Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Can chi ứng tạng phủ và bệnh sinh từ năm hành

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Can chi ứng tạng phủ và bệnh sinh từ năm hành

Giáp là mật, Ất là gan, Quý là thận, còn Tý thì chỉ chỗ kín nhất của thân người; người xưa gom cả thân thể vào mấy câu vần để khi xem Tứ trụ chỉ cần nhìn ra chữ nào đang bị khắc. Thủy nhiều mộc trôi thì da khô nứt, hỏa nhiều đốt mộc thì mắt nổi tia đỏ, kim bị lửa nung thì phổi lên tiếng trước...


Năm hành, mười can, mười hai chi ứng vào từng bộ phận cơ thể

Muốn xem bệnh trong Tứ trụ, trước hết phải biết mỗi hành, mỗi can, mỗi chi cai quản chỗ nào trên thân người. Bảng ứng hợp dưới đây đi từ hành lớn xuống từng can chi.

Mộc

Mộc cai quản gan, mật, đầu, gáy, khớp xương, cơ bắp, mắt, thần kinh, tứ chi và tóc.

  • Giáp: đầu và mật.
  • Ất: gan và gáy.
  • Dần: cánh tay, tứ chi, mật, gân, mạch máu, lông tóc và huyệt phong môn.
  • Mão: gan, ngực, mắt, bàn tay, móng và gân.

Hỏa

Hỏa cai quản tiểu tràng, tim, vai, máu huyết, kinh nguyệt, khuôn mặt, răng, lưỡi, bụng, thần kinh, mạch máu và huyết áp.

  • Bính: vai và tiểu tràng.
  • Đinh: tim và máu huyết.
  • Tị: mặt, răng, màng bao tim, tam tiêu và yết hầu. Tam tiêu là cách gọi của Đông y: thượng tiêu gồm lưỡi, thực quản, tim phổi; trung tiêu là dạ dày; hạ tiêu gồm ruột non, ruột già, thận và bàng quang.
  • Ngọ: tim, bụng, tiểu tràng, mắt, lưỡi và thần khí.

Thổ

Thổ cai quản lá lách, dạ dày, sườn, bụng, lưng, ngực, phổi, da thịt và các khối u.

  • Mậu: dạ dày và sườn ở thiên can; lưng và phổi ở địa chi.
  • Kỷ: lá lách và bụng.
  • Thìn: lưng, ngực, gáy, vai và da thịt.
  • Sửu: bụng, bao tử, lá lách và bắp thịt.
  • Mùi: lá lách, ngực, bao tử, bụng, miệng, môi và răng.
  • Tuất: mệnh môn, ngực, gân, mông, cẳng chân, đầu gối và bàn chân.

Kim

Kim cai quản phổi, đại tràng, gan, rốn, đùi, tiếng ho, khí quản, mũi, da, bệnh trĩ, hệ hô hấp, xương cốt và răng.

  • Canh: ruột và rốn.
  • Tân: phổi và bắp đùi.
  • Thân: tiếng ho, phổi, đại tràng, gân cốt, kinh lạc và âm thanh.
  • Dậu: phổi, mũi, da lông và tiếng nói.

Thủy

Thủy cai quản thận, bàng quang, cẳng chân, bàn chân, đầu, xương chậu, đường tiểu, bộ phận sinh dục, lưng, tai, tử cung, túi tinh hoàn, máu huyết và mồ hôi.

  • Nhâm: bàng quang và cẳng chân.
  • Quý: thận, bàn chân và tinh dịch.
  • Tý: bộ phận sinh dục, tai, eo lưng, tinh dịch và nước tiểu.
  • Hợi: thận, đầu, bao tinh hoàn, tủy và tinh dịch.

Cổ quyết chia can chi và bát quái lên thân người

Trước khi tìm bệnh, người xưa gom cả bảng ấy vào mấy câu vần để dễ thuộc.

Giáp mật Ất gan Bính tiểu tràng,
Đinh tim Mậu vị Kỷ lá lách.
Canh là đại tràng Tân thuộc phổi,
Nhâm hệ bàng quang Quý thận tàng.
Tam tiêu cũng hướng gửi trong Nhâm,
Bao lạc đồng quy nhập Quý phương.

Giáp đầu Ất gáy Bính cầu vai,
Đinh tim Mậu sườn Kỷ thuộc bụng.
Canh là cuống rốn Tân thuộc đùi,
Nhâm cẳng Quý chân từ một thân.

Tý thuộc bàng quang, tai thủy đạo,
Sửu là bụng ruột và lá lách.
Dần mật, phát mạch cùng hai tay,
Mão là mười ngón, trong là gan.
Thìn thổ là loại da, vai, ngực,
Tị mặt, răng, họng, mông, hậu môn.
Ngọ hỏa tinh thần giữ đôi mắt,
Mùi thổ dạ dày cách sống lưng.
Thân kim đại tràng, kinh lạc, phổi,
Dậu là tinh huyết tàng tiểu tràng.
Tuất thổ mệnh môn, cẳng bàn chân,
Hợi thủy là đầu cùng nang thận.

Ngọ đầu Tị Mùi đều hai vai,
Trái phải hai tay là Thìn Thân.
Mão Dậu hai sườn Dần Tuất cẳng,
Sửu Hợi bàn chân Tý là âm.

Chữ Tý ở câu cuối chỉ bộ phận sinh dục. Tám quẻ cũng được xếp lên thân người theo cùng cách ấy: Càn là tay, Khôn là bụng, Khảm là hai tai, Chấn là chân, Tốn là đùi, Cấn là tay, Đoài là miệng, Ly là mắt. Cổ nhân dặn: phàm xem bệnh tật thì cứ theo những chỗ này mà tìm.

Mộc: gan mật, thần kinh, tóc và gân

Cây thuộc gan mật và thần kinh, nên mộc nghiêng lệch thì nơi lên tiếng đầu tiên là đầu, mắt và gân.

Giáp mộc gặp hỏa nhiều thì phần lớn mắc bệnh thần kinh. Nhật can là Giáp mộc, lưu niên lại thiên khắc địa xung với trụ ngày thì dễ có họa tổn thương ở đầu. Giáp Ất đứng trước mà thấy Canh Tân thì kỵ nhất là đầu mặt: Canh Tân khắc Giáp Ất làm đầu mặt bị thương, phá tướng. Giáp Ất không gốc mà sợ gặp Thân Dậu, vì gặp chỗ Sát hợp ấy thì chắc chắn đôi mắt bị mù. Mộc bị kim làm tổn thương thì gân cốt, eo, sườn, lưng đau nhức.

Mộc quá vượng thì bệnh là treo cổ lên xà nhà tự vẫn, bị hổ ăn, rắn cắn. Mộc quá nhược hoặc ở đất tử tuyệt thì phần nhiều choáng váng hoa mắt, khí huyết không điều hòa, hai bên tóc mai thưa thớt, đau thần kinh; nặng thì có bệnh gan mật, tổn thương chân cẳng.

Thủy mộc sinh nhau mà quá vượng thì hay mắc nhiều chứng: dạ dày hư, tim yếu, miệng hôi, khạc nhổ, ăn ít, thân thể suy nhược, mạch chìm yếu, bụng không có lực, mặt thiếu máu. Thủy mộc quá nhiều làm tổn thương tỳ vị, tức dạ dày và lá lách. Kim thủy nhiều mà mộc thối hư, Giáp mộc lại rất suy, trong cục không có hỏa khai thông thì dễ sinh bệnh sỏi thận, bệnh hói đầu. Thổ nhiều mộc gãy, cục táo thổ quá nhiều, mộc khí cực nhược thì tóc dễ chẻ nhánh hoặc gãy từng đoạn.

Giáp là mật, Ất là gan; Giáp Ất còn đại diện cho tóc và thần kinh giao cảm. Thủy nhiều mộc trôi, Giáp mộc cực nhược thì dễ mắc tỳ thấp, nghĩa là lá lách bị ẩm ướt; nặng thì da khô nứt, nhẹ thì hói đầu không mọc tóc. Hỏa nhiều đốt mộc, mộc khí nhược thì không gan hư cũng đỏ mắt, mắt thường nổi tia hồng.

Trong Bát Tự, mộc là hỷ dụng mà gặp cường kim xung khắc thì phần lớn có trở ngại về thần kinh giao cảm, nếu không thì có bệnh gan mật, cũng phải đề phòng tai nạn xe cộ và ngoại thương. Cuối cùng là một câu nhỏ: ngày Giáp Thân, Ất Dậu thì trẻ em thường mắc bệnh gan.

Thổ: tỳ vị, bụng sườn và da thịt

Đất là cái bụng của cơ thể; đất nhược hay đất táo đều khiến người mất khẩu vị, nặng nề tay chân.

Mậu Kỷ kỵ Dần Mão, ở đất hưu tù thì phát bệnh lớn. Can có Mậu hoặc Kỷ, địa chi thấy Dần Mão thì trong nhà có người mắc bệnh tứ chi, bệnh tê liệt, hoặc có người nằm liệt giường. Nhật can là Mậu hoặc Kỷ thì phải phòng bệnh cho chính mình. Ngày Kỷ mà một Sát, ba Tài, hai hỏa thì chủ bệnh mắt. Ngày Kỷ tháng Tuất, hỏa thần vô khí, thủy nhiều kim nhiều, mắt mờ rồi khép lại.

Hỏa thổ sinh nhau mà quá vượng thì thường chướng bụng, ăn uống tuy không khác thường nhưng ăn vào là đầy ắp hoặc nặng nề, hay khạc nhổ, tim yếu. Thổ hư mộc vượng ắt tổn thương tỳ vị. Hỏa thổ bốc sáng thì mắt phát đục đến mù. Thổ hư mộc thịnh ắt thương tàn. Thổ nhiều thì hói đầu.

Thổ quá nhược hoặc tử tuyệt thì sắc mặt vàng, ăn ít, tứ chi uể oải, thích nằm thích ngủ, lo nghĩ nhiều, ngại cử động; lại thường phù thũng, nấm chân, miệng hôi, đau răng. Nặng hơn thì có bệnh tiêu hóa, bệnh ngoài da.

Tứ trụ hoặc tuế vận có hai Thìn xung Tuất, hoặc hai Tuất xung Thìn thì dễ mắc bệnh dạ dày, lá lách, bệnh hoa liễu. Có hai Sửu xung Mùi, hoặc hai Mùi xung Sửu thì dễ bệnh lá lách, can khí không hòa hay cáu gắt, phù thũng, ăn uống kém, trung khí không đủ. Trung khí theo Đông y là khí trong dạ dày, giúp tiêu hóa thức ăn và nuôi cơ thể.

Mậu thổ và Đinh hỏa đều nhược mà trong cục thấp khí quá nhiều thì dễ loét dạ dày, xuất huyết bao tử. Mậu thổ gặp Giáp mộc khắc đến tuyệt, hoặc bị Quý thủy hợp hóa, trong khi Mậu là hỷ dụng thần mà lại bị xung, cũng sinh chứng xuất huyết bao tử. Mậu thổ nhược, kim vượng nhiều, tiết khí thái quá thì mắc chứng sa dạ dày. Trong Tứ trụ hỏa vượng thổ suy, hoặc thủy nhiều thổ nhược, đều là dấu hiệu bệnh ngoài da. Trụ có thổ, thổ kim thấp nặng không thông thì lưng và bàn chân nặng nề; Kỷ Mão, Kỷ Dậu thấy ở ngày giờ là bị thấp khí, chủ lưng bàn chân nặng, máu không thông.

Nhâm Thìn, Mậu Thìn đứng ở vị trí Thiên Cương. Mệnh Mậu Kỷ thổ hoặc mệnh Nhâm thủy gặp Dần Mão mộc lại thêm một chữ Thìn thì nam nhi bệnh tiểu tràng sưng dái, đau bụng cấp; nữ mệnh thì mắc bệnh kinh nguyệt.

Sửu Tuất Mùi là tam hình, chủ bệnh tứ chi khó khỏi. Thìn là Thiên Cương, Mão là Thái Xung, Thìn Mão cùng có thì lưng và bàn chân đau nhức. Sửu Ngọ tương hại, chủ bệnh lâu ngày trong bao tử, trong bụng. Tý Mùi tương hại, Tý thủy gặp Mùi thổ thì sinh bệnh tỳ vị. Sau cùng, thổ quá vượng thì bệnh là núi sụp đá đè, tường đổ bùn rơi.

Kim: phổi, đại tràng, xương cốt và răng

Kim là hơi thở và xương; kim bị lửa nung hay bị nước tiết đều lộ ra ở phổi, ruột và răng.

Đại tràng có bệnh là do Bính Đinh khắc tổn Canh Tân. Canh Tân hướng phương Thân Dậu thì có họa cướp binh, người mất mạng. Trụ có đủ bốn chữ Canh, Tân, Thân, Dậu thì có họa đổ máu, tứ chi thương tàn, đánh nhau bị thương; trong trụ hỏa nhiều hoặc nạp âm hỏa nhiều thì càng ứng nghiệm. Thu kim sinh Ngọ, Bính hỏa thấu lộ, vận tới phương Nam là máu chảy trên đường. Tam hợp hỏa thần vượng thịnh khắc Canh Tân thì tổn thương đầu mặt và bệnh về khí huyết. Tân kim ngày Hợi, tháng gặp Tuất, đầu vận đi thủy thì phải phòng bệnh mắt.

Kim nhược gặp hỏa vượng thì bệnh về máu là không sai. Kim chủ phổi, bị hỏa xung khắc thì thành bệnh do tửu sắc. Kim gặp thủy vượng thì tổn thương gân cốt. Thổ kim sinh nhau mà quá vượng thì khí thường hư, hay đầy bụng, bí tiểu, miệng khát. Kim quá vượng thì bệnh là đao kiếm hình thương.

Kim quá nhược hoặc tử tuyệt thì chú ý các chứng khí hư, ho khan, da khô nứt, khớp xương đau, đại tràng kiết lỵ ra máu, hô hấp không thoải mái, hay cảm mạo; nặng thì có thể mắc bệnh phổi. Kim bị hỏa khắc thì hệ hô hấp có bệnh, vì kim chủ phổi; nếu lại có mộc trợ hỏa khắc kim thì mộc chủ phong hàn nên thường cảm mạo. Kim suy không sinh nổi thủy thì lúc cảm hay chảy nước mũi.

Tân kim đại diện cho phổi và khí quản. Thổ dày chôn kim, Tân kim yếu mà thấp khí nặng thì dễ mắc thũng phổi hoặc lao; nếu là táo thổ nặng thì dễ viêm phổi, lao phổi. Tân kim nhược gặp cường thủy tiết quá mức thì dễ cảm mạo, trước nóng sau lạnh, sinh đàm, dễ ho. Tân kim nhược mà cường hỏa đến khắc thì lúc cảm phần nhiều viêm họng, khô miệng, ho khan rồi sau đó sợ lạnh sợ nóng. Thủy vượng Tân kim nhược, hoặc thổ cường chôn kim thì viêm khí quản, nghẹt mũi, ho khan.

Nữ mệnh khi Canh kim nhược mà có thai, sinh nở, nhất là dễ đau lưng mỏi nhừ, gân cốt buốt, thích ăn đồ cứng giòn. Khi Tân kim nhược, thì hay phát bệnh răng hoặc tức ngực, thích đồ xốp mềm, đặc biệt thích mùi thơm.

Trong mệnh Bính Canh đều vượng, lại gặp táo thổ bao kim thì thường bí tiểu, bệnh trĩ. Mệnh cục kim nhược lại gặp cường mộc, cường thủy cướp tiết thì xương cốt dễ giòn, gân cốt dễ thương. Canh kim đại diện cho xương, Tân kim đại diện cho răng. Cường mộc xung Canh kim hoặc cường hỏa khắc Canh kim thì phần nhiều chủ thương xương cốt; cường mộc xung Tân kim hoặc cường hỏa khắc Tân kim thì phần nhiều viêm răng hoặc bệnh khoang miệng.

Kim nhiều thủy đình trệ: Canh kim cường, Nhâm thủy nhược thì dễ sỏi bàng quang; Canh kim cường, Quý thủy nhược thì dễ sỏi thận. Canh Dần, Tân Mão mà ghét bề trên thì bệnh lao xương. Người sinh Tân Hợi, Tân Mão, thấy ngày hoặc giờ Ất Mão thì chủ bệnh đầu mặt hoặc khuyết môi. Tân Sửu kim thấy Bính Ngọ hỏa thì chủ tứ chi đau nhức ở phần dưới. Kim thủy Thương quan thì lạnh sinh ho khan, nóng sinh đàm hỏa.

Thủy: thận, bàng quang và đường tiết niệu

Nước đóng băng, nước cạn hay nước tràn đều chạm vào thận và đường tiểu.

Hỏa thổ nấu khô Quý thủy thì hai mắt không còn con ngươi, tật về mắt. Kim thủy khô thương thì thận ắt hư. Nhâm Quý thêm thổ vượng thì phần dưới cơ thể hao hư. Hợi Tý thêm Tị Ngọ thì mắt có tật. Trong trụ Hợi Tý nhiều thì chủ sưng bìu dái. Thủy quá nhược hoặc tử tuyệt thì dễ viêm thận, xuất huyết não, cận thị và các bệnh hệ tiết niệu. Bệnh lạnh ở phần dưới, ắt là thủy gặp hỏa làm tổn thương. Thủy quá vượng thì bệnh là chết chìm.

Cách Thuần Nhuận Hạ mà trở lại sinh khí, thần thanh cốt tú, hoặc thừa vượng đi Đông Nam thì trúng gió bị câm. Kim thủy sinh nhau mà quá vượng thì khí không thông, ho suyễn, ho khan, nghẹt mũi, buồn bực bất an, hay thấy dưới ngực như bị thương, thở gấp, khát miệng.

Trong trụ nhiều Hợi, nhất là nguyệt lệnh cũng là Hợi thì có thể bệnh phong thấp, vì trong Hợi có Nhâm thủy và Giáp mộc, mộc đại diện cho thần kinh, mộc ngâm chìm trong thủy là đau thần kinh phong thấp. Nhâm thủy đại diện cho bàng quang, Quý thủy đại diện cho thận; Tứ trụ thủy vượng, thủy khuyết hoặc thổ thịnh thủy nhược đều dễ mắc bệnh bàng quang, thận.

Nam mệnh Quý thủy lạc vào mộ lại gặp hình xung khắc phá, hoặc bị vượng hỏa hun đúc lâu ngày thì ắt thận hư, thận thủy không đủ. Nam mệnh sinh mùa đông, thủy khí kết băng, Tứ trụ không có mộc khai thông, không có hỏa làm tan băng thì thận thủy đóng băng không thông, dẫn đến liệt dương hoặc xuất tinh sớm, đến mùa đông càng nặng. Mệnh cục thủy vượng kim suy, hoặc mộc vượng thủy suy, về già nhất định bệnh đường tiết niệu. Người sinh Lục Quý, địa chi đủ Hợi Tý Sửu mà trong cục không có thổ thì dòng chảy xiết không định; ở đất hưu tù thì sinh bệnh thận.

Hỏa: tim, máu, mắt và tiểu tràng

Lửa là ngọn đèn của tim; sáng quá hay tối quá đều làm người bất an.

Hỏa gặp thủy khắc thì mắt mờ tối. Tứ trụ hỏa nhiều thì thiếu niên có bệnh máu mủ. Hỏa quá vượng thì bệnh là đêm ngủ điên đảo, rắn hại, lửa thiêu. Hỏa quá nhược hoặc tử tuyệt thì dễ bệnh tim, nhiễm trùng máu, viêm khớp, nấm chân, bệnh mắt; hằng năm bệnh nhẹ, đến trung niên thì chủ tràng vị không tốt.

Mộc hỏa sinh nhau mà quá vượng thì hỏa khí bốc lên: đau mắt đỏ, nhức nửa đầu, ù tai, chóng mặt, khó tập trung, tim bị đè nặng, thở gấp, lại bí tiểu, chi dưới tê, phong thấp. Bính hỏa quá vượng tất liên lụy tiểu tràng, thị lực, mắt, thần kinh. Bính hỏa đại diện cho tiểu tràng, Canh kim đại diện cho đại tràng; trong Tứ trụ Bính Canh đều nhược mà thủy thổ đặc biệt cường thì phần nhiều bệnh đường ruột.

Trong Tứ trụ mộc nhiều, thủy không thông, Bính hỏa cực nhược thì thần kinh não bị kích thích quá mức, tinh thần không vững. Thủy nhiều thổ nhược mà hỏa bị che, Bính hỏa cực nhược, hoặc trong cục Thương quan vượng mà Bính hỏa nhược thì thần kinh suy nhược, tinh thần rạn nứt. Mệnh cục Bính hỏa vượng, Canh kim nhược thì thị lực thường tốt, nhưng thính lực kém, không linh mẫn hoặc hay ù tai.

Mệnh cục Đinh hỏa nhược lại nhập mộ thì dễ bệnh tim; gặp thêm hình xung khắc hại thì vì bệnh tim mà phải mổ. Đinh hỏa nhược, thổ khí cường thì chắc chắn thiếu máu, vì Đinh hỏa đại diện cho huyết dịch của tim, bị thổ vượng tiết khí nên khí huyết thiếu hụt tan tác. Trong mệnh có cường thủy áp khắc nhược hỏa thì dễ cao huyết áp hoặc tim đập nhanh. Đinh hỏa cường mà thổ khí nhược thì thường huyết áp hơi thấp, tim đập nhanh, ngực khó chịu, thở hổn hển.

Người Bính Đinh hỏa, vận tới đất Thân Dậu thì chủ khẩu thiệt. Thân Tị gặp hình thì cánh tay có bệnh: trụ có chữ Thân, chữ Tị thì cánh tay bệnh, hoặc bị thương, viêm khớp, viêm bả vai; can chi nạp âm tương khắc thì họa nặng, như trụ Giáp Thân thủy khắc Ất Tị hỏa. Sinh mùa đông mà không có hỏa thì chi dưới hàn lạnh.

Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc