Bài tổng quan
Phối thang theo mệnh, hành thiện tích đức, giữ chính đạo giải hạn
Năm nào cũng có một mùa tỉ kiếp, quan sát hay thực thương đi qua, và mỗi mùa lại kéo theo một chỗ yếu của cơ thể: tim, phổi, gan hay thận. Nhưng bên cạnh thang thuốc còn có thứ khó cân đo hơn, là điều lành mà người xung quanh lặng lẽ cầu chúc cho một người hiền. Hai nhà láng giềng thù nhau đến mức dán bùa chú đối diện cửa nhau, vậy mà chỉ một tuần sau cả hai tự tay xé bỏ...
Năm nào cũng có một mùa tỉ kiếp, quan sát hay thực thương đi qua, và mỗi mùa lại kéo theo một chỗ yếu của cơ thể: tim, phổi, gan hay thận. Nhưng bên cạnh thang thuốc còn có thứ khó cân đo hơn, là điều lành mà người xung quanh lặng lẽ cầu chúc cho một người hiền. Hai nhà láng giềng thù nhau đến mức dán bùa chú đối diện cửa nhau, vậy mà chỉ một tuần sau cả hai tự tay xé bỏ...
Phối thang theo mệnh: bảy cách nhìn năm vận để bồi đúng chỗ
Người nhật chủ vượng mà gặp vận hay năm tỉ kiếp, chẳng hạn nhật nguyên Bính hỏa vượng gặp năm hay vận Bính, Đinh, thì tâm hỏa cường vượng quá mức; gặp tiếp Giáp, Ất thì khí gan dội ngược trở lại. Nếu không mắc bệnh thì cũng sinh tranh chấp, phá tài; đó là những phản ứng xì hơi để cơ thể tự điều tiết. Sau tranh chấp, hao tài tốn của, khí vượng xẹp xuống nên lại không bệnh. Tỉ kiếp ở hành nào cũng gây hiện tượng tích tụ phát sốt, hoặc khắc chế hành bị khắc, hoặc khắc ngược hành đang khắc mình. Ví dụ nhật nguyên Bính hỏa nóng thì gây bệnh tim, phiền muộn, dễ bực tức, hoặc gây gổ tranh chấp; hoặc khắc phế kim gây bệnh phổi. Cách bồi bổ có thể là xì hơi tâm hỏa, dưỡng âm của tâm, hoặc tư dưỡng phế kim, hoặc tư dưỡng thận thủy, hoặc dùng tổng hợp.
Người nhật chủ nhược mà gặp vận hay năm quan sát, chẳng hạn nhật nguyên Tân kim gặp vận hay năm Bính hỏa, thì phế khí tất bất túc, sức đề kháng yếu; nếu không đau ốm thì cũng bị Đinh hỏa gây ra những việc tương ứng như tai nạn hay kiện tụng. Tùy tình hình cụ thể mà bồi bổ khí cho phế kim, tì thổ, thận thủy: thủy có thể khắc hỏa, thổ có thể hóa giải hỏa, kim có thể chống hỏa để dập tắt tai nạn.
Người nhật chủ vượng mà gặp vận hay năm kiêu, ấn, như nhật nguyên Kỷ thổ gặp năm Bính hay Đinh, thì khí tâm hỏa và tì thổ tất thái quá. Thổ táo không sinh được phế kim, hỏa vượng khắc kim, đặc biệt với người Tân kim bốc mạnh thì phổi bị tổn thương, không ốm đau cũng gặp điều xấu. Nên giảm hỏa, làm yếu thổ, nhuận kim. Người nhật chủ nhược mà gặp năm hay vận thực thương thì khí gan sẽ bất túc, không ốm đau cũng gặp rủi ro, cần bổ gan; tứ trụ hỏa vượng thì nên giảm hỏa.
Người nhật chủ nhược mà gặp năm hay vận tài, như nhật nguyên Quý thủy gặp năm Bính hay Đinh, thì hỏa khắc ngược thủy, thần khí bất túc, không ốm đau cũng gặp điều xấu. Nên bổ thận, chú ý dưỡng gan; người tứ trụ hỏa vượng còn nên làm thanh thần. Tóm lại phải nắm chắc thời cơ của mệnh.
Người thương quan gặp quan, các thiên can xung khắc nhau, đều nên thông quan. Ví dụ nhật nguyên Canh kim, trụ tháng có Quý thủy, gặp năm Đinh, thì phải xem trụ ngày mạnh hay yếu. Mạnh thì không cần bổ phế, chỉ dùng thuốc dưỡng gan, để thủy hỏa thông quan điều hòa; lại xem Quý thủy hay Đinh hỏa cái nào là dụng thần, cái nào có thể bị tổn thương mà điều bổ cho thích đáng. Nếu nhật chủ yếu thì kiêm bổ phế kim.
Người thuộc loại địa chi tương xung, tương hình đều chọn cách thông quan, đồng thời cân nhắc quan hệ giữa dụng thần với nhật chủ. Thìn, tuất, sửu, mùi xung nhau thì phải xem dụng thần và nhật chủ mạnh hay yếu. Hễ gặp thìn tuất sửu mùi xung thì dễ bệnh ở tì, vị và thận; dùng thủy tư nhuận hoặc dùng mộc để làm nhẹ bớt.
Hành thiện tích đức: khí huyết hài hòa, lòng người cộng hưởng
Người hành thiện tích đức thì lòng thư thái, tính cởi mở, khí huyết hài hòa nên mạnh khỏe, ít bệnh. Người làm điều ác thì lòng gian dối, thâm trầm, suốt ngày lo nghĩ, khí huyết rối loạn, cơ thể rối bời, tự chuốc lấy nhiều bệnh tật. Người hành thiện được nhiều người yêu mến, ngưỡng mộ, mọi việc dễ hanh thông, sự nghiệp tốt đẹp. Người làm ác bị nhiều người thù ghét, việc làm trắc trở, cuối cùng tinh lực khô kiệt, suy vong.
Đó mới chỉ là một mặt; còn những điều sâu xa hơn. Trong vũ trụ tồn tại nhiều trường năng lượng. Cơ thể là một tiểu vũ trụ, cũng có năng lượng riêng, từng giờ từng phút nối thông với các trường năng lượng bên ngoài. Trường năng lượng trong cơ thể có thể được điều chỉnh bằng ý niệm. Ý niệm và tư duy của con người sinh ra một trường thông tin nhất định, đồng thời là môi trường truyền năng lượng, có thể truyền thông tin đến người khác. Trong đời sống ta thường thấy: khi người mẹ ốm, nhớ đến đứa con nơi xa thì người con cảm thấy khác thường; vừa nhắc đến ai thì người ấy bỗng xuất hiện; mắt giật liên hồi là do có ai hay nhắc đến mình. Từ đó thấy ý nghĩ của con người không chỉ chi phối bản thân mà còn tác động ra xung quanh; thông tin tốt hay xấu sinh ra những kết quả tương ứng.
Người hành thiện tích đức thì người khác, tự giác hay không tự giác, cũng mong cầu chúc những điều tốt đẹp cho người ấy. Trường tư duy tốt đẹp ấy gây nên những làn sóng cộng hưởng, tất dẫn đến hiệu quả tốt, có thể hóa hung thành cát. Ngược lại, người hành vi độc ác không tránh khỏi bị nhiều người trách mắng; đến lúc tội ác nhiều đến mức không hóa giải nổi thì gặp tai họa, không ai cứu được.
Chính đạo và tà khí: vì sao người đi hóa giải phải giữ mình
Trên đây mới bàn về sức mạnh của trường tư duy ở người bình thường. Với người có nhân duyên bẩm sinh, lại được rèn luyện nhất định, trường lực phát ra vượt gấp nhiều lần. Giáo phái nào khi thi lễ hành đạo cũng đều dựa vào sức mạnh của ý niệm để nối thông con người với trời đất. Vì sao tà giáo có hại cho con người còn tôn giáo chân chính lại có ích? Vì sao tà giáo cuối cùng gây hại cho bản thân và con cháu? Tất cả là do tà giáo không được lòng người, đi ngược quy luật tự nhiên của trời đất, thế cô lực yếu; còn tôn giáo chân chính thuận lòng dân, hợp quy luật trời đất nên thế mạnh lực lớn, kết cục tà thua chính, tất đi đến diệt vong.
Nhưng chính và tà xưa nay là một cặp mâu thuẫn; giải quyết xong mâu thuẫn này lại phát sinh mâu thuẫn khác, nên đừng hy vọng đời sống thực tế không có tà. Xét toàn cục thì tà thua chính, song xét từng mặt thì luôn có lúc chính không thắng được tà, vì hai mặt của mâu thuẫn luôn chuyển hóa thịnh suy. Người gặp năm tai ách là lúc chính khí yếu, tà khí nào cũng có thể xâm phạm. Sự nối thông thông tin giữa người nhờ hóa giải và người đi hóa giải thường có quỹ đạo qua lại: khi tà khí xâm phạm người nhờ hóa giải, vì bị kháng lại nên tự nhiên phản hồi theo quỹ đạo, tác động lên người đi hóa giải. Nếu lúc ấy chính khí của người đi hóa giải yếu thì bị tà khí tấn công; kết quả không những không hóa giải được tai ách mà còn rơi vào bản thân mình. Điều này không phải chỉ nghe nói mà thực tiễn chứng tỏ như thế, nhất là khi hóa giải những hạn lớn đều cảm nhận được. Những lần hóa giải không cảm nhận gì thường là hóa giải không hiệu quả, hoặc đó là hạn nhẹ, hạn không đáng có.
Trường tư duy làm điều thiện cũng gây ra sóng cộng hưởng, tạo sự cố kết tốt đẹp, hội tụ điều lành, gặp hung hóa cát. Tương tự, người hay làm ác mà không chịu hối cải khó tránh bị mọi người quở trách; ác tích lại đến mức không hóa giải nổi, thấu tận trời đất, tất dẫn đến tai họa.
Những người làm mệnh học, người tín ngưỡng tôn giáo, trong mệnh đều có những dấu hiệu thông tin như thái cực, hoa cái, thực thương, thổ nhiều. Đó là cái ta thường gọi là có thiên duyên, và tất nhiên còn những nhân tố khác. Điều ấy về cơ bản giống với những dấu hiệu dễ bị tà quái làm hại, chẳng qua khác nhau ở mức độ mệnh cục tốt xấu, sự vượng suy của ngũ hành và hành vi thiện hay ác. Vì bẩm sinh cơ bản giống nhau nên giữa những người này rất dễ nối thông cảm ứng thông tin, dù là tà hay chính, và cũng dễ nối thông những cảm ứng thần bí. Nếu không sớm theo chính đạo thì dễ sa vào tà đạo hoặc bị tà khí xâm hại. Loại người ấy một khi đã theo chính đạo, được học tập và huấn luyện thì dễ nối thông với các bậc thầy, tạo nên một trường lực lớn. Dù không theo giáo phái nào, không được tập luyện đặc biệt, họ vẫn nhạy cảm hơn người thường và phát ra trường thông tin mạnh hơn, nên cần biết dùng cho đúng. Chỉ cần học một môn huyền học như mệnh học, dù có thầy trực tiếp truyền thụ hay chỉ đọc qua sách vở, họ vẫn như đã nhập vào một giáo phái, đều có thể nối thông thông tin, chỉ khác nhau ở chỗ trực tiếp hay gián tiếp.
Lời đọc, tên gọi và chỗ nương tựa của người giải hạn
Người làm mệnh học suốt ngày tiếp xúc với các ký hiệu âm dương ngũ hành, như một sự tu luyện về lực tụng niệm; vì vậy một bậc đại sư đọc lên một câu hay đặt tên cho một người nào đó đều có thể làm giảm điều xấu. Với trẻ nhỏ mà mệnh cục thiếu thủy, đặt tên là Hà hay Hải, khi người khác gọi lên sẽ tạo nên dòng cảm xúc lớn, giống mầm héo gặp cơn mưa, giúp tươi tỉnh trở lại; đó là nhờ sức vang vọng của lực đọc, đánh thức tầng sâu thẳm của tâm linh. Khổng Tử nói: người quân tử ở trong phòng nói một câu, thiện thì ứng xa ngàn dặm, lời ác cũng lan xa ngàn dặm. Cho nên tâm không chính thì nghề không tinh, và một câu nói lành có thể hóa giải được tai ách.
Người có lòng muốn hóa giải tai ách, sẵn sàng đồng cam cộng khổ với mọi người, là tấm lòng công đức bao la. Nhưng nếu chỉ dựa vào sức đơn lẻ của mình thì hiệu quả chẳng cao; nên nương một chính giáo nào đó, dựa vào những bậc đại sư đã thành đạt và sự hỗ trợ của cả môn phái, mới không sợ lâm nguy, trấn áp được tà giáo, và nhờ lòng từ bi mới cảm thấu thần linh. Tự do tín ngưỡng là điều được tôn trọng và bảo vệ. Từ kinh nghiệm thực tiễn, rất nhiều cơn lâm nguy có cứu đều rơi vào những người phụng thờ chân chính đức Phật; xưa nay các bậc hiền triết đại tuệ cùng sự hóa giải tai ách cho bản thân hầu như đều nương ân đức của Phật. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni dạy: mỗi người đều có Phật tính chân chính. Vì vậy mỗi người đều có thiện duyên.
Hai nhà láng giềng vì tranh chấp mà thù nhau. Đầu năm 1995 nhà B xin một lá phù chú dán trước cửa nhà, rồi từ đó không đi lối ấy nữa, mặt phù chú chiếu vào cửa sau nhà A. Kết quả nhà A hao tài, cả nhà ít nhiều đều ốm, không ai dám đứng ra hóa giải. Mùa thu năm 1996, nhà A nhờ người hóa giải. Người ấy phát lòng từ bi, hòa giải cho hai nhà, viết một lá phù chú dán vào phía trong cửa sau nhà A (người ngoài không nhìn thấy), đối diện với phù chú của nhà B. Đúng một tuần sau, hai nhà làm hòa, đều tự giác xé bỏ phù chú. Thế giới quả thần kỳ đến thế: Phật pháp vô biên, không làm hại người, khuyên người làm điều tốt, quay đầu lại là bờ.
Một người phụ nữ có lá số Bính ngọ, Giáp ngọ, Bính ngọ, Tân mão, đại vận Tân mão, lưu niên Bính tý. Năm 1996 gặp ngang vai, xung kình dương, nên nhờ hóa giải. Giai đoạn trước đã vượt qua thuận lợi, tài vận tốt. Ngày 2 tháng chạp có người đặt trộm một lá bùa yểm trong nhà; sáng ngày 5 tháng chạp lại phát hiện thêm một lá nữa. Trưa ngày 5, người chồng mang bùa đến cho người hóa giải xem. Gieo được quẻ ngày Ất mão, tháng Tân sửu: Hỏa Lôi Phệ Hạp, gồm các hào Phúc tị (Thanh long), Tài mùi thế (Huyền vũ), Quan dậu (Bạch hổ), Tài thìn (Phi xà), Huynh dần ứng (Câu trần), Phụ tý (Chu tước).
Quẻ này hào ứng khắc hào thế, tức là bên đối phương làm; Câu trần mang ám muội, Huyền vũ cũng ám muội. Hào ứng được nhật phù trợ, nghĩa là có người thầy giúp. Hào thế bị nguyệt phá, nên bản thân và vợ con chịu thiệt. Theo quẻ mà hành sự thì tà khí phải tan. Người hóa giải đến nhà ấy, trước hết đặt la bàn giữa tâm nhà, xác định theo phương mùi một vị trí ngoài vườn cạnh nhà, cùng người chồng đào ở đó một cái hố; rồi đốt hương thỉnh đức Phật phù trợ trấn tà, và chôn lá bùa yểm cùng một đồng xu bạc xuống hố. Sau đó chuyển bàn thờ của chủ nhà từ phương sửu sang phương ngọ trong nhà, yêu cầu vợ chồng sớm tối dâng hương. Chỉ ba ngày sau, ông thầy cho bùa yểm ấy lộ nguyên hình, đến tận nhà xin thú nhận.
Bùa yểm vốn là vật làm thông tin của ông thầy ấy. Đồng bạc là kim khắc mộc nên ông thầy không chịu nổi. Mùi là mộ kho của đối phương, ai yểm thì người ấy phải chịu rủi ro. Chủ nhà dâng hương ở phương ngọ, hỏa sinh mộc, sinh cho hào thế, hợp lại để giải xung.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
