tai nạn, đâu cần dùng thuốc. Nguyễn Hiến Lê lấy ví dụ: Khổng Tử bị giam ở đất Khuông, không ai cần can thiệp, sau được thả ra, vì người Khuông nhận lầm ông với Dương Hổ, một người mà họ ghét.
Người mệnh hợp cách có tài đức, cứu nguy, giúp nước, ích nhà, làm tiêu biểu cho đời sau. Người mệnh không hợp cách cũng có phúc, tai nạn qua khỏi, có điều mừng đến.
Về vận hạn: quan chức được tiến tới, dù có sự bất ngờ chẳng tốt thì tự nhiên cũng sáng tỏ; người thường bệnh không thuốc cũng khỏi, việc thành, sinh nở tốt lành.
Hào thượng cửu: đã đến lúc dừng, hành động thì mắc vạ
Hào dương, hào xấu. Hào từ nói đang vô vọng mà hành động thì có tai vạ, không lợi gì cả.
Vô vọng, hành hữu sảnh, vô du lợi.
Cứ theo lẽ tự nhiên mà làm cũng có khi bị tai vạ. Quan chức bị khiển trách, truất giáng; kẻ sĩ không được tin dùng; người thường không gặp vận, kinh doanh khó khăn, dễ gặp tai nạn. Toán Hà Lạc nói tin chắc quá thì rồi hết cả tin.
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời hào khuyên không nên hành động, mặc dù vẫn là tự nhiên, vô vọng; chỉ vì hào này đã tới cuối cùng của quẻ, nên chỉ nên yên lặng chờ thời.
Phan Bội Châu chú: toàn quẻ Vô vọng nói về thời vô vọng, nhưng mỗi hào lại có thời riêng của mình. Hào một và hào hai vì sao hành động thì tốt? Vì thời ấy nên động mà động, thì động là vô vọng, là tự nhiên, không càn bậy, nên tốt. Hào bốn sở dĩ giữ bền được, hào năm sở dĩ không cần thuốc, là vì thời ấy nên tĩnh mà tĩnh, thì tĩnh là vô vọng. Đến như hào sáu mà hành động thì mắc họa, là vì thời nên tĩnh mà lại động, thì động ấy là vọng, là càn bậy. Tóm lại, ở một thời chung là vô vọng mà tốt xấu, hay dở lại khác nhau, vì còn tùy cái thời riêng của từng người.
Hiểu được lẽ ấy thì ở đời phải có bộ óc xét thời, lại phải có cặp mắt xem thời: một phương diện soi thấu thời đại chung của một đời, một phương diện cân lường thời đại riêng của mình. Làm sao cho hai phương diện đó điều hòa thích hợp được, ấy mới là thức thời, mà cũng là biết học Dịch. Người khéo học Dịch quý nhất là biết chữ thời; đó là lời của Hồ Vân Phong, một bậc tiên nho.
Người mệnh hợp cách chỉ giữ chứ không biến thì mới phòng được nguy, giữ được phúc trạch. Người mệnh không hợp cách thì chí lớn mà mưu vụng, nên tất tả ngược xuôi, cô độc, tai vạ đến.
Về vận hạn: quan chức không theo đúng đường lối chính trị nên bị truất giáng hay phải trốn tránh trách nhiệm; kẻ sĩ không đạt lý; người thường không hiểu việc, không biết gió chiều nào che chiều ấy; số xấu thì có thể nguy tới thân. Vọng động chỉ cho mệt, giữ yên thì thân mới an.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
