Bài tổng quan
Dụng thần làm hạt nhân: sinh phù, thông quan và điều hầu
Cây mùa xuân cần lửa sưởi, kim mùa đông cần hỏa ấm, hai hành đang giằng co cần một hành đứng giữa nối lại. Mọi lá số đều có một vị thuốc như vậy, và vị thuốc ấy gọi là dụng thần. Chọn sai một chữ, cả đời có thể đi lệch…
Dụng thần là hạt nhân của cả lá số
Mệnh cục của Tứ trụ lấy dụng thần làm hạt nhân. Dụng thần vững, có lực hay không ảnh hưởng đến cả một đời người. Dụng thần có bổ cứu được hay không ảnh hưởng đến các vận trình. Vì vậy dụng thần không những không được để tổn thương mà còn phải được sinh trợ thì mới tốt.
Khi lực của dụng thần chưa đủ, trong Tứ trụ có thứ sinh trợ cho nó, hoặc có những cái hình, xung, khắc, hại để làm mất, chế áp hay hợp mất hung thần, thì đó là sự cứu ứng cho dụng thần. Với những lá số khuyết dụng thần, hỉ thần có tác dụng như cây khô gặp mùa xuân, mầm non được tưới tắm. Mối quan hệ cứu ứng ấy chặt chẽ như môi với răng.
Lá số mà ngũ hành sinh vượng, dụng thần có lực thì phú quý đều đặn là điều chắc chắn. Dù chức cao cũng không gặp họa lớn, đường thanh vân bằng phẳng đi lên, đó là mệnh phú quý chân chính. Có người không đến mức tướng soái nhưng cũng là bậc phú hào, hoặc làm quan đứng đầu một vùng, đời bằng phẳng không thất bại lớn. Loại Tứ trụ ấy rất ít gặp, cho nên tìm đúng dụng thần cho lá số là việc cực kỳ quan trọng. Tìm được dụng thần thì hỉ thần cũng dễ nhận ra. Còn muốn biết dụng thần sinh phù hay khắc chế hung thần được bao nhiêu thì phải xem dụng thần có lực hay không. Lá số nào không có dụng thần thì hỉ thần phải gánh trọng trách ấy, nhưng sức đảm đương yếu hơn dụng thần trong việc cân bằng cho Tứ trụ, và còn phải nhờ tuế vận đến bổ sung.
Hung thần trở thành kị thần khi nó hình, xung, khắc, hại hoặc hợp mất dụng thần, hay làm tổn hại hỉ thần. Kị thần gây họa càng lớn khi gặp tuế vận, đồng thời dụng thần tuy có mặt mà vô lực. Nếu kị thần xuất hiện có lực thì sự khắc hại của nó đối với dụng thần còn gấp bội. Tứ trụ như vậy không tốt.
Hỉ thần và kị thần báo hiệu những việc nào
Dụng thần gặp hỉ hay gặp kị thì việc đời cũng đổi theo từng loại thần.
Quan sát. Làm hỉ của dụng thần thì được quý nhân cất nhắc, thăng quan tiến chức, thi đỗ, trúng cử, uy quyền tăng rõ rệt. Làm kị thì hình khắc quan phù, dễ bị tù ngục, danh dự tổn thất, bị khống chế, liên lụy.
Ấn. Làm hỉ thì công thành danh toại, lên chức được quyền, học thuật tiến bộ, thi cử đỗ đạt. Làm kị thì thân thể mệt mỏi, mất chức mất quyền, danh dự tổn thất, thi hỏng.
Ngang vai, kiếp tài. Làm hỉ thì được lợi, được của, được tay chân giúp sức, đường tình duyên hôn nhân tốt đẹp, bệnh tật mau lành. Làm kị thì tổn thất về thê tài, không lợi cho tình cha con, anh em bất hòa, bạn bè gây cản trở.
Thực thần, thương quan. Làm hỉ thì gặp tin mừng, thêm con cháu, thêm tuổi thọ, con cháu vinh hiển, tài hoa phát triển, chức lộc đều đạt. Làm kị thì con cháu gây liên lụy cản trở, thân nhược, nhiều bệnh, giáng chức, mất chức, học dở dang, thất nghiệp.
Chính tài, thiên tài. Làm hỉ thì hôn nhân thuận lợi, tiền của đều được, hưởng âm đức cha mẹ ông bà, vợ con giúp đỡ, sự nghiệp mở mang. Làm kị thì tài nhiều thân nhược, không được cha mẹ vợ con giúp, làm ăn quẫn bức, được không bằng mất.
Chính quan, chính ấn, chính tài, thực thần được gọi là cát thần, nhưng nếu tổ hợp không tốt hoặc gặp suy, bệnh, tử, tuyệt thì cũng không tốt. Ngược lại thương quan, thiên ấn, thiên tài, thất sát, tỉ kiếp là thần phá hại, nhưng nếu tổ hợp được tốt thì lại bổ cứu được chỗ xấu mà thành tốt. Vì thế hỉ thần, kị thần phải căn cứ vào tổ hợp Tứ trụ riêng của mỗi người mà xác định.
Ba nguyên tắc để dụng thần trung hòa cho lá số
Dụng thần là then chốt để trung hòa, cân bằng mệnh cục, là chuẩn tắc phán đoán cát hung, họa phúc. Chức năng của nó là hạn chế cái mạnh, phù trợ cái yếu: ngũ hành quá vượng thì bị áp chế, xì hơi, hao tán; ngũ hành yếu thì được sinh phù, để mạnh yếu, vượng suy, hàn ôn của các hành tiến về chỗ trung hòa, không còn thái quá hay bất cập. Cách chọn dụng thần không ngoài ba nguyên tắc: sinh phù hoặc áp chế; làm cho thông suốt; điều hầu.
Sinh phù và áp chế
Nhật can là một trong mười phần của lá số. Trụ ngày lấy trung hòa, cân bằng làm chính, thái quá hay bất cập đều là mệnh cục không tốt. Phù trợ là cái sinh ra tôi, tức ấn tinh, và tỉ kiếp cùng vai với tôi, đưa mệnh cục về hướng bình hòa. Áp chế là quan tinh khắc tôi, thực thần xì hơi tôi, tài tinh hao tổn tôi. Trụ ngày suy nhược thì cần được phù trợ, căn cứ vào có bao nhiêu kị thần mà chọn dụng thần.
- Nhật can nhược, quan sát nhiều: lấy ấn tinh làm dụng thần, vừa rút bớt sức quan sát vừa sinh thân. Không có ấn tinh thì lấy tỉ kiếp để trợ thân.
- Nhật can nhược, tài tinh nhiều: lấy tỉ kiếp làm dụng thần để áp chế tài, trợ giúp tôi. Không có tỉ kiếp thì lấy ấn tinh, vừa hao bớt tài vừa sinh thân.
- Nhật can nhược, thực thương nhiều: lấy ấn tinh làm dụng thần để áp chế thực thương và sinh thân. Không có ấn tinh thì lấy tỉ kiếp để trợ thân, bù chỗ bị xì hơi.
Trụ ngày cường vượng thì mệnh cục cần áp chế, hao tổn, xì hơi, cũng căn cứ kị thần nhiều hay ít mà chọn dụng thần.
- Nhật can vượng, ấn tinh nhiều: lấy tài tinh làm dụng thần để áp chế ấn và hao tổn thân. Không có tài tinh thì lấy quan sát để áp chế thân, hoặc lấy thực thương để xì hơi bản thân và hao tổn ấn.
- Nhật can vượng, tỉ kiếp nhiều: lấy quan sát làm dụng thần để áp chế tỉ kiếp, áp chế thân vượng. Không có quan sát thì lấy thực thương để xì hơi tỉ kiếp. Không có cả hai thì lấy tài tinh để hao tổn tỉ kiếp, hao tổn thân vượng.
Thông quan: nối hai hành đang đối đầu
Khi hai loại ngũ hành trong mệnh cục đối lập nhau, thế lực ngang nhau thì cả hai đều tổn thất, lá số ấy có bệnh. Cách chữa là chọn một hành khác khiến hai hành kia sinh hóa bình thường cho nhau, khí thế mệnh cục được lưu thông, gọi là thông quan. Hỏa kim tương tranh thì lấy thổ làm dụng thần. Mộc thổ tương tranh thì lấy hỏa. Thủy hỏa tương tranh thì lấy mộc. Kim mộc tương tranh thì lấy thủy. Thổ thủy tương tranh thì lấy kim.
Lấy thủy và hỏa không dung hòa làm ví dụ: chọn mộc làm dụng thần. Mộc rút bớt thủy, lại sinh hỏa, tính liên tục của ngũ hành được giữ nên là tương sinh, trong khi chỗ cách ngôi vốn là tương khắc. Từ vô tình thành hữu tình, từ đối địch thành bạn hữu, vẫn là nhờ công của dụng thần.
Với mười thần, ấn tinh cũng giữ vai thông quan thật sự khi nhật vượng mà quan sát cũng vượng. Lúc ấy hai bên là một cặp mâu thuẫn, nhật chủ là cái thuẫn hộ thân; thuẫn phải chắc mới đỡ nổi sức mâu. Ấn tinh rút bớt vượng khí của mâu để sinh cho thân, tức là "vừa dùng uy phong diệt địch, vừa tăng thêm chí khí của ta". Nhật vượng, quan sát vượng mà có ấn không đến nỗi vượng quá để sinh thân thì thế lực hai bên cân bằng, không ai bị thương tổn, từ đó được lộc trọng quyền cao. Còn nhật nhược mà quan sát nhiều thì không thể quyền cao chức lớn.
Nhìn vào vòng khắc của mười thần: tài khắc ấn, ấn khắc thương thực, thương thực khắc quan sát, quan sát khắc tỉ kiếp, tỉ kiếp khắc tài. Giữa tài và ấn có quan sát thì thành mạch liên tục để tương sinh. Giữa ấn kiêu và thương thực có tỉ kiếp; giữa thương thực và quan sát có tài; giữa quan sát và tỉ kiếp có ấn; giữa tỉ kiếp và tài có thương thực, đều thành mạch liên tục tương sinh. Chỉ riêng thương thực khắc quan sát là yếu đối với yếu nên không thành mâu thuẫn; còn các cặp khác đều là hai hành đối lập, tính chất khác nhau, cạnh tranh như âm với dương, như cường với nhược, không phân thắng bại, nên mới cần thông quan. Chỉ giữa vượng và nhược đối lập mới cần thông, và phải lấy thân hơi trội một chút làm sợi dây xuyên suốt.
Cần lưu ý: khi tỉ kiếp và tài ngang sức nhau, bất phân thắng bại, mà lấy thực thương để thông quan, xì hơi tỉ kiếp rồi sinh tài, thì nhật nhược mà tài vượng, sự thông quan ấy không còn tác dụng như dụng thần. Trừ khi nhật can vượng, phải lấy dụng thần xì hơi để thông quan sinh tài thì mới gọi là dụng thần. Vậy khi lá số có thế cân bằng tương đối thì cách chọn thông quan như sau: tài tinh và ấn tinh cùng vượng, cùng tranh nhau, chỉ cần có một chút quan sát là thông quan được. Ấn kiêu và thực thương cùng vượng, cùng tranh nhau, nhật can được lệnh thì thông quan được. Quan sát và tỉ kiếp cùng vượng, cùng tranh nhau, cần có một chút ấn tinh là thông quan được.
Điều hầu: chữa lạnh nóng, khô ẩm cho lá số
Đạo trời có ấm lạnh, đạo đất có khô ẩm. Người là khí của trời đất nên chịu ảnh hưởng rõ ràng của quy luật ấy. Người ta lấy ngày sinh làm chủ, lệnh tháng làm đề cương, dựa vào ngũ hành của nhật can và chi tháng để bàn độ ấm lạnh, khô ẩm của mệnh cục. Lạnh quá thì dùng thuốc nhiệt, nóng quá thì dùng thuốc hàn, khiến cho vừa vặn, gọi là điều hầu.
Người sinh tháng hạ, dù can ngày thuộc hành nào, vì quá ấm nên khô nhiều, Tứ trụ không tránh khỏi phải dùng hàn thấp là hành thủy để điều hầu. Người sinh tháng đông, dù can ngày thuộc hành nào vẫn bị hàn thấp mạnh, nên phải điều hầu bằng ôn táo là hành hỏa. Người sinh vào mùa xuân hay mùa thu thì hàn ôn, táo thấp vừa phải, không nhất thiết phải điều hầu bằng thủy hỏa, chỉ cần xét sinh khắc chế hóa giữa các hành.
Ví dụ can ngày là canh kim sinh vào tháng đông mà không có hỏa ấm thì rơi vào kim hàn, thủy lạnh. Canh chủ về gân cốt, gân cốt ở tử địa thì khí huyết không thông sinh bệnh, thậm chí tàn tật. Lá số không có hỏa là thiếu điều hầu, mà thiếu thì phải bổ. Nếu bổ cứu được thì vẫn hanh thông; đến vận hỏa phương nam là có được bổ cứu, không những lợi cho thân thể mà vận mệnh cũng tốt hơn. Người sinh vào cuối bốn mùa cũng có phân biệt hàn, ôn, táo, thấp. Thổ ở trung ương quán xuyến tám phương, không cố định ở phương nào, nên trước lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, mỗi mùa thổ vượng mười tám ngày.
Tính chất khô hay ẩm của mỗi chi cũng không giống nhau. Mão là thuần mộc của mùa xuân, dậu là thuần kim của mùa thu; tháng giữa của xuân và thu thì nóng lạnh vừa phải nên táo thấp không rõ. Tý là thuần thủy nên thấp. Trong sửu có kỷ, tân là thổ thấp, kim thấp vì sửu tàng quý thủy. Trong dần có giáp, mậu là mộc táo, thổ táo vì dần có bính hỏa. Trong thìn có mậu, ất là thổ thấp, mộc thấp vì thìn tàng quý thủy. Trong tị có canh, mậu là kim táo, thổ táo vì tị tàng bính hỏa. Trong ngọ có kỷ là thổ táo vì ngọ tàng đinh hỏa. Trong mùi có kỷ, ất là thổ táo, mộc táo vì mùi tàng đinh hỏa. Trong thân có canh, mậu là kim thấp, thổ thấp vì thân tàng nhâm thủy. Trong tuất có mậu, tân là thổ táo, kim táo vì tuất tàng đinh hỏa. Trong hợi có giáp là mộc thấp vì hợi tàng nhâm thủy.
Từ đây thấy rằng thổ tuy khắc thủy, nhưng khi thủy quá vượng thì tràn khắp nơi thành tai họa, mà lại gặp thìn, sửu là thổ thấp thì không những không chặn được thủy mà còn tăng thế của thủy, vì thìn là kho của thủy, sửu là dư khí của thủy. Thổ tuy xì hơi được hỏa, nhưng khi hỏa quá vượng, đốt cháy nhiều, mà gặp mùi là thổ táo thì không những không làm hỏa mờ đi mà còn tăng thêm thế hỏa, vì tuất là kho của hỏa, mùi là dư khí của hỏa.
Điều hầu giống như trời lạnh thì khoác thêm áo, trời nóng thì cần thoáng mát. Dụng thần ví như thân nhiệt của người, chuẩn là 37 độ, còn quanh 25 độ là dễ chịu nhất, vào dịp xuân thu. Khi nhiệt độ cao hơn bình thường là dấu hiệu sang hè. Người có Tứ trụ khí hỏa thịnh thì trung khí đầy đủ, sợ nóng, thích bơi tắm, ham uống nước giải khát, đó là cách cơ thể điều tiết thân nhiệt theo bản năng. Với hỏa vượng, nhất là nhật can bính, đinh được lệnh làm thân vượng, mệnh cục nhất định phải dùng thủy để điều hầu, đi về phương bắc thủy vượng là có lợi.
Phương bắc ở đây chủ yếu là từ phía bắc Trường Giang trở lên, cũng là phía bắc nơi sinh ra người cha, vì thông tin trong Tứ trụ của mỗi người có nhân tố di truyền. Nếu cha sinh ra ở phía bắc Trường Giang thì lấy nơi sinh của cha làm chuẩn để điều hầu lên phía bắc. Nhờ sự nỗ lực của bản thân về sau, người ấy nhất định thuận lợi hơn người không được điều hầu. Quần áo nên mặc màu đen, vì thủy đại diện cho phương bắc và màu đen; toàn bộ môi trường thông tin quanh người ấy đều lợi khi đã dùng thủy điều hầu.
Mệnh cục kị mộc phương đông sinh hỏa và kị hỏa phương nam là đất thân vượng. Mệnh cục cần thủy điều hầu mà không có thủy thì dù Tứ trụ đã khá cân bằng vẫn thiếu một hành. Dụng thần thông quan có thể không cần đủ cả năm hành mà vẫn có lực, còn dụng thần điều hầu mà khuyết thì Tứ trụ bệnh nặng. Khi ấy phải xem các can canh, tân, nhâm, quý và các chi thân, dậu, tuất, hợi, tý, sửu của vận có bổ cứu được không, hoặc có thủy hợp cục, thủy hội cục để cứu không. Gặp được thì như cá gặp nước, như hạn gặp mưa; không gặp thì Tứ trụ kém.
Ngược lại, nhiệt độ thấp hơn bình thường là dấu hiệu mùa đông đến. Lá số thủy vượng là thiên về hàn, quá thấp. Người như vậy tính cách không yếu, khí cũng còn đủ, trụ ngày vượng ở thủy là nguyên khí đầy đủ. Nhưng khi quá vượng thì thành vấn đề khác: thủy vượng, nhất là nhật can nhâm, quý được lệnh làm thân vượng, thì phần nhiều sợ hàn, thận hư, tức là quá vượng thành hư. Tứ trụ ấy nhất định phải dùng hỏa để điều hầu, nhất là người sinh ngày quý dậu, tức ngày kim thần thân vượng, đi về phương nam thì là "kim thần nhập hỏa hương, phú quý nổi tiếng thiên hạ". Người thủy thịnh còn có thể lấy mộc phương đông để xì hơi thủy và sinh hỏa, nên gặp các vận giáp, ất, bính, đinh, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi đưa hỏa đến điều hầu thì càng tốt.
Dụng thần điều hầu và dụng thần thông quan là loại có tính bổ trợ. Khi đoán mệnh vẫn phải lấy dụng thần sinh phù làm chủ.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
