Bài tổng quan
Lôi Địa Dự: sấm nổ trên đất và chữ biết trước cơ
Sấm nổ, đất rung, cả đám đông kéo nhau vào cuộc vui, và chỉ có một người lặng lẽ đứng ngoài, chẳng thèm bám theo kẻ đang nắm quyền thế. Cái biết nào khiến người ấy thoát được cảnh hối tiếc của những kẻ say vui?... Còn hào cuối quẻ, vì sao vẫn có đường lui?
Mục lục · 8 phần
- 01Dự là hòa vui: sấm nổ trên đất, vạn vật tỉnh giấc
- 02Ba cách đọc quẻ Dự
- 03Hào sơ lục: mới vui đã khoe ầm lên, ấy là xấu
- 04Hào lục nhị: vững như đá, không đợi hết ngày đã biết xử trí
- 05Hào lục tam: ngó lên mà vui say, hối chậm thì ăn năn
- 06Hào cửu tứ: nhờ ta mà thiên hạ vui, đừng ngờ vực, bạn bè sẽ quy tụ
- 07Hào lục ngũ: đau dai dẳng mà chẳng chết
- 08Hào thượng lục: mê vui trong tối tăm, biết đổi thì không lỗi
Dự là hòa vui: sấm nổ trên đất, vạn vật tỉnh giấc
Quẻ số mười sáu là Lôi Địa Dự, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Năm. Dự nghĩa là duyệt, là hòa vui. Trên là Chấn, là sấm; dưới là Khôn, là đất.
Lôi xuất địa phấn, Dự. Tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi Thượng đế, dĩ phối Tổ Khảo.
Lời Tượng nói rằng sấm nổ đất vang là quẻ Dự, tức hòa vui. Đấng tiên vương lấy đó mà làm ra nhạc để tỏ lòng sùng đức, ân cần dâng lên Thượng đế, để tổ tiên cùng được phối hưởng.
Người sinh vào tháng Năm gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Sấm nổ vào tháng Ba, tháng Tám cũng vang lừng, đại phú quý. Những tháng khác thì phúc nhỏ.
Tiếng sấm vang lừng bao biến hóa, núi rừng xanh tốt vững non sông.
Ba cách đọc quẻ Dự
Nguyễn Hiến Lê nêu ba cách giảng quẻ này. Cách thứ nhất: Chấn ở trên, Khôn ở dưới, nghĩa là trên thì động, hành động, dưới thì thuận theo, như vậy tất vui vẻ. Cách thứ hai: sấm ở trên đất, nghĩa là khí dương phát động, vì Chấn thuộc dương, mà muôn vật ở dưới phát sinh, cũng là cảnh tượng vui vẻ. Cách thứ ba: quẻ chỉ có một hào dương là hào bốn, năm hào âm đều theo nó, nó làm chủ trong quẻ, như một người tài đức làm việc gì cũng thành công, nên vui vẻ yên ổn.
Được quẻ này mà ban bố việc phong hàm, phong tướng, định chức tước chính phủ, ngày trước là việc phong hầu, hoặc ban lệnh ra quân thì tốt.
Phan Bội Châu giải thích lời Tượng: do Chấn lôi ở trên, Khôn địa ở dưới, tượng là sấm ra khỏi mặt đất, khí dương dưới đất bùng lên mà thành tiếng. Vạn vật nhân lúc ấy hấp lấy khí dương mà nảy nở phát sinh, nên đặt tên quẻ là Dự. Xem tượng ấy, các tiên vương làm ra nhạc để ca ngợi công đức. Nhạc đã thịnh thì công đức cũng thịnh, dâng lên Thượng đế, đem ông cha mình sánh cùng Thượng đế. Ngày nay có thể hiểu là việc bậc nguyên thủ chủ trương soạn quốc ca, phát triển âm nhạc.
Hào sơ lục: mới vui đã khoe ầm lên, ấy là xấu
Hào này bình. Hào từ nói mới vui mà vang tiếng lên, xấu. Có nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thị phi, vạ miệng, khẩu thiệt, kiện tụng. Toán Hà Lạc nói được vui mà khoe ầm lên nên lại kém đi.
Chữ Dự ở tên quẻ là sự vui vẻ nói chung, do trên dưới thuận tình mà vui. Chữ dự ở các hào lại nói về con người vui vẻ. Hào này âm nhu ở thời sơ, bất trung bất chính, là một kẻ tiểu nhân ỷ vào hào bốn cương kiện ở trên làm chỗ ứng viện, lấy làm đắc ý, bộc lộ niềm vui sướng của mình một cách ồn ào. Thế là kiêu mạn, xấu.
Người mệnh hợp cách được dựa thế lực nhưng chỉ thành việc nhỏ. Người mệnh không hợp cách thì lượng hẹp mà tham vọng nhiều, sợ thất bại.
Về vận hạn: quan chức thắc mắc, đợi ân sủng, có việc phải trình bày để khỏi lỗi; học trò có cơ hội thành danh; người thường lo sợ, khẩu thiệt, trở ách.
Nói nhiều mang họa vào thân, khi vinh phòng nhục, kẻ gần hại ta.
Hào lục nhị: vững như đá, không đợi hết ngày đã biết xử trí
Hào này tốt. Hào từ nói bền vững như đá, không đợi trọn ngày, giữ chính thì tốt. Đó là hào của sự thức thời, hành động hợp thời vận, phúc lộc tốt. Toán Hà Lạc nói giữ trung chính thì gặp cơ hội.
Hào này âm nhu, đắc trung, đắc chính, không a dua thói tục. Việc gì xảy ra thì biết sáng suốt ứng phó ngay, không đợi tới hết ngày, vì vậy tốt.
Phan Bội Châu thốt lên rằng thần diệu vậy thay. Người quân tử biết được việc khi nó còn lờ mờ, biết được việc lúc đã rõ rệt, biết lẽ nên nhu thì nhu, nên cương thì cương, như thế mới làm được người để muôn chúng trông vào. Xem quẻ này, điều quan hệ nhất là chữ Tri, tức biết. Biết cho thấu đáo thì làm nên. Tục ngữ ta có câu khôn chết, dại chết, biết sống. Cái biết quan hệ như thế, mà quý nhất là biết đúng thời cơ. Đương lúc cơ vi, tức thời cơ còn lờ mờ mà đã biết trước, mới là cái biết chân chính. Nhưng khó lắm, nếu chẳng phải bậc thần trí thì làm sao biết được cơ.
Ông còn bàn thêm về lời Tượng. Ở vào thời Dự là lúc quần chúng đang vui chơi, mà trong quẻ duy nhất hào bốn dương là người có thế lực lớn nhất thời ấy. Những hạng bất trung bất chính tất nhiên xu phụ vào dương để mua chuộc cái bả vinh hoa. Riêng hào hai âm chẳng thèm ứng với hào bốn, mà những người phe phái với hào bốn thì hào hai âm cũng chẳng dây dưa vào. Thật là người có đức cao thượng, chỉ vì có đức trung chính mới được như thế. Kìa hào sơ âm ứng với hào bốn thì vui ồn ào mà xấu; hào ba âm ngước nhìn hào bốn thì vui thèm thuồng mà hối; hào năm âm kề trên hào bốn thì để mất sự chính, mua lấy bệnh hoạn. Chúng ta mới biết rằng theo Kinh Dịch, những bọn xu phụ quyền thế kết quả được ích gì.
Người mệnh hợp cách siêng năng chăm lo trau dồi đức mà lập nghiệp, mẫn tiệp, tức thức thời, nhạy bén, giao thiệp rộng, danh cao. Người mệnh không hợp cách giữ vững, không xiểm nịnh, không bợ đỡ, biết thời cơ, nên tốt.
Về vận hạn: quan chức biết tiến thoái đúng lúc; học trò tiến thủ thành danh; người thường mưu tính được lợi.
Hào lục tam: ngó lên mà vui say, hối chậm thì ăn năn
Hào này xấu. Hào từ nói ngó lên trên mà vui say, hối chậm thì có ăn năn. Đó là hào của sự bỏ lỡ cơ hội tốt, sự nghiệp khó thành, chỉ còn hối tiếc. Toán Hà Lạc nói trông vào người mà vui, hối kịp thì khỏi ăn năn.
Hào này cũng bất trung bất chính, như kẻ tiểu nhân ngó lên hào bốn dương, thèm được phú quý mà vui mừng. Không sớm rút chân ra khỏi cái bẫy quyền thế thì sẽ ân hận lớn.
Người mệnh hợp cách tuy có người trên giúp mình cũng không xong, dù chức vị nhỏ cũng hay trắc trở. Người mệnh không hợp cách thì lòng dùng dằng, trí không yên.
Về vận hạn: phàm mọi việc không đúng thực tế, tiến thoái vô định thì thị phi khôn lường.
Hào cửu tứ: nhờ ta mà thiên hạ vui, đừng ngờ vực, bạn bè sẽ quy tụ
Hào này tốt. Hào từ nói nhờ ta mà có vui, có điều được lớn, đừng ngờ vực, bạn bè sẽ tụ họp mau lẹ như cái trâm cài kết tóc lại. Ý hào là đem nguồn vui đến cho người khác bao giờ cũng là chuyện lành. Cơ hội tốt, dễ thăng tiến, dễ thành đạt, kinh doanh nhiều phúc lộc. Toán Hà Lạc ghi rằng có công đem vui đến, lại biết cách giữ gìn sự vui mừng.
Hào này là hào dương duy nhất làm chủ trong quẻ, có tài, ở địa vị cao, lại được hào năm, tức bậc nguyên thủ, hết lòng tin, nên tạo được hạnh phúc cho người, thành công lớn. Nhưng vì là hào dương độc nhất trong quẻ, một mình đảm đương gánh nặng, có lúc chán nản, nghi ngờ. Cho nên lời hào khuyên nên chí thành, thì sẽ có nhiều bạn tới giúp. Phan Bội Châu chú thêm ở lời Tượng: thiên hạ do ở mình mà được sung sướng, ấy là chí mình phát triển được lớn.
Người mệnh hợp cách tiếng thơm đức hậu, quyền trọng chức cao, làm việc lớn, giải quyết được việc lớn. Người mệnh không hợp cách có phúc đức, được tôn trọng, vợ chồng hòa vui.
Về vận hạn: quan chức được biết đến; học trò được tiến cử; người thường kinh doanh được lợi.
Hào lục ngũ: đau dai dẳng mà chẳng chết
Hào này bình. Hào từ nói giữ chính mà vẫn đau, vì hào bốn dương ở ngay sát bên bức bách, nhưng cứ thế mà chẳng chết. Đó là hào của bệnh hoạn ốm đau. Quan chức liêm chính nhưng phải dựa vào người có quyền thế mới vượt qua được tai nạn. Sĩ tử không gặp thời, khó thành đạt. Người thường kinh doanh khó khăn, ốm đau dai dẳng. Toán Hà Lạc nói nếu vui thỏa ý thì sẽ đắm đuối.
Hào này ở địa vị chí tôn nhưng âm nhu, lại có hào bốn được lòng dân, gánh hết việc thiên hạ, chuyên quyền. Mình chẳng phải làm gì cả, chìm đắm trong cảnh hoan lạc vì ở thời Dự, nên ví với một người bị bệnh hoài. May là hào năm đắc trung, lại có hào bốn cũng không áp bức, nên vẫn giữ được ngôi vị, cũng như người bị bệnh dai dẳng mà không chết.
Phan Bội Châu lấy lịch sử nước ta để soi vào hào này. Sau đời Lê Trung Hưng hơn hai trăm năm, vua Lê nhu nhược, chúa Trịnh chuyên quyền, việc nước hoàn toàn trong tay Trịnh, còn vua Lê chỉ là một vị hoàng đế ngồi không. Đến ngày Trịnh vong thì vua Lê cũng mất.
Người mệnh hợp cách là quý nhân chính đáng nhưng chí khí mềm yếu để quyền binh về tay người khác; tuy hiển đạt nhưng có bệnh tật thì mới sống lâu được. Người mệnh không hợp cách nhu nhược, thiếu tự lập, nhiều bệnh hoạn.
Về vận hạn: quan chức phải dựa vào quyền thế của người khác; học trò không người giúp, khó gặp cơ hội; người thường nhiều việc lo nghĩ, tai nạn khó tránh, bệnh tim bụng.
Hào thượng lục: mê vui trong tối tăm, biết đổi thì không lỗi
Hào này bình. Hào từ nói tối tăm mê vui, nhưng nếu rồi đổi thay được thì không lỗi. Biết hối cải nên vượt qua được gian nan. Tham lam không chừng mực thì dễ bị tội, bị truất giáng. Người có tài sản mà ham chơi lêu lổng thì dễ sạt nghiệp. Toán Hà Lạc nói vui thỏa thích nhưng biết cải hóa thì không lỗi.
Hào này âm nhu, chính mà bất trung, lại ở cuối quẻ Dự, nên có tượng người mê tối vì hoan lạc. Nhưng may là hào này nằm trong quẻ ngoại Chấn, Chấn có nghĩa là động, có hy vọng nhúc nhích tự cường được, như vậy sẽ không xấu.
Người mệnh hợp cách biết nghe cản ngăn, sửa lỗi lầm, nên có ít nhiều danh lợi. Người mệnh không hợp cách thì vui quá hóa buồn.
Về vận hạn: quan chức bị triệt vì tham nhũng; học trò hôn mê, sai ngoa; người thường kiêu ngạo, tranh tụng, nên sửa đổi mới khỏi lỗi.
Động nhiều tĩnh lại thì yên, chạy nhiều ngồi đó buồn liền hóa vui.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
