Bài tổng quan
Phong Trạch Trung Phu: hạc mẹ gáy trong bóng rợp, lòng thành làm nước động
Hạc mẹ gáy trong bóng rợp, hạc con họa theo; người có chén rượu ngon thì chia cho bạn. Cũng có kẻ hẹn với người dưới cầu, nước dâng mà vẫn ôm cột chịu chết vì giữ lời. Lòng tin đến đâu thì quý, đến đâu thì ngu?
Mục lục · 10 phần
- 01Trung Phu là tín: trên đầm có gió, lòng thành làm nước động
- 02Lòng tin đến mức cảm được cả heo và cá, vượt sông lớn như ngồi thuyền trống
- 03Xét án năm lượt để hoãn án tử: lòng thương làm gốc, đức sáng làm phép
- 04Dự báo cho quẻ Trung Phu: vận yên ổn, cần trung tín, kỵ kẻ làm liều và đạo đức giả
- 05Hào sơ cửu: xét kỹ trước khi tin, đã tin rồi thì đừng đổi lòng
- 06Hào cửu nhị: hạc mẹ gáy trong bóng rợp, hạc con họa theo, rượu ngon chia nhau
- 07Hào lục tam: gặp đối thủ lúc múa may, lúc khóc lóc, lúc hát vang
- 08Hào lục tứ: trăng gần rằm, ngựa bỏ bạn cặp đôi để đi với đấng chí tôn
- 09Hào cửu ngũ: lòng tin như dây buộc, nguyên thủ và người giúp việc tin nhau hết lòng
- 10Hào thượng cửu: tiếng gà bay lên trời, ôm cột cầu chịu chết vì giữ lời hẹn
Trung Phu là tín: trên đầm có gió, lòng thành làm nước động
Quẻ số sáu mươi mốt là Phong Trạch Trung Phu, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng tám. Trung Phu nghĩa là tín, là chí thành, hòa hoãn, thong thả. Quẻ trên là Tốn, là gió; quẻ dưới là Đoài, là đầm.
Trạch thượng hữu phong, Trung Phu. Quân tử dĩ nghị ngục hoãn tử.
Lời Tượng nói trên đầm có gió là quẻ Trung Phu, tức chí thành. Người quân tử nhìn đó mà bàn nghị việc hình ngục để hoãn tội tử hình.
Người sinh vào tháng tám gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng tin thành báo hỷ thường ngày; khi giờ Thân, giờ Thìn đến thì đường mây nhẹ nhàng.
Lòng tin đến mức cảm được cả heo và cá, vượt sông lớn như ngồi thuyền trống
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói trong lòng có đức tin tới mức cảm được cả heo và cá, tốt như vậy thì lội qua sông lớn được, giữ đạo chính thì lợi. Quẻ này ở giữa có hai hào âm, hai nét đứt, như trong lòng trống rỗng, không có tư dục, tư ý; còn bốn hào dương là nét liền, đặc, thực, trái với hư; mà hào hai và hào năm lại đắc trung, ở giữa quẻ trong và quẻ ngoài. Vậy là có đức trung thực. Do đó đặt tên quẻ là Trung Phu.
Theo nghĩa thì trên là Tốn, thuận với người dưới; dưới là Đoài, phục tòng người trên. Như vậy là cảm hóa được dân. Lòng chí thành cảm hóa được cả những vật ngu, không biết gì, như heo và cá. Lấy lòng chí thành, hư tâm mà ứng phó với nguy hiểm thì vượt được hết, như qua sông lớn mà ngồi chiếc thuyền trống không, chẳng chở gì cả, thật là an toàn. Phải giữ chính đạo mới tốt.
Lời Đại tượng truyện giảng: gió ở trên, đầm ở dưới, tức gió làm động được nước, như lòng thành thực cảm động được người. Nên lấy lòng trung thành mà xử việc thiên hạ; như xử tội thì xét đi xét lại, tìm cách cứu tội nhân, tha cho tội chết.
Phan Bội Châu phụ chú: nghĩa chữ Trung Phu gồm cả trung hư, tức rỗng, và trung thực. Lòng trung có hư, tức trong trẻo, thì mới đặt được lòng nhu thuận, thành tín vào; lòng trung có thực thì giả dối mới không lọt vào được. Nói tắt lại chỉ hai chữ trung tín, nhưng kết lại ở chữ trinh, tức chính. Bởi trong loài người có một hạng người trung tín mà không chính. Tỷ như kẻ trộm cướp vì tư lợi mà tin nhau; trai gái vì tà dâm mà tin nhau; họ chẳng phải là trung tín. Kết quả là lầm đường lạc lối, có thủy không có chung, thường nguyên nhân đã ác thì kết quả cũng ác. Đó chính là trung mà không chính, cũng không gọi là trung phu được.
Xét án năm lượt để hoãn án tử: lòng thương làm gốc, đức sáng làm phép
Phan Bội Châu phụ chú sau khi giảng lời Tượng: theo sách Chu Lễ, ngày xưa khi có hình ngục, trước hết vua thầm đoán, rồi ủy quyền cho quan Tư khấu thẩm đoán lần thứ hai, lại ủy quyền cho quan Tam công thẩm đoán lần thứ ba; đó là nghị án hình ngục. Sau đó còn lần lượt xét lại sau một tuần, sau hai tuần, sau ba tháng; qua ba lần ấy mới đến vua quyết định cuối cùng, chỉ mong cho người bị tội khỏi chết oan.
Trong Dịch học, lời Tượng truyện nói về hình ngục có năm quẻ. Quẻ Phệ Hạp nói coi tượng sấm chớp mà làm sáng tỏ hình luật. Quẻ Bí nói coi tượng lửa dưới núi mà không quả cảm, tức không khinh suất, về việc đoán ngục hình. Quẻ Phong nói coi tượng sấm chớp cùng đến, tức sáng và động cùng lúc, mà xét án ghép tội. Quẻ Lữ nói coi tượng lửa trên núi mà chẳng để bình ngục đọng lại. Bốn quẻ ấy đều lấy tượng để cho thấy cái lợi về sự sáng, lấy chữ sáng làm trọng. Duy đến quẻ Trung Phu thì nói coi tượng gió ở trên đầm mà bàn việc hình ngục để hoãn tội tử hình, đó là lấy chữ thành làm trọng.
Tóm lại, xem lời Tượng truyện của năm quẻ thì người làm hình ngục nên có lòng thương người như tượng quẻ Trung Phu, còn đến khi thẩm đoán tất phải có đức sáng như tượng bốn quẻ trên. Có nghĩa là lấy thành làm gốc, lấy sáng làm phương pháp. Thánh nhân vì bốn quẻ trên chuyên chú trọng đức sáng nên ở quẻ Trung Phu lại chú trọng đức thành. Sáng mà không thành tâm thì e có khi lạm dụng; thành mà không sáng thì e có lúc bị lừa. Thành với sáng đều đầy đủ thì việc hình ngục mới chắc được công bằng. Đọc hết mấy bộ sách hình luật, trước tiên xin đọc năm lời Tượng ấy.
Dự báo cho quẻ Trung Phu: vận yên ổn, cần trung tín, kỵ kẻ làm liều và đạo đức giả
Quẻ Trung Phu chỉ vận thế yên ổn, cần sự trung tín; không hợp cho những ai cơ hội làm liều, thiếu lòng trung thực hay đạo đức giả.
Công danh sự nghiệp cần kiên trì, tốt nhất là hành tín hư tâm, thì điều kiện thành công sẽ như vượt đầm mà có thuyền chờ sẵn, có thể làm nên sự nghiệp lớn. Địa vị dễ đạt mong muốn; thi cử dễ đỗ; xuất hành bình an; kiện tụng qua khỏi; bệnh tật chóng lành; tình yêu và hôn nhân dễ toại nguyện, gặp được người như ý nhờ lòng thành cảm động mọi người; gia đình đoàn kết vui vẻ, không nghi ngờ lẫn nhau.
Hào sơ cửu: xét kỹ trước khi tin, đã tin rồi thì đừng đổi lòng
Hào dương, hào tốt. Lo liệu trước thì tốt; có điều khác thì chẳng được yên. Bắt đầu của lòng thành kính phải suy tính cho kỹ. Vận dễ thăng tiến, đỗ đạt, được nhiều người giúp đỡ, thành đạt toại nguyện. Số xấu thì hao tài tốn của, nhiều lo buồn, sống không yên.
Ngu, cát, hữu tha, bất yên.
Hà Lạc nói điều thiện nên theo một đường lối.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này mới vào thời Trung Phu, tuy ứng với hào bốn âm nhu, đắc chính, là người đáng tin cậy; nhưng bước đầu phải xét cho kỹ lưỡng xem hào bốn có đáng tin không. Khi đã tin rồi thì đừng đổi chí hướng; lòng phải định rồi mới tĩnh mà yên được.
Người mệnh hợp cách nhu thuận mà trung, thành thực mà sáng, được người ủng hộ, sự nghiệp vẻ vang. Người mệnh không hợp cách động tĩnh khác thường, xu hướng không nhất quán, mưu vọng không đúng, thân thể không yên.
Về vận hạn: quan chức được đề bạt; giới sĩ có tin tốt lành; người thường có quý nhân đề cử, mưu vọng toại ý, nhưng trong mừng có lo, có thể hao tổn người, vật. Câu thơ của hào nói một điểm đủ thành xuân, cành khô tươi dần; muôn điều cần chuyên nhất, rất kỵ dạ phân vân.
Hào cửu nhị: hạc mẹ gáy trong bóng rợp, hạc con họa theo, rượu ngon chia nhau
Hào dương, hào tốt. Dễ thăng tiến, thành đạt, có tài lộc. Nội dung hào là có lòng thành, có hô có ứng, biết chia ngọt sẻ bùi, sự nghiệp thành đạt.
Minh hạc tại âm, kỳ tử họa chi, ngã hữu hảo tước, ngô dữ nhĩ mỵ chi.
Chim hạc mẹ gáy trong bóng rợp, con nó gáy họa theo; ta có chén rượu ngon, ta cùng mày chia nhau. Hà Lạc nói cùng đức, giúp nhau nên việc.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ứng với hào năm ở trên, cả hai đều có đức dương cương, lại đắc trung, đều có lòng thành thực, đều là những hào quan trọng trong quẻ Trung Phu. Hai bên cảm ứng, tương đắc với nhau như hạc mẹ gáy mà hạc con họa theo, hoặc như một người có chén rượu ngon mà chia cho bạn.
Khổng Tử giải thích ý nghĩa lời hào này: người quân tử ở trong nhà mà nói ra, nếu lời nói hay thì người ngoài nghìn dặm cũng hưởng ứng, huống chi là người ở gần. Hành vi từ gần phát ra thì ảnh hưởng hiện ngay ở xa, như vậy chẳng nên thận trọng lắm hay sao? Như vậy Khổng Tử đã hiểu rộng tiếng gáy của hạc mẹ là lời nói hay, chén rượu ngon là hành vi đẹp, mà khuyên chúng ta phải thận trọng về lời nói và việc làm.
Phan Bội Châu phụ chú: nói cách khác, tiếng gáy không phải tiếng loài nó thì nó chẳng họa theo; rượu của mình vẫn dở thì chắc không ai thèm. Lời nói, việc làm của mình đã không lành thì ai chịu ứng cho. Trên mặt chữ tuy khác nhau mà tinh thần đạo lý vẫn y nhau. Nên sách của Khổng Tử với sách của Chu Công vẫn không giống nhau mà ý nghĩa thì tuyệt đối giống nhau. Chúng ta học Dịch nên học lấy bộ óc ấy. Nếu Chu Công nói hạc nói rượu mà Khổng Tử cũng chỉ nói hạc nói rượu thì còn gì thú vị nữa.
Người mệnh hợp cách đồng tâm, đồng chí, làm đẹp cho trước, làm vượng cho sau. Người mệnh không hợp cách được tôn về đức, trọng về tài, một đời thanh cao, không tai hại.
Về vận hạn: quan chức thăng tiến; giới sĩ được toại ý; người thường được lợi, hoặc sinh con, chỉ người già có bệnh ngầm. Câu thơ của hào nói phong vân ngàn thuở hội này, tấm lòng vàng đá, lộc đầy ngôi cao.
Hào lục tam: gặp đối thủ lúc múa may, lúc khóc lóc, lúc hát vang
Hào âm, hào xấu. Gặp kẻ đối thủ, hào sáu ứng với nó: lúc múa may, lúc rụng rời, lúc khóc lóc, lúc hát vang. Tư cách hoảng hốt, bất định.
Đắc địch, hoặc cổ, hoặc bãi, hoặc khấp, hoặc ca.
Hà Lạc nói không có chủ định.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu bất chính bất trung, ứng với hào trên cùng dương cương mà bất trung bất chính, như hai người ăn ở với nhau mà không thành thực; tính tình thay đổi luôn, vui đó rồi khóc đó. Hoặc cổ hoặc bãi, có người hiểu là lúc thì cổ vũ, lúc thì bỏ đi.
Người mệnh hợp cách không cha anh, không thầy bạn, đức nghiệp chẳng thành, cử chỉ bất định, dù có giàu sang cũng là hạng bê bối. Người mệnh không hợp cách thành tín nhưng tiến lui, thành bại bất thường, lại cô quả đơn côi, không thể thành đạt lớn, giữ được bình yên là may.
Về vận hạn: quan chức đồng liêu bất hòa, trước tiến chức sau lùi; giới sĩ và người thường trong vui có buồn, trong buồn có vui, cầu danh mưu lợi khi được khi mất. Câu thơ của hào nói buồn vui ca khóc như điên, biết ra tự trị thì yên tấm lòng.
Hào lục tứ: trăng gần rằm, ngựa bỏ bạn cặp đôi để đi với đấng chí tôn
Hào âm, hào tốt. Mặt trăng gần đến rằm, con ngựa bỏ bạn cặp đôi, không có lỗi; bỏ hào một để đi với hào năm thì hay hơn. Như ý hào, việc lớn sắp thành nên quên việc riêng để giữ nghiệp; quyền chức không màng mà tự nó đến, để lại tiếng thơm.
Nguyệt cơ vọng, mã thất vong, vô cữu.
Hà Lạc nói quên riêng tư để phục vụ việc lớn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đắc chính, thân cận với hào năm, được vua tín nhiệm; sự thịnh vượng đã gần đến tuyệt đỉnh, như trăng mười bốn gần đến ngày rằm. Nó ứng với hào một, hai bên cặp kè nhau như cặp ngựa, nhưng nó biết phục tòng đạo lý nên sau bỏ hào một để chuyên nhất với hào năm; như vậy không có tội lỗi gì.
Phan Bội Châu phụ chú: lời hào ở đây, theo sử Tàu thì như ông Y Doãn trả chính quyền cho ông Thái Giáp mà trở về cày ruộng. Sử nước ta thì có Trần Hưng Đạo chỉ làm đến Thượng quốc công, không nghe lời An Sinh Vương giành lấy ngôi vua; đó là nghĩa câu trăng gần đến rằm. Lại như bè đảng Thôi, Trần rất mạnh ở nước Tề, khuyên Án Tử vào phe mà Án Tử không chịu vào. Sử nước ta có Phùng Khắc Khoan đời nhà Mạc đang thịnh mà không chịu theo. Kết quả họ Thôi, họ Trần bại mà Án Tử được hiển danh; nhà Mạc mất mà Phùng Khắc Khoan nên sự nghiệp. Đó là nghĩa câu ngựa bỏ bạn mà tiến lên. Trung phu lợi về chính mới được tốt, Dịch có nói đối với ai đâu.
Người mệnh hợp cách bỏ bè đảng riêng để làm việc nước, tấm lòng trinh bạch, bạn đồng liêu tôn kính, quyền chẳng cần mở rộng mà tự lớn. Người mệnh không hợp cách có cơ mưu nhưng khó toại chí, dù có khi thành rồi lại tổn hại; hoặc việc hôn nhân lận đận; hoặc phụ thân bị thương tổn.
Về vận hạn: quan chức có vinh thăng; giới sĩ trong tháng có niềm vui; người thường được đề bạt, hoặc mất ngựa xe. Câu thơ của hào nói thanh danh đức nghiệp đã nên, gió mây gặp hội, đột lên sang giàu.
Hào cửu ngũ: lòng tin như dây buộc, nguyên thủ và người giúp việc tin nhau hết lòng
Hào dương, hào tốt. Có lòng tín thành ràng buộc, không lỗi gì. Thời đoàn kết, hòa thuận, mọi việc hanh thông, dễ thăng tiến, nhiều phúc lộc.
Hữu phu loan như, vô cữu.
Hà Lạc nói người đứng đầu và người cộng tác tin nhau hết lòng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở ngôi chí tôn, có đủ đức trung chính, lòng thành tín buộc được lòng thiên hạ.
Người mệnh hợp cách có lòng chí thành, đức cao cả vì nước thì dân cảm, vật ứng, trời giúp, công thành, phú quý khôn xiết kể. Người mệnh không hợp cách cũng có đức, trên quý, dưới phục, cuộc sống đầy đủ, tuổi thọ bền lâu.
Về vận hạn: quan chức trên dưới một lòng, được tín nhiệm hơn; giới sĩ tiến thủ thành danh; người thường nhân tình hòa hợp, mưu tính thành việc có lợi. Câu thơ của hào nói nghiêng bầu nở mặt nở mày, thiên thời địa lợi từ nay mạnh lắm.
Hào thượng cửu: tiếng gà bay lên trời, ôm cột cầu chịu chết vì giữ lời hẹn
Hào dương. Tiếng chim bay lên trời mà không thấy hình; cố chấp thì xấu; hết thời tin rồi mà cứ tin thì hỏng. Tốt đối với những người thức thời, xấu đối với những người bảo thủ, kẻ tầm thường.
Hàn âm đăng vu thiên, trinh hung.
Hà Lạc nói không đáng tin mà cứ tin là có hại.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, không đắc trung, lại ở vào thời thành tín đến cùng cực, đức tin đã suy, vậy là có danh mà không có thực. Lại thêm không biết biến thông, cứ muốn giữ khư khư đức tín vì có tính dương cương, cho nên được ví với loài gà, là loại không bay cao được mà muốn lên tới trời.
Lòng thành tín vẫn là tốt, nhưng đừng thái quá mà phải biết biến thông. Phan Bội Châu nhắc truyện ngụ ngôn anh chàng họ Vĩ thời Xuân Thu hẹn với một cô gái ở dưới cầu; cô không tới, nước lên cao, anh ta cứ ôm cột cầu mà chịu chết. Tín như vậy là ngu, không biết biến thông.
Người mệnh hợp cách tuổi trẻ đã có bằng cao, làm chức to, nhưng cố chấp, không biết biến thông, nên chẳng được lâu. Người mệnh không hợp cách hàn vi mà lên nhanh quá, cố chấp không thông nên bị tai hại; chỉ ở nơi hang động, thanh hư như nơi tiên cảnh thì yên lành.
Về vận hạn: giới sĩ danh lên cao; người thường tranh cao, cậy mạnh nên khốn bách; buôn bán tổn thiệt, số xấu thì giảm thọ. Câu thơ của hào nói nên tiến, đừng nên bướng; việc xưa đã đổi thay; sông dài ngàn dặm lái, săn cá buông câu hay.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
