Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hợp với nhật chủ thì thân, tranh hợp thì tình chẳng chuyên

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Hợp với nhật chủ thì thân, tranh hợp thì tình chẳng chuyên

Hai chữ Nhâm cùng đòi nắm tay một chữ Đinh, ba chữ Bính cùng giành một chữ Tân. Đàn ông không lấy hai vợ, đàn bà không gả hai chồng, vậy mà trong lá số, người đứng cạnh lại chẳng phải lúc nào cũng tranh nhau được. Ai ghen, ai chỉ đứng nhìn, và khi nào hợp mới hóa thành một người khác...


Chỉ nhật chủ hợp thì không bị gọi là hợp mất

Có một trường hợp hợp mà không luận là hợp: khi chính nhật chủ là bên hợp. Năm can dương gặp Tài, năm can âm gặp Quan đều là cái hợp với chính mình; chỉ riêng chữ hợp ấy thì không bị tính là mất. Giả như ngày Ất coi Canh là Quan, ngày chủ là Ất hợp với Canh tức là hợp với Quan của mình, chẳng mất gì. Còn nếu can năm là Canh, can tháng là Ất thì Ất tháng đến trước, hợp mất Canh, ngày chủ không hợp được nữa, đó mới gọi là bị hợp mất.

Với mệnh nữ, ngày Đinh gặp Nhâm tức là chồng đến hợp với mình, vợ chồng gần gũi, tình càng khăng khít. Nhưng nếu can tháng Nhâm đã đi hợp với can năm Đinh từ trước, thì ngày chủ Đinh dù cũng là Đinh cũng không hợp nổi. Khi ấy phu tinh bị chị em hợp mất, thấu ra mà như không thấu.

Nhà bình chú nói thêm: nhật chủ hợp với can khác, trừ khi hợp hóa làm đổi bản chất, đều không luận là hợp mất. Hợp hay không hợp thì tác dụng như nhau, chỉ là hợp thì thân thiết thêm. Hãy xem hai lá số.

Năm Mậu Tuất, tháng Giáp Tý, ngày Kỷ Tị, giờ Mậu Thìn. Hai chữ Mậu ở năm và giờ là Kiếp tài, Giáp ở tháng là Quan tinh. Tháng sinh Thiên Tài sinh Quan, Kiếp tài chập chùng, mừng là Giáp Kỷ hợp nhau, Quan tinh có tình mà chuyên hướng về nhật chủ, kìm chế Tỷ Kiếp để chúng không tranh Tài. Ấy gọi là dùng Quan chế Kiếp hộ Tài.

Năm Mậu Dần, tháng Kỷ Tị, ngày Giáp Dần, giờ Tân Hợi. Mậu ở năm là Thiên Tài, Kỷ ở tháng là Chánh Tài, Tân ở giờ là Quan. Giáp coi Kỷ là Tài, Giáp Kỷ hợp nhau, Tài chuyên hướng nhật chủ.

Các nhà giải thích về chuyện bị hợp mất hay không còn khác nhau. Có cách nói rằng can ở các trụ khác ngoài nhật chủ mà hợp thì hợp Quan là mất quý, hợp Sát là mất tiện; nếu nhật chủ hợp thì hợp Quan là quý, hợp Sát là tiện. Cũng có nơi bàn rằng Giáp coi Tân là Quan, thấu Bính hợp thì Quan mất hẳn; Giáp coi Canh là Sát, thấu Ất hợp thì Sát chẳng còn công thân. Ất coi Tân là Sát, thấu Bính thì mất; Ất coi Canh là Quan, can tháng lại thấu thêm Ất thì Quan vẫn còn, không bị hợp mất. Chỉ có điều nếu Quan ấy là dụng thần thì tình của dụng thần bị chia, không còn chuyên hướng về nhật chủ. Với mệnh nữ lấy Quan làm chồng thì phu tinh chẳng chuyên, có thấu cũng như không.

Nhật chủ tự hợp tuy không thể bị hợp mất, vẫn có phân trước sau. Năm Bính Tuất, tháng Tân Mão, ngày Tân Tị, giờ Mậu Tuất. Bính ở năm là Quan, Tân ở tháng là Tỷ kiên, Mậu ở giờ là Ấn. Một Bính hợp hai Tân, Quan tinh tuy không mất nhưng tình dụng thần không chuyên. Năm Kỷ Dậu, tháng Bính Tý, ngày Mậu Thìn, giờ Quý Hợi. Kỷ ở năm là Kiếp tài, Bính ở tháng là Thiên Ấn, Quý ở giờ là Chánh Tài. Bính hỏa điều hậu là dụng, nhưng Mậu hợp trọn với Quý, nhật chủ có tình hướng về Tài chứ chẳng hướng về Ấn. Quý thủy không thể vượt qua Mậu để khắc Bính, nhưng tình của nhật chủ với dụng thần không chuyên nhất.

Dụng thần có tình mà chẳng hướng ngày chủ, hoặc ngày chủ có tình mà không hướng dụng thần, đều chẳng tốt.

Một trai chẳng lấy hai vợ, một gái chẳng gả hai chồng

Có thuyết gọi là tranh hợp đố hợp: hai Tân cùng hợp một Bính, hai Đinh cùng hợp một Nhâm. Một người đàn ông không lấy hai vợ, một người đàn bà không gả hai chồng; vì thế dù hợp ý đến đâu, tình cũng không chuyên. Nhưng nếu hai can cùng hợp một can mà ngôi vị cách nhau thì không tranh ghen được. Như lá số Canh Ngọ, Ất Dậu, Giáp Tý, Ất Hợi: hai Ất cùng hợp Canh, nhưng cách một chữ Giáp ngày chủ, hợp mất Sát mà giữ lại Quan, phúc không hề giảm. Đó là trụ của một vị thái úy họ Cao.

Nhà bình chú giải thích: hai hợp một thì tình dụng thần chẳng chuyên, nhưng nếu cách ngôi thì chẳng đáng ngại. Lá số năm Canh Thân, tháng Ất Dậu, ngày Quý Mùi, giờ Ất Mão. Canh ở năm là Ấn, hai chữ Ất ở tháng và giờ là Thực thần. Hai chữ Ất cùng hợp Canh nhưng cách một chữ Quý, không có chuyện tranh giành ghét bỏ, cũng chẳng có thói không chuyên. Đó là lá số một nhà họ Chu. Lá số của vị thái úy họ Cao thì hợp mất Sát giữ Quan, hóa khí trợ Quan; lá số nhà họ Chu thì Ấn cách có dụng Thực; cả hai đều không giảm phúc trạch.

Lại một lá số: năm Quý Dậu, tháng Quý Hợi, ngày Mậu Tý, giờ Đinh Tị. Hai chữ Quý ở năm và tháng là Chánh Tài, Đinh ở giờ là Ấn. Hai chữ Quý cùng hợp Mậu, tuy chẳng luận được là hợp thật nhưng đã có ý hợp. Đây là Tài cách dụng lộc và tỷ, Tài hướng nhật chủ, gọi là phú cách, lại không có tranh ghét hay thói bất chuyên. Đó là trụ của một nhà buôn lớn họ Vương.

Vậy thế nào mới thật là tranh hợp đố hợp? Hãy nhìn kỹ ngôi vị. Năm Bính Tuất, tháng Nhâm Thìn, ngày Đinh Mùi, giờ Nhâm Dần. Bính ở năm là Kiếp tài, hai chữ Nhâm ở tháng và giờ đều là Quan. Hai chữ Nhâm kẹp chữ Đinh ở giữa, đó mới là tranh hợp đố hợp. Lá số của một người tên Cố Trúc Hiên là như vậy.

Còn lá số năm Bính Ngọ, tháng Bính Thân, ngày Tân Mão, giờ Bính Thân. Cả ba chữ Bính đều là Quan của ngày Tân, ba Quan tranh nhau một Tân, lại không thể hóa. Đây là tượng đa phu, mệnh nữ kị nhất.

Những kiểu luận hợp quan chẳng quý hoàn toàn sai lạc

Nhà bình chú ví người đời nay chẳng hiểu mệnh lý, lấy cái hợp của chính nhật chủ mà tùy tiện nói mất nói còn. Nghe có câu hợp Quan chẳng quý, họ cứ thế mà áp, thậm chí lấy cả cặp Thìn Dậu hợp, Mão Tuất hợp của địa chi cũng bảo là hợp Quan. Những lời xằng bậy ấy, nếu đọc kỹ phép Tử Bình, đều bị quét sạch.

Câu hợp Quan chẳng quý được hiểu đúng như thế này: những can ở trụ năm, tháng, giờ mà hợp thì hợp Quan là mất quý, hợp Sát là mất tiện; nhưng chính nhật chủ hợp thì hợp Quan lại là quý, hợp Sát lại là tiện. Lý ấy rất rõ. Người nay không chịu tìm hiểu cẩn thận, nói bậy lung tung, chẳng lạ gì trăm lần đoán trật cả trăm.

Hợp thì hóa, nhưng hóa cũng có thật có giả

Thập can phối hợp có chia hợp mà hóa và hợp mà không hóa. Muốn hóa được thì địa chi dưới chân phải thông căn và đang vượng. Như lá số nhà họ Chu có hai Ất hợp Canh, Ất Canh hợp nhau, chi lại gặp Thân Dậu, ấy là hóa Kim; nhật nguyên vốn yếu, được Ấn giúp nên đủ sức lấy giờ Ất Mão tiết ra làm dụng, gọi là Ấn cách có Thực. Còn lá số người câm từ nhỏ, cũng hóa Kim, nhưng vì hóa mà Ấn bị Tài phá.

Hai lá số hóa thật: năm Đinh Hợi, tháng Nhâm Dần, ngày Bính Tý, giờ Đinh Dậu. Hai chữ Đinh là Kiếp tài, Nhâm ở tháng là Thất Sát. Đinh Nhâm hợp, chi lâm Dần Hợi, tất nhiên hóa Mộc, lấy Ấn mà luận. Và năm Quý Tị, tháng Mậu Ngọ, ngày Bính Ngọ, giờ Canh Dần. Quý ở năm là Chánh Quan, Mậu ở tháng là Thực thần, Canh ở giờ là Thiên Tài. Mậu Quý hợp, chi lâm Tị Ngọ, tất nhiên hóa Hỏa, lấy Kiếp mà luận.

Khi nhật can chính là bên hợp thì cách cục hóa khí mới thành hẳn. Năm Kỷ Mão, tháng Đinh Mão, ngày Nhâm Ngọ, giờ Giáp Thìn. Kỷ ở năm là Chánh Quan, Đinh ở tháng là Chánh Tài, Giáp ở giờ là Thực thần. Đinh Nhâm hợp, sinh tháng Mão mộc đang nắm lệnh, chi giờ lại gặp Thìn là nguyên thần của Mộc thấu ra, ấy là cách Đinh Nhâm hóa Mộc. Năm Mậu Thìn, tháng Nhâm Tuất, ngày Giáp Thìn, giờ Kỷ Tị. Mậu ở năm là Thiên Tài, Nhâm ở tháng là Thiên Ấn, Kỷ ở giờ là Chánh Tài. Giáp Kỷ hợp, sinh tháng Tuất lúc Thổ vượng cầm quyền, dư sức hóa khí, năm lại có Mậu Thìn là nguyên thần thấu ra, ấy là cách Giáp Kỷ hóa Thổ.

Hóa khí có thật có giả. Nếu nhật chủ có gốc là Kiếp hay Ấn, hoặc nhật chủ chẳng có gốc thì hóa thần không đủ; lại có khi hóa tuy thật nhưng gặp can lạ đến làm tổn hại, đều là hóa giả. Năm Kỷ Mão, tháng Giáp Tuất, ngày Giáp Tý, giờ Kỷ Tị. Hai chữ Kỷ là Chánh Tài, Giáp ở tháng là Tỷ kiên. Hai Giáp hai Kỷ tự phối hợp, Mão Mộc lại có Tuất Thổ hợp thì càng chẳng ngại, hiềm Giáp Mộc đóng ở Ấn nên thành giả hóa. Năm Giáp Thìn, tháng Đinh Mão, ngày Nhâm Thìn, giờ Tân Hợi. Giáp ở năm là Thực thần, Đinh ở tháng là Chánh Tài, Tân ở giờ là Ấn. Đinh Nhâm hợp, thông khí nguyệt lệnh, hóa thần rất thật, hiềm giờ thấu Tân Kim làm tổn hại hóa khí; may mà Tân Kim không có căn nên cũng chỉ là giả hóa.

Dù hóa thật hay hóa giả đều cần hành vận giúp sức. Hóa giả mà vận khử được bệnh thì cũng như hóa thật; hóa thật mà thiếu vận vượng nâng đỡ cũng không phát triển. Còn nữa, cách cục hóa khí chỉ tính cho hai can sát nhau; nếu can chi của vận gặp can chi tứ trụ mà cứ cho là hóa hết thì sai lầm lắm. Hóa thần mừng đi vào đất vượng, Ấn và Tỷ thì tốt, kị bị khắc hay tiết khí.

Địa chi hợp cũng cần thiên can nâng đỡ mới hóa được

Thiên can ngũ hợp mừng có địa chi giúp mới hóa được khí; địa chi tam hội hay lục hợp thì mừng có thiên can giúp mới hội hợp mà hóa. Đứng đầu trong mọi điều kiện là khí hậu của tháng, rất khẩn yếu.

Năm Kỷ Tị, tháng Đinh Sửu, ngày Mậu Tý, giờ Kỷ Mùi. Kỷ ở năm và giờ là Kiếp tài, Đinh ở tháng là Ấn. Tý Sửu hợp nhau, nhờ can thấu Mậu, Kỷ và Đinh hỏa, Tý Sửu mới hóa thổ được, thành cách Giá Sắc, tức gặt lúa. Còn năm Nhâm Tý, tháng Quý Sửu, ngày Bính Ngọ, giờ Nhâm Thìn: Tý Sửu cũng hợp, nhưng can thấu Nhâm và Quý nên không thể luận hóa thổ. Đây là tượng Sát vượng thân suy.

Hai cặp lá số cuối cho thấy một điều: địa chi hợp hay can hợp, hóa được hay không đều tùy những chữ đứng quanh. Tý Sửu có hỏa và thổ trợ thì thành đất gặt lúa; Tý Sửu giữa nhiều thủy thì chỉ làm thủy thêm vượng. Cũng như vậy, mười can hợp nhau là một cuộc gặp gỡ, nhưng gặp xong rồi hóa thành gì, giữ lại điều gì, bỏ đi điều gì, vẫn do lá số quyết định chứ không do tên gọi của cặp hợp.

Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc