Bài tổng quan
Cung Càn Trong Lục Hào Tượng Giải: Quán, Bác, Tấn Và Đại Hữu
Phong Địa Quán, Sơn Địa Bác, Hỏa Địa Tấn và Hỏa Thiên Đại Hữu là bốn quẻ cuối của cung Càn, mỗi quẻ mang một tượng riêng rõ nét. Quán là gió thổi trên mặt đất, đi khắp mọi nơi, quan sát hết thảy, mang tượng chờ đợi, cầu quan sẽ được. Bác là núi cao có nguy cơ bong ra từng mảng, chỉ còn một hào dương ở cực vị, làm gì cũng phải cẩn thận. Tấn là quẻ du hồn, tượng Thái Dương vừa từ mặt đất thăng lên, chủ tiến lên, tấn thăng. Đại Hữu là quẻ quy hồn, như châu báu mỹ lệ đầy nhà, tượng giàu có và được quý nhân trợ giúp. Theo An Hạ, mỗi hào gắn với một hình ảnh cụ thể, như hào năm là ngũ quan, hỏa là con mắt, Phụ Mẫu là tin tức.
Mục lục · 3 phần
Phong Địa Quán
Càn cung: Phong Địa Quán
Tổng quan: Trên Gió dưới Đất là gió thổi trên mặt đất, vạn vật sinh sôi, quốc vận hưng thịnh, là tượng cầu quan sẽ được. Có hàm ý quan sát, chờ đợi, biểu hiện ra ngoài. Mang đạo nghĩa ra trước, mọi người ngưỡng mộ bậc Cửu Ngũ Chí Tôn. Xem quẻ phần lớn có tượng đi du lịch, hoặc chờ đợi quan sát.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Tốn, là gió; quẻ nội là Khôn, là đất. Gió thổi trên mặt đất, đi khắp mọi nơi, quan sát hết thảy.
Lục hào tượng: Phụ Mẫu trì Thế, được hào năm Tị hỏa đến sinh; hào năm là ngũ quan, hỏa là con mắt, Phụ Mẫu là tri thức, tin tức, chính là dùng mắt xem thi đấu, thu hoạch tin tức.
Quẻ này Thế và Ứng đều là Tài khố. Nội ngoại quái tuy đều có Tài, có Quan, nhưng Tài đã có thể nhập Thế khố cũng có thể nhập Ứng khố, Quan đã có thể sinh Thế cũng có thể sinh Ứng, cho nên bên trong có tranh chấp. Là yên lặng theo dõi kỳ biến, chờ đợi thời cơ có lợi.
Bên trong quẻ này bao hàm ý quan sát, phán đoán, chờ đợi, tranh đoạt, thám thính.
Ví dụ 5-1
Ngày Tân Mão tháng Hợi, một người đàn ông xem công việc, được quẻ Phong Địa Quán.
Xem công việc lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Quan Quỷ Nguyệt phá nhưng được Nhật sinh phù, không tính là hưu tù. Nguyệt là lãnh đạo cấp trên, xung phá Quan Quỷ: mình không có hậu thuẫn, làm quan không lớn.
Phụ Mẫu là Tài khố, lâm Chu Tước, chủ chưởng quản văn thư quyền lực; đồng thời là Tài khố, có tượng lợi dụng chức vụ tham ô chút tiền.
Quan Quỷ lưỡng hiện, hiện tại đứng trước lựa chọn, có hai việc để phát triển. Nếu như hướng theo Tài mà phát triển thì rất có tiền đồ. Nhưng quẻ là Phong Địa Quán, có tượng quan sát, mình do dự không xác định, không thể quyết đoán.
Thế và Ứng đều là Phụ Mẫu Mùi thổ, Ứng là đất dưỡng của hào Thế, là tượng được người khác thu dưỡng. Quan Quỷ phá mà lưỡng hiện, Quan Quỷ là tên, có hai tính danh, là ý có làm con thừa tự cho người khác.
Phán đoán phù hợp thực tế. Người này là một quan nhỏ trong chính phủ nhưng thu nhập không nhiều. Hiện có một công ty tư nhân mời làm quản lý, nhưng anh ta đang do dự bất định, sợ công ty tư nhân vạn nhất kinh doanh không tốt, bỏ nhà nước rồi sau không có đường lui. Từ nhỏ anh ta đã bỏ họ Lý, nhận làm con thừa tự cho họ Lương.
Ví dụ 5-2
Ngày Tân Sửu tháng Tuất, một người xem hôn nhân, được quẻ Phong Địa Quán.
Người này tuy là quan nhưng lại quá chú trọng kinh doanh, quá chú trọng tiền bạc mà không quan tâm vợ, nên vợ bỏ theo người khác. Nhưng hiện tại người này chưa muốn ly hôn, vì nếu ly hôn sẽ phải chia tài sản.
Quẻ này xem như thế nào? Thê Tài lưỡng hiện, hoàn toàn giống nhau, lấy hào gần hào Thế làm Dụng thần. Thê Tài Mão mộc là Đào Hoa, lâm Thanh Long chủ mỹ mạo, háo sắc. Vợ người này hẳn là lẳng lơ.
Hào Thế là Tài khố, ám động, làm Tài nhập kho: xem tiền quá nặng, chỉ lo kiếm tiền. Hào Ứng ám động làm Tài nhập mộ, cho nên có người đoạt vợ.
Quẻ Phong Địa Quán có tượng quan sát, cho nên bây giờ chờ vợ đòi ly hôn chứ tự mình không đề cập đến. Vì nếu bản thân đề nghị ly hôn, tòa án nhất định sẽ phán cho đối phương một khoản tiền lớn, dạng người coi trọng tiền như mạng thế này chắc chắn không nguyện ý.
Sơn Địa Bác
Càn cung: Sơn Địa Bác
Tổng quan: Cấn ở quẻ ngoại, núi cao mà có nguy cơ bong ra từng mảng; âm hào trưởng thành, chỉ còn thừa một hào dương đã đi đến cực vị, làm gì cũng cần cẩn thận, không thể hành động mạo muội. Có ý bong ra từng mảng, rớt xuống, ăn mòn. Quẻ này âm thịnh dương suy, âm dương không cân đối, tiểu nhân đắc thế, nên ẩn nhẫn, chờ thời mà hành động. Xem công việc dễ mất chức, giảm lương, bất hòa với người khác, không hòa thuận với đồng sự. Quẻ Bác đại hung, tiểu nhân đương đạo.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Cấn, là núi, là chỗ cao; quẻ nội là Khôn, là địa. Từ trên núi tới mặt đất, chính là từ chỗ cao rơi xuống. Cho nên cổ nhân lấy tên là Bác. Bác là hạ xuống, rơi rụng.
Lục hào tượng: Thế ở hào năm. Hào năm là tôn vị, là cao cao tại thượng. Mà Ứng ở hào hai là đất tuyệt, làm cho tứ cố vô thân, vị trí cao không thể giữ mãi, muốn đoạt vị, cho nên gọi là Bác.
Từ trong quẻ tượng kéo dài thêm một chút, quẻ này bao hàm hạ lạc, thất vọng, hạ xuống, cơn sóng nhỏ, bị xa lánh, sống yên ổn nghĩ đến ngày gian nguy.
Ví dụ 6-1
Ngày Quý Mùi tháng Tý, một người xem quan vận, được quẻ Sơn Địa Bác biến Bát Thuần Khôn.
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Quan Quỷ bị Nguyệt khắc, lại không được Nhật thần sinh nên hưu tù. Tuy có Thê Tài động đến sinh Quan Quỷ, nhưng một là Quan Quỷ bản thân hưu tù không có rễ, hai là bởi vì Thê Tài nhập mộ tại Nhật lại hóa hồi đầu khắc, khó mà sinh phù Quan Quỷ. Dự đoán thăng quan là rất bất lợi.
Tử Tôn trì Thế, quẻ là Bác, Bác là hạ xuống, rơi rụng. Lần này lên chức nhất định không thành, có khi còn bị giáng chức.
Về sau quả nhiên không được lên chức.
Ví dụ 6-2
Ngày Quý Dậu tháng Dần, một người xem bệnh của bố, được quẻ Sơn Địa Bác biến Thủy Địa Tỷ.
Lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần. Hào Phụ Mẫu lưỡng hiện, lấy hào Phụ Mẫu Tuất thổ không vong làm Dụng. Phụ Mẫu là thổ, lâm hào bốn, bị Nguyệt khắc thương; hào bốn là dạ dày, thổ cũng chủ dạ dày, nhất định là bệnh dạ dày. Dụng thần hưu tù lâm Câu Trần, Câu Trần chủ sưng, cho nên đoán là ung thư.
Kị thần lâm Nguyệt, ở trong quẻ phát động, tháng này sẽ gặp nguy hiểm. Thê Tài Mão mộc ám động hợp trụ Dụng thần Tuất thổ; bệnh lâu sợ xung không sợ hợp, cho nên đoán ngày Thìn xung Dụng thần, sinh mệnh sẽ nguy hiểm.
Quẻ tên là Bác. Bác là rơi, đại biểu sinh mệnh giống như thiên thạch trên trời muốn rơi xuống. Phụ thân là trụ cột trong nhà, cho nên gặp được quẻ này, lại thêm Dụng thần không tốt, khẳng định rất hung. Hóa ra quẻ Du hồn, là hồn du Tây Thiên.
Sau vì bệnh nặng không cách nào trị liệu, hôm sau xuất viện, bỏ trị liệu, ngày Canh Thìn mất.
Ví dụ 6-3
Ngày Tân Dậu tháng Ngọ, một người xem con gái thi đại học có đỗ được không, được quẻ Sơn Địa Bác biến Sơn Thiên Đại Súc.
Lấy Quan Quỷ và hào Phụ Mẫu làm Dụng thần. Quẻ này Quan lâm Nguyệt kiến, lại động hóa hồi đầu sinh; Quan vượng Phụ vượng, vốn là cát tượng, nhưng hào Thế không vong lại Nguyệt phá. Quẻ tên là Bác, Bác là rơi rụng, có tượng thi trượt, cho nên đoán con gái cô ta thi trượt.
Thực tế: Không đỗ.
Ví dụ 6-4
Ngày Đinh Hợi tháng Dậu, một người xem tài vận, được quẻ Sơn Địa Bác biến Địa Thủy Sư.
Lấy Thê Tài làm Dụng thần. Trong quẻ Thê Tài lưỡng hiện, lấy hào Thê Tài Dần mộc phát động làm Dụng thần. Tài được Nhật sinh phù. Hào Thế lâm hào năm, hào năm là tôn vị, có ý cao cao tại thượng, nên hẳn là người phát tài. Nhưng trong quẻ Tài bị Nguyệt khắc thương, bị Nhật hợp ngăn trở, lại động hóa hồi đầu khắc, tình cảnh hiện tại phi thường không tốt.
Quẻ tên là Bác, Bác là rơi xuống. Tài vận của anh ta giảm xuống rất nhiều, đang đứng ở đáy cốc. Tài ở hào sáu, hào sáu là hào vị thoái phục, cũng là hào vị cuối cùng; hào sáu là tay, Tài hóa hồi đầu khắc, nếu hỏi cầu tài, liền cho thấy anh ta muốn tiền nhanh nhưng tiền tới tay lại không được.
Hào Thế lâm Tý thủy, lâm Huyền Vũ, ở Càn cung. Càn là đầu, thủy chủ trí, Huyền Vũ chủ cơ linh, chứng tỏ đầu óc anh ta phi thường thông minh, rất có đầu óc buôn bán. Đáng tiếc hiện tại vận khí rơi thảm. Tài động sinh Ứng, là có cơ hội phát tài nhưng người khác được mà mình không được.
Trong quẻ Quan Quỷ Tị hỏa lâm hào hai, Câu Trần phát động. Quan Quỷ là tượng bất an, cũng chủ kiện cáo cãi vã; Câu Trần chủ kiến trúc, sửa chữa và chế tạo; Hỏa chủ hơi ấm, phòng bếp. Tị hỏa đối ứng năm 2001 (Tân Tị), cho nên đoán năm 2001 vì cải tạo hệ thống sưởi mà có kiện cáo.
Hào sơ là hàng xóm, lâm Phụ Mẫu chủ nhà ở, không vong là không có người; đoán chỗ ở dưới lầu không có người ở.
Hào ba Mão mộc Nguyệt phá. Hào ba là giường, Mão mộc là phía Đông, Nguyệt phá là khe hở. Giường của anh ta dựa vào phía Đông có khe hở.
Các phán đoán ở trên quả nhiên đều đúng. Trước đây ít năm anh ta kiếm được không ít tiền, sau đó ngày càng sa sút; cùng người khác hùn vốn làm ăn, khi đi đàm phán, đối phương và người cùng đi hợp tác với nhau mà không hợp tác với anh ta. Năm 2001 vì sửa chữa hệ thống sưởi mà bị thưa kiện. Ở nhà cao tầng, tầng một là cửa hàng nhưng không cho thuê. Giường ngủ của anh ta quả nhiên có khe nứt. Anh ta hỏi cái này có quan hệ với tài vận không? Trong quẻ hào ba lâm Tài Nguyệt phá, đương nhiên là có quan hệ.
Hỏa Địa Tấn, Hỏa Thiên Đại Hữu
Càn cung: Hỏa Địa Tấn (du hồn)
Tổng quan: Trên Ly dưới Khôn, tượng mặt trời chiếu sáng mặt đất, vạn vật mềm mại phụ thuộc. Có ý tiến lên, tấn thăng, tấn cấp, tiến kiến. Có ý sẽ tiến thêm một bước về phía trước, phát triển ý tưởng, hoặc mở rộng sự nghiệp quy mô, thăng quan, tấn cấp. Gieo được quẻ này lợi cho học hành, không ngừng tiến bộ. Cầu tài, hỏi cưới không tốt. Lợi cầu tên, cầu quan.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Ly, là lửa, là Thái Dương. Quẻ nội là Khôn, là địa. Thái Dương ở trên, đại địa ở dưới, tổ hợp chính là Thái Dương từ mặt đất vừa mới thăng lên, cho nên lấy tên là Tấn. Cổ nhân nói Tấn là thăng, chính là ý này.
Lục hào tượng: Hào sơ là mặt đất, lâm Phụ Mẫu; Phụ Mẫu chủ mặt đất, lâm thổ lại là đất, cho nên hào sơ chính là đại địa. Hào hai là hào vị cao hơn mặt đất, lâm Tị hỏa, giống như Thái Dương vừa xuất khỏi mặt đất. Mà lại nhìn hào sáu, hào sáu là trời, hào này có lục thân tương tự hào hai, cho thấy mặt trời vừa xuất khỏi mặt đất đã đến trên trời. Cũng là tượng lên cao.
Cho nên quẻ này bên trong bao hàm lên cao, tiến lên, hướng lên, phát đạt, hưng thịnh, hăm hở tiến lên.
Ví dụ 7-1
Ngày Kỷ Sửu tháng Mão, một người xem quan vận, được quẻ Hỏa Địa Tấn.
Dự đoán quan vận lên chức, lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Quẻ này Quan Quỷ được Nguyệt kiến sinh phù, tuy khắc Thế nhưng đây là quẻ tĩnh nên không sao. Kết hợp với tên quẻ, vốn hẳn có thể lên chức, thế nhưng hào Thế Nguyệt phá, lại nhập mộ tại Nhật, chính là đang ở vào khốn cảnh, thân bất do kỷ. Cho nên rất khó lên chức.
Kết quả: Không được lên chức.
Ví dụ 7-2
Ngày Ất Mão tháng Mão, xem thân bệnh, được quẻ Hỏa Địa Tấn biến Thủy Địa Tỷ.
Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế Nguyệt phá Nhật phá, kị thần ở hào sáu động đến khắc Thế; hào sáu là đầu, trong Càn cung cũng chủ đầu, là trên đầu có bệnh. Thế bị mộc xung phá, mộc chủ thần kinh, là thần kinh suy nhược. Xung phá hào Thế chính là Mão mộc, trong quẻ lâm hào ba, hào ba là giường: giấc ngủ mười phần không tốt.
Quẻ là Tấn, Tấn là thăng. Hào Thế không vong, là lâng lâng; thêm quẻ tượng, đoán thường mơ thấy bay trên không. Thế động hóa thoái, lại từ trên trời rơi xuống.
Quả nhiên là dạng này.
Càn cung: Hỏa Thiên Đại Hữu (quy hồn)
Tổng quan: Ly Hỏa như mặt trời soi chiếu vạn vật, biểu tượng thiên mệnh, được lòng người. Quẻ tên Đại Hữu chỉ hết thảy mọi người, nghĩa rộng là lớn, giàu có. Đại Hữu là giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau, khiêm tốn cùng người hợp tác thì mọi người mới có thể quy thuận.
Quẻ tượng: Quẻ ngoại là Ly, là mỹ lệ, lại là Thái Dương; quẻ nội là Càn, là châu báu, là trời. Có thể hiểu thành rất nhiều châu báu mỹ lệ, cũng có thể lý giải là mặt trời dương quang phổ chiếu. Cho nên cổ nhân nói Đại Hữu là rộng rãi, khoan dung. Là rất giàu có, lại ân trạch tứ phương.
Lục hào tượng: Thế được Ứng là Quan đến tương sinh; Quan Quỷ là quý nhân, được trợ giúp bởi quý nhân. Tài lâm hào hai, hào hai là nhà, chính là nhà có tài sản, tài bảo đầy nhà. Huynh Đệ hợp Thế, bằng hữu nhiều, cho nên cũng phù hợp ý Đại Hữu, rộng rãi khoan dung.
Từ những tượng này mà xem, quẻ này có ý là giàu có, rộng rãi, rộng lớn, nhân từ, bao dung.
Ví dụ 8-1
Ngày Canh Tuất tháng Tị, một người đàn ông xem có thăng quan được không, được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu.
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần. Quan Quỷ lâm Nguyệt, lâm Ứng sinh Thế, là tượng đại cát. Hào Thế bị Nhật xung mà ám động, văn thư Phụ Mẫu trì Thế, nhất định sẽ lên chức. Hào Ứng sinh Thế, người khác đối với anh ta rất tốt; hào Thế ám động, tương hợp với Huynh Đệ Dậu kim, Huynh Đệ là bạn bè, người này giao tế rất rộng.
Quẻ này là Đại Hữu, cổ nhân nói Đại Hữu là rộng rãi, khoan dung. Chính là phù hợp với người này mặt mũi lớn, giao tế rộng.
Người này năm Giáp Thân cầu xem, năm Ất Dậu Phụ Mẫu gặp thời điểm hợp mà được lên chức.
Ví dụ 8-2
Ngày Đinh Hợi tháng Mùi, một người đàn ông xem sức khỏe và tài phúc, được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu biến Bát Thuần Ly.
Quan Quỷ ám động sinh Thế, là tượng có công danh. Thê Tài Dần mộc trường sinh tại Nhật, động đến khắc Thế; Thế lại vượng tướng, chính là tượng Tài đến tìm ta, tài vận tốt. Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu có ý rộng lớn, tương lai phát triển tiền đồ rất rộng.
Trên thực tế người này tốt nghiệp đại học, hiện có mấy trăm vạn.
Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)
