Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Trung, chính: quy tắc quan trọng nhất khi đọc một quẻ Dịch

Bói Dịch26/09/202610 phút đọc5 lượt đọc
Trung, chính: quy tắc quan trọng nhất khi đọc một quẻ Dịch

Một hào dương thường tượng trưng cho điều tốt đẹp, quân tử; một hào âm tượng trưng cho điều xấu xa, tiểu nhân - nhưng Nguyễn Hiến Lê cảnh báo đó chỉ là nhìn nửa vời. Ngay trong quẻ Càn, sáu hào đều là hào dương như nhau, vậy mà chỉ đúng một hào được xem là đẹp nhất, tốt nhất trong cả quẻ, đủ để mang tên gọi tượng trưng cho ngôi vua. Bí quyết nằm ở một quy tắc mà Nguyễn Hiến Lê gọi thẳng là quan trọng nhất trong toàn bộ Kinh Dịch...


Tứ đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh

Đọc các quẻ trong phần dịch ở sau, chúng ta sẽ gặp luôn bốn chữ: nguyên, hanh, lợi, trinh, mà Chu Dịch gọi là tứ đức, có thể hiểu là bốn đặc tính của các quẻ.

Nói là của các quẻ, nhưng theo Tiền Cơ Bác trong cuốn Chu Dịch giải đề cập kì độc pháp (Thương vụ ấn thư quán) thì chỉ có bảy quẻ có đủ tứ đức, còn những quẻ khác thì chỉ được ba đức, hoặc hai đức, hoặc một đức, có khi không được đức nào. Mà trong bảy quẻ có đủ tứ đức, chỉ duy có quẻ Càn là bốn đức được hoàn toàn, còn sáu quẻ kia tuy cũng có tứ đức mà bị hạn chế ít nhiều, nghĩa là phải có điều kiện nào đó, gặp hoàn cảnh nào đó mới có được đức nào đó.

Ý nghĩa thông thường của tứ đức đó như sau: nguyên là đầu tiên, lớn, trùm mọi điều thiện; hanh là hanh thông, thuận tiện, tập hợp các điều hay; lợi là nên, thỏa thích, hòa hợp các điều phải; trinh là chính, bền chặt, gốc của mọi việc.

Xét theo đạo người thì nguyên thuộc về đức nhân, hanh thuộc về đức lễ, lợi thuộc về đức nghĩa, trinh thuộc về đức trí – đó là quan niệm của nhà Nho. Riêng về quẻ Càn (trời), có nhà cho rằng nguyên thuộc về mùa xuân (phát sinh vạn vật), hanh thuộc về mùa hạ (vạn vật nảy nở), lợi thuộc về mùa thu (vạn vật thành thục), trinh thuộc về mùa đông (vạn vật đạt tới kết thúc tốt đẹp).

Phùng Hữu Lan, trong Tâm lí học, phát huy thêm quan niệm đó mà cho Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh là bốn trình tự trong sự diễn tiến của Càn, hay là cái động lực vận hành tạo nên sinh mệnh:

"Nguyên là đầu, trỏ cái khởi đoạn phát động của sinh mệnh, nghĩa là cái trạng thái của vật khi bắt đầu vào cuộc sống. Hanh là hanh thông, là thông đồng: khi sinh mệnh của vật đã hiển nhiên trong thực tế, tương thông với ngoại giới, thì trạng thái của nó lúc đó gọi là hanh. Lợi là thuận lợi, là trạng thái của sinh vật khi tương thông với ngoại giới, nó đã thích ứng được với hoàn cảnh. Trinh là thành tựu hẳn hoi, tức là trạng thái của sinh vật vì thích ứng được với hoàn cảnh một cách thuận lợi mà đã hình thành một cách tốt đẹp."

Tào Thăng, trong Chu Dịch Tân Giải, cũng giải nghĩa đại khái như vậy, nhưng cho nguyên hanh lợi trinh chẳng phải chỉ là trình tự hình thành của sinh mệnh, mà của cả vũ trụ. Ông bảo: nguyên là hồi Càn và Khôn mới giao với nhau chứ chưa biến hóa; hanh là lúc Càn, Khôn đã giao với nhau rồi mà thông với nhau; lợi là lúc Càn, Khôn điều hòa nhau mà biến hóa; trinh là giai đoạn Càn Khôn đã biến hóa xong rồi và định vị – Càn, Khôn đã có cái "vị" nhất định rồi, không thay đổi nữa.

Theo Cao Hanh, trong Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú, thì tất cả những cách giải thích kể trên đều là của người đời sau cả, chứ mới đầu, Kinh Dịch chỉ dùng để bói, thì ý nghĩa nguyên hanh lợi trinh khác hẳn: nguyên là lớn; hanh tức là chữ hưởng – người xưa khi cử hành một cuộc cúng tế lớn (đại hưởng chi tế), bốc sư gặp quẻ Càn thì chép là nguyên hưởng (hưởng lớn); còn lợi, trinh tức là lợi chiêm – bốc sư gặp quẻ Càn thì cho làm việc tất có lợi, nên chép là lợi trinh.

Trong phần dịch các quẻ ở sau, Nguyễn Hiến Lê theo cách giải thích thông thường nhất.

Ngoài tứ đức, Kinh Dịch còn dùng năm chữ khác để đoán tốt xấu mà người đọc cũng cần nhớ: cát (một quẻ cát) nghĩa là tốt lành; hung ngược lại với cát, xấu nhất; hối là lỗi, ăn năn; lận là lỗi nhỏ, tiếc; vô cữu là không có lỗi, hoặc lỗi không về ai cả.

Nội quái, ngoại quái: hai nửa của một câu chuyện

Mỗi quẻ trùng tuy gồm hai đơn quái chồng lên nhau, nhưng chỉ diễn tả một tình trạng, một sự việc, một biến cố hay một hiện tượng; vậy nội quái và ngoại quái có tương quan mật thiết với nhau. Tương quan đó ra sao? Có hai thuyết.

Thuyết thứ nhất, được nhiều người chấp nhận nhất, thường thấy nhất trong Kinh Dịch, là sự diễn tiến tuần tự về thời gian: hào Sơ là bước đầu mà hào Thượng là bước cuối, các hào ở giữa là các giai đoạn trung gian.

Điều đó ta thấy rất rõ trong quẻ Thuần Càn. Dù hiểu Càn là đạo trời hay đạo của người, ta cũng thấy cái luật diễn tiến lần lần: từ lúc mới sinh ra vạn vật rồi tới lúc vạn vật biến hóa, thành thục, hòa hợp, thịnh cực rồi suy (đó là đạo trời); hoặc diễn tiến từ lúc người quân tử còn ẩn dật, tu đức để chờ thời, tới lúc bắt đầu xuất hiện nhưng vẫn phải tiếp tục tu dưỡng, giữ vững chí mình, xem xét thời cơ mà hành động chứ không nên vội vàng, sau mới làm được sự nghiệp lớn, và khi xong sự nghiệp rồi thì nên lui về, nhường cho người khác.

Không nói chi quẻ Thuần Càn – nội quái và ngoại quái như nhau – những quẻ như Hàm, Cấn, Sư, Đỉnh, Tiệm, Thái, Li, Phệ Hạp, Bí, Bác..., mà nội quái khác ngoại quái, cũng vậy: những hào ở ngoại quái diễn tiếp những trình tự trong nội quái.

Chẳng hạn quẻ Hàm: hào 1 là ngón chân, hào 2 là bắp chân, hào 3 là đùi, hào 4 là tim, hào 5 là lưng, hào 6 là mép, lưỡi – sự cảm nhau tiến lần lần như từ ngón chân lên đến mép, lưỡi.

Quẻ Cấn cũng vậy: sự ngăn cản tiến lần lần từ hào 1, ngón chân, rồi tiến lần lần lên bắp chân, lưng quần, giữa thân mình, mép (hào 5).

Quẻ Tiệm là tiến lần lần: hào 1, con chim hồng tiến tới bờ nước; hào 2, nó lên phiến đá ở bờ; hào 3, nó lên tới đất bằng; hào 4, nó nhảy lên cành cây; hào 5, nó lên tới gò cao; và hào cuối cùng, nó bay bổng lên trời.

Thuyết thứ nhì, của Ch'u Chai và Winberg Chai, trong phần giới thiệu cuốn I Ching (bản dịch của J. Legge): mỗi đơn quái có ba hào thì hào 1 có ý nghĩa nên dè dặt vì là bước đầu, hào 3 có ý nghĩa phải đề phòng vì là lúc cùng cực, chỉ hào 2 là có ý nghĩa nên hoạt động. Mỗi trùng quái cũng vậy: cặp hào 1 và 6 bất biến, vì là bước đầu và bước cuối; cặp hào 3 và 4 thay đổi, bấp bênh, vì là lúc quẻ ở nội quái chưa lên ngoại quái (hào 3) hoặc mới lên ngoại quái (hào 4); chỉ cặp hào 2 và 5 là có nhiều tác động.

Thuyết thứ ba, ít người áp dụng, chỉ thấy J. Lavier trình bày trong cuốn Le Livre de la terre et du ciel, cho rằng tương quan giữa nội quái và ngoại quái là tương quan nhân quả. Nội quái diễn cái nhân: hào 1 là thực thể (substance) của nhân, hào 2 là biểu thị (manifestation) của nhân, hào 3 là đặc tính (essence) của nhân. Ngoại quái diễn cái quả: hào 4 là thực thể của quả, hào 5 là biểu thị của quả, hào 6 là đặc tính của quả. Như vậy hào 4 là cái quả của hào 1, hào 5 là cái quả của hào 2, hào 6 là cái quả của hào 3. Nguyễn Hiến Lê không biết thuyết đó có phải của Đạo gia hay không, nhưng chắc chắn không phải của Dịch học phái thời Chiến Quốc, Hán sơ.

Còn có sách nói quẻ đơn sở dĩ có ba hào vì người đầu tiên vạch ra muốn có đủ tam tài (ba ngôi): trời, đất, người – hào dưới cùng là đất, hào trên cùng là trời, hào giữa là người; do đó quẻ trùng có sáu hào thì hai hào ở dưới cùng cũng là đất, hai hào trên cùng là trời, hai hào ở giữa là người. Thuyết này cũng rất ít khi thấy áp dụng.

Trung, chính: quy tắc quan trọng nhất của Dịch

Dưới đây là một số quy tắc rất quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất trong Dịch, trong nhân sinh quan của Trung Hoa, cần nhớ kỹ.

Trước hết phải phân biệt bản thể, tính cách của hào, và vị trí của hào. Hào chỉ có hai loại: dương và âm, đó là bản thể của hào. Tính cách của dương là: đàn ông, cương cường, thiện, đại, chính, thành thực, quân tử, phú quý. Tính cách của âm là: đàn bà, nhu thuận, ác (xấu, trái với thiện), tà ngụy (trái với thành thực), tiểu nhân, bần tiện...

Như vậy, dương tốt đẹp, âm xấu xa. Nhưng đó chỉ là xét chung; còn phải xét vị trí của hào nữa mới định được là tốt hay xấu. Dù là hào dương mà vị trí không trung, chính thì cũng xấu; dù là hào âm mà vị trí trung chính thì cũng tốt.

Thế nào là trung? Nội quái có ba hào: 1 là sơ, 2 là trung, 3 là mạt. Ngoại quái cũng có ba hào: 4 là sơ, 5 là trung, 6 là mạt. Vậy trung là những hào ở giữa nội quái và ngoại quái, tức hào 2 và hào 5, dù bản thể của hào là dương hay âm thì cũng vậy.

Thế nào là chính? Trong sáu hào, những hào số lẻ 1, 3, 5 có vị trí dương; những hào số chẵn 2, 4, 6 có vị trí âm. Một hào bản thể là dương (một vạch liền) ở vào một vị trí dương thì là chính, ở vào một vị trí âm thì là bất chính. Một hào bản thể là âm (một vạch đứt) phải ở vào một vị trí âm mới gọi là chính, nếu ở vào vị trí dương thì là bất chính.

Ví dụ quẻ Thuần Càn: sáu hào đều là hào dương cả (về bản thể), hào 2 và 5 đều là trung, nhưng hào 2 không chính, chỉ hào 5 mới được cả trung lẫn chính, vì hào 2 là dương ở vị trí âm (hào chẵn) mà hào 5 là hào dương ở vị trí dương (hào lẻ). Bốn hào kia thì hào 1 và 3 đắc chính mà không đắc trung; hào 4, 6 không đắc chính cũng không đắc trung.

Do đó hào 5 quẻ Càn là hào tốt nhất trong quẻ, mà danh từ "cửu ngũ" (cửu là dương, ngũ là thứ 5, cửu ngũ là hào thứ 5, dương) trỏ ngôi vua, ngôi chí tôn. Tóm lại, xét theo quẻ Thuần Càn: hào 6 không chính cũng không trung; hào 5 vừa trung vừa chính; hào 4 không chính cũng không trung; hào 3 chính mà không trung; hào 2 trung mà không chính; hào 1 chính mà không trung.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương IV.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch