Bài tổng quan
Sáu mươi bốn quẻ ra đời và lời Thoán từ đầu tiên
Tám quẻ chỉ có 24 hào, không đủ để diễn hết chuyện đời, nên người xưa lại chồng từng quẻ lên nhau thêm một lần nữa, biến tám thành sáu mươi bốn. Nhưng suốt hai vòng chồng quẻ ấy vẫn còn bỏ ngỏ một câu hỏi chưa ai trả lời dứt khoát: chồng quẻ là công của Phục Hi, Thần Nông hay Văn Vương? Đến khi bị giam trong ngục Dữu Lý, Văn Vương mới lặng lẽ làm một việc khiến sáu mươi bốn quẻ có tiếng nói riêng...
Trùng quái – từ tám quẻ đơn thành sáu mươi bốn quẻ kép
Chúng ta đã biết lưỡng nghi chồng lên nhau một lần thành tứ tượng, chồng thêm một lần nữa là bát quái.
Chỉ có 8 quẻ với 24 hào thì không thể diễn được nhiều hiện tượng, sự việc, nên lại phải chồng thêm một lần nữa. Lần này không lấy một vạch âm hay dương như lần thứ nhì, mà lấy trọn một quẻ chồng lên tất cả 8 quẻ; chẳng hạn lấy quẻ Càn chồng lên Càn và 7 quẻ kia, lấy quẻ Li chồng lên Li và cả 7 quẻ kia, như vậy mỗi quẻ thành ra 8 quẻ mới, tám quẻ thành 64 quẻ mới, mỗi quẻ mới gồm 6 hào, cộng là 64 × 6 = 384 hào, tạm đủ để diễn được khá nhiều hiện tượng, sự việc rồi. Tới đây ngừng, vì nếu chồng thêm nữa thì nhiều quá, sẽ rối như bòng bong.
Sáu mươi bốn quẻ mới này gọi là trùng quái (quẻ trùng) để phân biệt với tám quẻ nguyên thủy gọi là đơn quái (quẻ đơn).
Ai làm công việc trùng quái đó? Có bốn thuyết: Vương Bật (đời Ngụy) cho rằng Phục Hi tạo ra bát quái rồi tự mình trùng quái; Trịnh Huyền (đời Hán) cho rằng Thần Nông trùng quái; Tôn Thịnh (không rõ đời nào) cho là vua Vũ nhà Hạ; Tư Mã Thiên (đời Hán) cho là Văn Vương.
Hai thuyết cuối trái với Hệ từ, vì theo Hệ từ hạ truyện, chương II thì: Bào Hi mất rồi, Thần Nông lên thay, lấy hình tượng ở quẻ Phệ Hạp (tức một trong 64 quẻ trùng) mà nảy ra ý cho dân họp chợ, trao đổi sản vật. Vậy là đời Thần Nông đã có trùng quái rồi, đời Hạ và đời Chu sau Thần Nông cả mấy ngàn năm, không lẽ còn làm việc trùng quái nữa. Mà thuyết thứ nhì cũng khó tin: Thần Nông làm công việc trùng quái rồi lại do hình tượng và tên một quẻ ông đã tạo ra (quẻ Phệ Hạp) mà nảy ra ý họp chợ?
Rốt cuộc, nếu tin ở Hệ từ thì phải chấp nhận thuyết thứ nhất: chính Phục Hi tạo ra 8 đơn quái, rồi thấy nó không đủ để thông thần minh chi đức, loại vạn vật chi tình, nên tự trùng, tức tự chồng các quẻ lên nhau thành 64 trùng quái.
Nhưng Phục Hi (và cả Thần Nông nữa) đều là những nhân vật huyền thoại, và như trên đã nói, bát quái không thể có từ đời Thương trở về trước được. Vậy thì chỉ có thể do một người nào đó trong đời Ân tạo ra bát quái, rồi có lẽ Văn Vương đời Chu làm công việc trùng quái. Thuyết này trái với Hệ từ truyện thật, nhưng Hệ từ truyện đáng tin hay không?
Đa số các nhà Dịch học đời sau chấp nhận cả thuyết Phục Hi lẫn thuyết Văn Vương, cho nên chúng ta thấy họ dùng cả tiên thiên bát quái (họ cho là của Phục Hi) và hậu thiên bát quái của Văn Vương, do đó có hai cách trùng quái: một cách theo tiên thiên bát quái, một cách theo hậu thiên bát quái.
Theo tiên thiên bát quái, có thể bắt đầu từ quẻ Càn hay quẻ Khôn. Dù bắt đầu từ quẻ nào thì cách chồng quẻ cũng như nhau: mỗi đợt theo chiều ngược kim đồng hồ, gặp quẻ Càn (nếu bắt đầu từ quẻ Khôn) hoặc gặp quẻ Khôn (nếu bắt đầu từ quẻ Càn) thì ngừng lại, rồi quay trở lại bắt tiếp từ quẻ bên cạnh mà theo chiều thuận kim đồng hồ, chồng nốt cho hết tám quẻ. Bắt đầu từ quẻ Khôn: Khôn chồng lên Khôn thành quẻ Thuần Khôn (quẻ số 0); Cấn chồng lên Khôn thành quẻ số 1; Khảm số 2; Tốn số 3; tới đây đổi sang chiều thuận kim đồng hồ, bắt từ quẻ Chấn: Chấn chồng lên Khôn thành quẻ số 4; Li số 5; Đoài số 6; Càn số 7, tức quẻ Thiên Địa Bĩ. Thế là hết một vòng, một quẻ Khôn đẻ ra tám quẻ từ số 0 đến số 7. Qua vòng thứ nhì, lại bắt đầu từ quẻ Khôn mà chồng lên Cấn theo đúng thứ tự đó, được 8 quẻ nữa từ số 8 đến 15. Chồng đủ 8 vòng như vậy được 8 hàng, 64 quẻ, quẻ cuối cùng, số 63, là quẻ Thuần Càn.
Trùng quái theo cách thứ nhì, dùng hậu thiên bát quái, thì bắt đầu từ quẻ Càn rồi tuần tự theo chiều thuận kim đồng hồ mà chồng: quẻ Càn lên, được quẻ Thuần Càn; quẻ Khảm lên, được quẻ Sơn Thiên Đại Súc... tới quẻ cuối cùng là quẻ Đoái, được quẻ Trạch Thiên Quải. Hết một vòng, được một nhóm 8 trùng quái. Qua vòng thứ nhì, bắt đầu từ quẻ Khảm mà chồng lại từ đầu, được thêm 8 trùng quái nữa. Chồng hết 8 vòng, được đủ 64 trùng quái. Cách chồng này giản dị hơn cách trên, được nhiều sách dẫn, nên dù không nói rõ là của Văn Vương, người ta vẫn quen gọi là cách của Văn Vương.
Chồng theo cách nào thì kết quả cũng như nhau, và cũng có 8 quẻ thuần (thuần nghĩa là Càn lại chồng lên Càn, Khảm lại chồng lên Khảm, Cấn lại chồng lên Cấn...).
Ngoài ra, các sách bói và lí số còn có một cách sắp quẻ theo từng nhóm nữa. Chẳng hạn nhóm trùng Càn gồm:
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
| Thuần Càn | Thiên Phong Cấu | Thiên Sơn Độn | Thiên Địa Bĩ | Phong Địa Quán | Sơn Địa Bác | Hỏa Địa Tấn | Hỏa Thiên Đại Hữu |
Chúng ta nhận xét sự biến đổi của các hào dương thành âm theo thứ tự từ dưới lên: lên đến hào 5 (ở quẻ Sơn Địa Bác) thì biến ngược trở xuống, âm thành dương.
Nhóm trùng Khảm gồm Thuần Khảm, Thủy Trạch Tiết, Thủy Lôi Truân, Thủy Hỏa Ký Tế, Trạch Hỏa Cách, Lôi Phong Hằng, Địa Hỏa Minh Di, Địa Thủy Sư...
Trong mỗi nhóm như vậy, quẻ Thuần là quẻ cái, còn 7 quẻ kia là quẻ con. Cách này chắc xuất hiện từ đời Ngũ Đại hay đời Tống và chỉ dùng vào việc bói hay đoán số, nên biết qua vậy thôi, không cần nhớ.
Nội quái và ngoại quái
Mỗi quẻ trùng gồm hai quẻ đơn: quẻ đơn ở dưới gọi là nội quái, quẻ ở trên gọi là ngoại quái. Ví dụ quẻ Thiên Phong Cấu thì Thiên, tức Càn, là ngoại quái; Phong, tức Tốn, là nội quái.
Mỗi quẻ trùng gồm sáu hào, đánh số từ dưới lên: hào 1 gọi là Sơ, hào 2 là Nhị, hào 3 gọi là Tam, hào 4 gọi là Tứ, hào 5 gọi là Ngũ, hào trên cùng không gọi là Lục mà gọi là Thượng.
Gọi là nội quái, ngoại quái vì khi sắp theo vòng tròn, quẻ đầu ở trong (nội) gần trung tâm, còn quẻ chồng lên nó ở ngoài (ngoại), xa trung tâm hơn. Vì có việc chồng hào và chồng quẻ như vậy nên khi tìm hiểu ý nghĩa, khi đoán quẻ, phải xét từ dưới lên, từ hào Sơ lần lần lên tới hào Thượng. Nhưng khi gọi tên quẻ thì theo thứ tự từ trên xuống, cho nên gọi là Địa Thiên (chứ không phải Thiên Địa) khi ngoại quái là Khôn (địa) và nội quái là Càn (thiên); còn chữ ở sau – như Thái – mới là tên riêng chỉ nghĩa của quẻ: Thái là yên ổn, thông thuận.
Một thí dụ nữa: quẻ Thủy Hỏa Ký Tế. Đọc tên quẻ đó phải hiểu ngay: ngoại quái (ở trên) là Khảm (thủy), nội quái (ở dưới) là Li (hỏa). Hào Sơ, hào Tam, hào Ngũ là dương; hào Nhị, hào Tứ, hào Thượng là âm. Còn Ký Tế là nghĩa của quẻ: đã thành, đã xong, đã qua sông.
Một số sách bói, lí số còn dùng thêm hỗ quái. Mỗi trùng quái có hai hỗ quái: hỗ quái 1 gồm hào 2, 3, 4; hỗ quái 2 gồm hào 3, 4, 5. Ví dụ quẻ Địa Thiên Thái có hai hỗ quái là Đoài và Chấn.
Ba loại Dịch thời nhà Chu
Tác phẩm đầu tiên nói về Kinh Dịch là cuốn Chu Lễ. Theo từ điển Từ Hải, tác phẩm này mới đầu có tên là Chu Quan, chép về quan chế (chế độ quan lại, tước lộc) đời Chu, xuất hiện sau đời Khổng Tử và Mạnh Tử, khá phổ biến thời Chiến Quốc; Lưu Hâm (con Lưu Hướng), dưới thời Hán Ai Đế và Vương Mãng, mới đổi tên là Chu Lễ.
Sách đó chép đời Chu có ba loại bói, có quan thái bốc giữ ba loại Dịch: Liên Sơn Dịch, Quy Tàng Dịch và Chu Dịch.
Về nguồn gốc của Liên Sơn Dịch và Quy Tàng Dịch, có ba bốn thuyết, đều không tin được. Người thì bảo Liên Sơn là của Phục Hi, Quy Tàng của Hoàng Đế; người lại bảo Liên Sơn của Thần Nông, Quy Tàng của Hoàng Đế; người lại bảo Liên Sơn là dịch của nhà Hạ, lấy quẻ Cấn làm đầu (có lẽ vì Cấn là núi mà Sơn cũng là núi); còn Quy Tàng là dịch của nhà Thương, lấy quẻ Khôn làm đầu (có lẽ vì Khôn là đất, mà Quy Tàng có nghĩa là muôn vật đều từ đất sinh ra rồi lại trở về đất). Nhưng hai loại Dịch đó đều đã mất – mà theo các nhà khảo cổ học thì từ đời Thương trở về trước chưa hề có hình bát quái – ngày nay chỉ còn Chu Dịch.
Có điều này chắc chắn là cách bói bằng cỏ thi khá thịnh hành từ trước thời Khổng Tử. Trong bộ Xuân Thu Tả truyện (của Tả Khâu Minh) có chép nhiều chuyện bói cỏ thi của các vua chúa. Khổng Tử tuy không cầu đảo, không bói, mà trong thiên Tử Lộ, bài 22, cũng nhắc tới tục hay bói thời đó, và dẫn lời hào từ hào 3 quẻ Hằng trong Chu Dịch.
Văn Vương và những lời Thoán từ đầu tiên
Vì không có thuyết nào khác, chúng ta có thể chấp nhận rằng Văn Vương nhà Chu là người đầu tiên có công với Chu Dịch.
Văn Vương tên là Cơ Xương, là một chư hầu của nhà Ân, được vua Trụ phong làm Tây Bá, tức chư hầu lớn nhất ở phương Tây, vào khoảng tỉnh Sơn Tây ngày nay. Ông có tài, có đức, được lòng dân, và nhiều chư hầu theo ông, muốn giúp ông diệt vua Trụ tàn bạo, dâm loạn. Ông không nghe họ, vẫn trung với Trụ, vì vậy mà Khổng Tử, trong thiên Vi Chính bài 20, khen ông là được hai phần ba thiên hạ theo mình mà vẫn thần phục nhà Ân, không cướp ngôi: "đức của nhà Chu như vậy có thể nói là cực cao".
Nhưng vua Trụ thấy thiên hạ theo ông quá, đâm nghi ngờ, bắt giam ông vào ngục Dữu Lý năm -1144, hai năm sau (có sách nói bảy năm) mới thả, giao cho ông cầm quân chinh phạt các dân tộc nổi loạn. Nhờ được Lã Thượng (Lã Vọng) giúp sức, ông hoàn thành nhiệm vụ rồi mất năm -1135.
Trong khi bị giam ở ngục Dữu Lý, có thể ông đã làm việc trùng quái, và chắc chắn là ông đã đặt tên và tìm nghĩa cho 64 quẻ, rồi viết Thoán từ (cũng gọi là Quái từ) cho mỗi quẻ. Nhờ ông mà ý nghĩa mỗi quẻ mới tinh diệu, lời đoán mới tương đối minh bạch, công việc đoán cũng nhất trí hơn trước, không còn cảnh mỗi quan thái bốc đoán theo ý riêng của mình nữa.
Nhưng lời đoán của ông rất ngắn, mỗi quẻ chỉ được một câu, chẳng hạn: quẻ Càn là "nguyên, hanh, lợi, trinh", nghĩa là quẻ đó có những đức đầu tiên lớn, thuận thông, tiện, phải bền chặt. Quẻ Thái là "tiểu vãng, đại lai, cát, hanh", nghĩa là âm qua dương lại, tốt lành, hanh thông. Quẻ Ký Tế là "hanh, tiểu, lợi trinh, sơ cát, chung loạn", nghĩa là việc nhỏ thì hanh thông, lợi nhưng phải vững chí; mới đầu tốt lành, cuối cùng loạn.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương I.
