Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Lôi Trạch Quy Muội: nàng công chúa mặc áo thường và chiếc giỏ trống

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Lôi Trạch Quy Muội: nàng công chúa mặc áo thường và chiếc giỏ trống

Nàng công chúa em vua gả cho người bình dân, áo cưới chẳng đẹp bằng áo cô phù dâu, vậy mà được ví như trăng mười bốn. Ở đầu kia, cô gái xách giỏ cúng mà bên trong chẳng có gì, chàng trai cắt cừu mà không ra giọt máu. Cùng một việc gả cưới, vì sao có người rạng rỡ, có người trắng tay?


Quy muội là gả em gái: sấm động trên đầm, vui mà đi sai bước

Quẻ số năm mươi bốn là Lôi Trạch Quy Muội, thuộc hàng quẻ xấu, ứng với tháng bảy. Quy muội là gả em gái về nhà chồng. Quẻ này chỉ việc không chính thức, không cân xứng, xử sự đại khái, đi không đúng cách, về sau dễ có chuyện hối, cần phải xét kỹ.

Trạch thượng hữu lôi, Quy muội. Quân tử dĩ vĩnh chung tri tệ.

Lời Tượng nói trên đầm có sấm là quẻ Quy muội, tức gả em gái. Người quân tử nhìn đó mà nghĩ cho kỹ đến mãi về sau, để biết cái tệ hại sẽ xảy ra.

Người sinh vào tháng bảy gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng bên mé nước thơm lừng, một đóa mận đào đợi chờ gió xuân.

Trai lớn gái nhỏ phối nhau: nghĩa lớn trời đất mà thành chuyện chẳng chính đáng

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói gả em gái về nhà chồng, đi thì xấu, không có gì lợi cả. Quẻ trong là Đoài, nghĩa là con gái nhỏ; quẻ ngoài là Chấn, nghĩa là con trai lớn. Chấn còn có nghĩa là động, Đoài có nghĩa là vui vẻ, thuận theo. Con gái nhỏ về với trưởng nam, cho nên gọi là Quy muội.

Trai gái phối hợp với nhau vốn là cái nghĩa lớn của trời đất, vì có vợ chồng rồi mới có gia đình, xã hội. Vậy sao lời Thoán lại bảo là xấu? Vì cặp trai gái này không xứng nhau: trai lớn quá, tức trưởng nam; gái nhỏ quá, tức em gái. Tình của họ cũng không chính đáng: cô gái chỉ vì vui, tức đức hòa duyệt của quẻ trong Đoài, mà tự động theo trai. Cũng có thể hiểu là gái cầu trai mà trai đã bị động theo gái, như vậy là bất chính. Sự bất chính ấy còn thấy ở bốn hào giữa quẻ: không một hào nào ở vị chính đáng.

Lại thêm hào ba và hào năm đều là âm mà cưỡi lên dương ở hào bốn và hào hai, có cái tượng vợ ăn hiếp chồng. Ngay từ buổi đầu, sự phối hợp đã không chính đáng thì biết được về sau chẳng có gì lợi, chỉ toàn tệ hại. Đó là ý của lời Đại tượng truyện.

Hào sơ cửu: người con gái phận dưới, làm thiếp mọn mà vẫn đi được

Hào dương, hào bình. Người có địa vị thấp kém như hào đầu, đức nhỏ tài mọn, an phận thì hơn. Gả em gái mà cho làm phận vợ lẽ, như người què mà vẫn đi được; cứ đi thì tốt.

Quy muội dĩ đệ, ba năng lý, chinh cát.

Hà Lạc nói có đức mà thiếu ứng viện, đành cam phận vậy.

Phan Bội Châu giảng: theo lời quẻ thì quẻ Quy muội là xấu, nhưng theo lời hào thì có hào xấu, có hào tốt, vì phải xét nghĩa theo vị trí, thời và hoàn cảnh của mỗi hào. Hào một này dương cương nhưng ở vị thấp, trên không có chính ứng vì hào bốn cũng là dương. Hào tượng người con gái vì ở quẻ Đoài, tuy có đức hiền nhưng phận thấp, hèn, nên phải dựa theo người, thuận theo người trên, như người què mà hay đi vì là dương. Nhưng xét theo bản phận hào đầu thì như thế là thuận, nên lời hào bảo là cứ đi thì tốt. Lời hào nói phận lẽ mọn là theo tục xưa; ngày nay nên hiểu là phụ thuộc vào người.

Phan Bội Châu phụ chú: chữ đi tốt đối lập với chữ đi xấu ở lời quẻ. Lời quẻ nói về người thiếu nữ hành động theo tà tâm riêng nên đi thì xấu. Còn hào đầu hành động theo thân phận, địa vị, đúng nghĩa thời của hào, nên nói đi thì tốt. Dịch lý biến hóa bất thường, theo địa vị mỗi người, mỗi thời khắc khác nhau, không thể hiểu một chiều được.

Người mệnh hợp cách có đức mà chẳng gặp thời, phận dưới không người giúp, chỉ làm được việc nhỏ. Người mệnh không hợp cách giữ phận nhỏ, bình thường, đi từ khó nhọc, hoặc có bệnh ở chân, phải ngồi.

Về vận hạn: quan chức giúp được chủ sự; giới sĩ đỗ khoa nhỏ; người thường nhờ được lợi nhỏ thôi, hoặc lấy thêm vợ lẽ, hoặc vào nhà quyền thế để giải quyết cái sống.

Hào cửu nhị: người con gái hiền, mắt chột mà vẫn giữ tiết một mình

Hào dương, hào xấu. Hào dương chỉ người con gái có đức, nhưng gặp hào đối ứng là lục ngũ, tượng kẻ tiểu nhân ở ngôi cao, nên đành giữ tiết thì hơn. Mắt chột mà vẫn nhìn được; lợi ở sự lặng lẽ giữ chính.

Diểu năng thị, lợi u nhân chi trinh.

Hà Lạc nói có đức mà không gặp bề trên biết cho.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc trung, là người con gái hiền, trinh; nhưng chính ứng với hào năm âm nhu, bất chính, tức như gặp người chồng dở, không dựng nổi cơ đồ, nên ví với người chột mắt. Cứ âm thầm giữ đức trung của mình thì tốt. Đây là hoàn cảnh của một người không gặp thời.

Người mệnh hợp cách có đủ tài đức mà không gặp người trên sáng suốt, nhưng tấm lòng thì không ai lay chuyển được. Người mệnh không hợp cách có học vấn mà không danh lợi, ở chốn rừng núi, tiền của đủ dùng, phúc trạch vững; giữ thanh tịnh, đạm bạc; phòng bệnh ở mắt.

Về vận hạn: quan chức khó thay đổi vị trí; giới sĩ khó gặp dịp may; người thường yên phận thì không hại gì, số xấu thì người âm hiểm, lại mất trong cảnh tối tăm.

Hào lục tam: đợi mãi chẳng ai rước, đành quay về làm phận thiếp

Hào âm, hào xấu. Không có người phù trợ. Gả em gái mà phải đợi, rốt cuộc phải trở về làm phận thiếp. Hào ba nhiều cảm tình mà không trung chính.

Quy muội dĩ tu, phản quy dĩ đệ.

Hà Lạc nói không có đức lại không có ứng, nên cam phận lẽ mọn.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng quẻ nội, có địa vị, đáng lẽ không phải làm vợ bé. Nhưng vì là âm nhu, bất trung bất chính, lại đa tình, tức ham vui như tính cách của quẻ trong Đoài; tính nết như thế nên kén chồng, chờ đợi mãi mà không ai chịu đến lấy, đành phải trở về làm vợ bé. Kẻ ham công danh phú quý, cầu cạnh người ta, kết quả bị người khinh coi như đồ bỏ, cũng giống cô gái trong hào này.

Người mệnh hợp cách không gặp dịp tốt, chỉ vừa đủ làm được việc. Người mệnh không hợp cách chí hẹp, việc làm vất vả, cậy vào kẻ mạnh thì phúc trạch nhỏ, không hơn được gì.

Về vận hạn: quan chức gặp họa cách giáng; giới sĩ khó khăn đợi thời; người thường phải lao công chán lắm, lo buồn, tiến thoái khó xử.

Hào cửu tứ: lỡ kỳ hẹn, gái hiền đợi giá cao, muộn mà vẫn gặp duyên lành

Hào dương, hào xấu. Thời cơ chưa đến, phải chờ thời. Gả em gái mà quá kỳ hẹn, nhưng vẫn còn có thời, chỉ là về nhà chồng muộn.

Quy muội khiên kỳ, trì quy hữu thì.

Hà Lạc nói cứ giữ đạo, chẳng thể cầu thả mà tiến.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, ở quẻ ngoài, là người con gái đã hiền lại sang, nhưng không có hào chính ứng vì hào một cũng là dương, nên lỡ thời. Không sao, cứ đợi giá cao, chậm trễ ít lâu rồi sẽ gặp duyên lành.

Người mệnh hợp cách chính đáng, đàng hoàng, nhưng giữ đạo đợi thời, không đỗ đạt sớm, muộn tuổi mới thành việc lớn. Người mệnh không hợp cách đức lớn nhưng bị trở lực, vợ trẻ, con muộn, muộn tuổi mới vinh hoa.

Về vận hạn: quan chức ở ngoài, đợi gọi về trung ương; giới sĩ đợi thời chờ bổ nhiệm; người thường đi buôn bán xa chưa về, hôn nhân chưa thành. Câu thơ của hào nói gái hiền đâu sợ muộn duyên.

Hào lục ngũ: nàng công chúa em vua mặc áo chẳng đẹp bằng cô phù dâu

Hào âm, hào tốt. Như người phụ nữ có đức, không chuộng hình thức bên ngoài.

Đế Ất quy muội, kỳ quân chi duệ, bất như kỳ đệ chi duệ lượng, nguyệt cơ vọng cát.

Hà Lạc nói người con gái có đức, phong tư tốt đẹp.

Nguyễn Hiến Lê giảng: vua Đế Ất gả em gái. Tay áo của nàng công chúa chẳng đẹp bằng tay áo của cô gái theo hầu, vì công chúa chính là hào năm, chỉ cái đức chứ không trọng phục sức bề ngoài. Nàng như trăng mười bốn, tròn đẹp mà chưa đầy hẳn, tốt nhất. Hào này âm nhu, đắc trung, có địa vị cao quý lại chính ứng với hào hai dương ở địa vị thấp, như nàng công chúa em vua Đế Ất, một vị vua đời Thương, mà gả cho người bình dân. Đã vậy mà khi rước dâu, y phục của nàng lại không đẹp bằng y phục mấy cô phù dâu. Như vậy là đức hạnh rất cao, không lên mặt vì mình có địa vị cao quý, lại còn mặc thường phục. Đức như vậy thật đẹp.

Phan Bội Châu phụ chú: lời hào ở đây chỉ nói về cách xử thế của người quân tử, trọng đạo đức mà không trọng quyền vị, quý tinh thần mà không quý vật chất. Thế tục đời sau lấy thế vị mà đánh giá người, lấy văn hóa mà khoe khoang với quần chúng, đạo đức chẳng trau, chỉ lo trau y phục. Văn minh không có ruột, chỉ khoe bề ngoài. Xin đọc thử mấy lời hào ở đây.

Người mệnh hợp cách theo nếp cổ, khoan dung, độ lượng, ưa nhã nhặn, công danh đạt, phúc lộc thịnh. Người mệnh không hợp cách sang hèn đều đối đãi như nhau, giàu mà không kiêu, ham muốn mà không tham.

Về vận hạn: quan chức và giới sĩ thăng chuyển, đỗ đạt; người thường được toại nguyện, lấy vợ được của, hoặc làm khách quý. Câu thơ của hào nói hiền hòa, trung chính, khiêm nhường, như trăng rằm, đạo thường vẫn giữ, không kiêu.

Hào thượng lục: giỏ cúng trống rỗng, con cừu cắt không ra máu

Hào âm, hào xấu. Chỉ hư vị, hư danh: hào sáu âm là kẻ vô tài lại ở ngôi cao, không có hào đối ứng, không lộc, chẳng khác gì cô gái xách giỏ không, chàng trai cắt cừu mà không có máu, lấy gì cúng lễ.

Nữ thừa khuông vô thực, sĩ khuê dương vô huyết, vô du lợi.

Gái bưng giỏ mà không có thức gì chứa, nên không đáng làm vợ; trai học trò cắt tiết con dê mà không có máu, nên không xứng làm chồng. Chẳng được ích lợi gì nữa, vì hào sáu và hào hai đều là âm, không hợp đạo vợ chồng. Hà Lạc nói không có đức, không có ứng, ước trước mà không hẹn sau.

Nguyễn Hiến Lê giảng: năm hào trên, các cô em gái đều về nhà chồng rồi; hào này ở trên cùng, muộn nhất, mà lại không có chính ứng vì hào ba ứng với nó cũng là âm, nên không thành vợ chồng chính thức được, chỉ sống bậy bạ với nhau, không có gì lợi cả. Hồi xưa khi cúng tổ tiên, bổn phận người vợ là dâng đồ cúng, người chồng dâng huyết cừu. Người con gái trong hào này xách giỏ dâng đồ cúng mà giỏ lại trống không; còn người con trai cắt cừu để lấy huyết thì lại cắt giả vờ, không có huyết dâng. Như vậy thì tổ tiên nào chứng giám, nên không thành vợ chồng được.

Hào đẹp trong quẻ là hào năm. Việc kén dâu, kén vợ, trọng người có đức, không khoe khoang mình cao sang giàu có, coi thường phục sức mà khiêm tốn.

Người mệnh hợp cách có tài mà không được dùng, có bằng cấp mà chẳng có lộc vị, có vợ mà khó có con. Người mệnh không hợp cách nhọc lòng, mệt óc, nghĩ nhiều mà chỉ quẩn quanh.

Về vận hạn: quan chức chỉ hư vị; giới sĩ hư danh; người thường kinh doanh uổng sức; người già có tang, tế. Câu thơ của hào nói cúng lễ dù giỏ trống không, nhưng tấm lòng thành kính thì tổ tông cũng cảm thông.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc