Bài tổng quan
Một tài hai quan tranh hợp, Đinh Nhâm lưỡng thấu, ba trạch mã
Có người một tài hai quan cùng đến tranh hợp một nhật chủ, đời hôn nhân chẳng yên. Có người Đinh Nhâm cùng thấu giữa đất dày, tên cửa hiệu cũng phải thêm bộ mộc. Lại có người ba con ngựa đứng trong lá số, chân không bao giờ nghỉ...
Mục lục · 7 phần
- 01Đinh hỏa nữ mệnh giữa thủy vượng: một tài hai quan cùng tranh hợp nhật chủ
- 02Tân kim tháng tị, kiêu ấn bị tài khắc: lấy Mậu thổ ẩn trong trụ tháng
- 03Kỷ thổ ngồi kình dương, hai thất sát cùng thấu: lấy Nhâm thủy trong hợi, ba trạch mã
- 04Canh kim sinh giữa mùa đông: lửa ẩn trong mộ tuất, quan lộc không bền
- 05Tân kim giữa thổ dày: Đinh Nhâm lưỡng thấu, lấy Ất mộc làm tơi đất
- 06Đinh hỏa tháng dần, Đinh Nhâm hợp hóa mộc: tài tinh Tân kim tàng trong kho sửu
- 07Quý thủy giữa tháng mùi, thiên quan quá nhiều: Canh kim trong tị làm dụng thần
Đinh hỏa nữ mệnh giữa thủy vượng: một tài hai quan cùng tranh hợp nhật chủ
Người nữ sinh năm Nhâm dần 1962, tháng Nhâm tí, ngày Đinh dậu, giờ Tân sửu. Đại vận bắt đầu từ 6 tuổi: Tân hợi, Canh tuất, Kỷ dậu, Mậu thân, Đinh mùi, Bính ngọ, Ất tị, Giáp thìn.
Đinh hỏa sinh tháng tí là lúc thủy vượng hỏa tử, sinh không gặp thời, không được lệnh. Trong Tứ trụ không có tỉ kiếp giúp thân nên cũng không được trợ giúp. Tài và quan đều vượng, khắc và xì hơi rất nhiều, làm thân nhược đến cùng cực. May có chính ấn Giáp mộc trong chi dần của trụ năm sinh thân; Giáp mộc được lệnh tháng, can trụ năm lại là thủy vượng để sinh khí, gốc sâu có lực, nên nhật nguyên Đinh hỏa được sinh. Đinh hỏa ngồi trên chi dậu là trường sinh, tức gặp nguy có người cứu. Nhưng nói chung sinh trợ cho thân thì ít, khắc phạt và xì hơi thì nhiều, nên trụ ngày vẫn yếu. Để cân bằng ngũ hành, lấy mộc ấn của chi năm làm dụng thần, tỉ kiếp làm hỉ thần, tài, quan, thương, thực là kị thần.
Trong Tứ trụ có một tài và hai quan đều vượng thấu; chi tháng, chi ngày, chi giờ lại ngầm chứa thất sát, thiên tài; tài sinh quan, thấu quan lại tàng sát, quan sát cùng vượng mà hỗn tạp, nên cuộc đời nhiều tai họa.
Hai quan ở trụ năm và trụ tháng vượng thấu, cùng hợp với nhật chủ, tức là hai quan tranh hợp nhật chủ, chủ về hôn nhân không thuận. Người xưa nói: mệnh nữ thấu một quan thì trong sạch và quý; một tài hai quan cùng thấu ra thì là dâm. Thủy của nhật chủ khắc làm hỏa nhược hóa, nên người này thể lực không tốt, hoặc có bệnh về mắt.
Tân kim tháng tị, kiêu ấn bị tài khắc: lấy Mậu thổ ẩn trong trụ tháng
Có ấn mà bị tài chặn đường sinh, thì ấn như dòng sông cạn, nên cần tìm một mạch ngầm khác.
Người nam sinh năm Giáp ngọ 1954, tháng Kỷ tị, ngày Tân mão, giờ Nhâm thìn. Đại vận bắt đầu từ 1 tuổi: Canh ngọ, Tân mùi, Nhâm thân, Quý dậu, Giáp tuất, Ất hợi, Bính tí, Đinh sửu.
Nhật nguyên Tân kim sinh tháng tị là đất tử tuyệt, không được lệnh, nhưng trụ tháng thấu ra kiêu ấn sinh thân, gốc ở thìn thổ của chi giờ, nên nhật trụ vẫn chưa gọi là nhược. Tuy vậy, trụ năm thấu tài tinh có gốc ở mão mộc, hai ngôi hỏa ở tị và ngọ của trụ năm và trụ tháng khắc thân, Nhâm thủy thương quan ở trụ giờ lại hao tổn thân, cùng xì hơi nhật nguyên. Kiêu ấn trên trụ tháng bị tài tinh Giáp mộc khắc, tuy có sinh nhưng không có lực; chính ấn Mậu thổ ẩn trong thìn cũng bị mão mộc ở chi ngày khắc nên không sinh nổi cho thân. Cân bằng lại, nhật chủ vẫn là nhược. Vì vậy lấy Mậu thổ ẩn trong trụ tháng làm dụng thần, Canh kim là hỉ thần. Cuộc đời nên gặp các vận tỉ kiếp, ấn; kị các vận tài, quan.
Đây là Tứ trụ thương quan sinh tài, tài vận phải gặp lúc thân vượng thì mới tụ được tài. Tài vận từ 41 đến 55 tuổi tương đối tốt.
Kỷ thổ ngồi kình dương, hai thất sát cùng thấu: lấy Nhâm thủy trong hợi, ba trạch mã
Tâm không nhàn, chân không yên là mệnh của người có ba con ngựa đứng trong lá số.
Người nam sinh năm Ất mùi 1955, tháng Tân tị, ngày Kỷ tị, giờ Ất hợi. Tàng can: tị giấu Canh, Bính, Mậu; hợi giấu Giáp, Nhâm; mùi giấu Ất, Kỷ, Đinh. Đại vận tính theo thứ tự Canh thìn, Kỷ mão, Mậu dần, Đinh sửu, Bính tí, Ất hợi, Giáp tuất, Quý dậu.
Kỷ thổ sinh tháng tị là tượng mẹ vượng con vượng, được lệnh; nhật chủ ngồi trên kình dương giúp thân, lại được ngang vai mùi thổ ở chi năm trợ giúp, nên rất vượng. Nhưng thất sát ở trụ năm và trụ giờ thấu ra khắc thân, thực thương ở trụ tháng xì hơi thân, tài và sát ở trụ giờ lại sinh cho nhau. Cân bằng lại thì mộc và hỏa trong lá số vẫn tương đối vượng, còn kim nhược, trụ tháng lại có thổ khô táo cần nước tưới nhuận, kim sinh thủy nên thủy có nguồn. Vì vậy lấy Nhâm thủy trong hợi làm dụng thần, thực thương ở trụ tháng làm hỉ thần. Cuộc đời mong gặp vận kim, thủy; kị vận hỏa, thổ.
Lá số này có ba trạch mã nên cuộc đời bôn ba vất vả, tâm không nhàn, tính khá hiếu động. Trụ ngày và trụ giờ thiên khắc địa xung, trụ tháng và trụ năm cũng tương xung, điều đó không có lợi cho lục thân; cha mẹ lúc lâm chung khó gặp.
Thân vượng, tài nhược, nên sau 46 tuổi mới phát vinh hiển; các thời kỳ 46 tuổi và từ 50 đến 60 tuổi là tài vận tốt nhất. Lá số này hợp làm công chức: năm 31 tuổi cầu quan thuận lợi, trong đó từ 41 đến 60 tuổi là thời kỳ quan vận tốt nhất.
Canh kim sinh giữa mùa đông: lửa ẩn trong mộ tuất, quan lộc không bền
Nước lạnh kim hàn, chỉ một hạt lửa nhỏ trong đất mộ cũng đủ làm ấm cả lá số.
Người nữ sinh năm Canh thìn 1940, tháng Mậu tí, ngày Canh tuất, giờ Kỷ mão. Đại vận bắt đầu từ 9 tuổi: Đinh hợi, Bính tuất, Ất dậu, Giáp thân, Quý mùi, Nhâm ngọ, Tân tị, Canh thìn.
Nhìn cả lá số thì có bốn thổ, hai kim, một mộc, một thủy, không có hỏa. Thổ và kim nhiều, thủy ít không sinh nổi cho mão mộc. Nhật nguyên Canh sinh tháng tí, thủy lạnh kim hàn, nên cần hỏa làm dụng thần điều hầu, kiêm áp chế thân vượng. Trong Tứ trụ không có hỏa; Đinh hỏa ẩn trong mộ tuất, bản thân sức yếu, lực của dụng thần không đủ, nên đi các đại vận mộc, hỏa thì từ 9 đến 48 tuổi là thời cơ tốt nhất để thăng quan phát tài. Sau 49 tuổi đi vận thương thực, bất lợi chốn quan trường, nên thôi chức, trở về buôn bán. Cuối đời thân thể tương đối khỏe mạnh, là người làm nên được việc gì đó, nhưng hôn nhân không thuận, tình cảm khá cô độc; nên lấy mộc, hỏa làm dụng thần, kị thổ, kim.
Tài khí cuộc đời khá tốt, nhưng phần nhiều nên làm việc trong cơ quan nhà nước để có nguồn lương ổn định; sinh tài thì sức mới khỏe. Cả đời cơm áo không thiếu, cuối đời kinh doanh có lợi. Lá số không có thiên tài, nên duyên với cha mỏng, của cải do tự mình phấn đấu mà có.
Năng lực công tác tương đối khá, trước 49 tuổi lợi cho đường công chức, nhưng vì quan tinh ẩn tàng, không vượng nên không có chức lớn; sau 49 tuổi trở về buôn bán thì tốt. Đây còn là mệnh có thể đạt trình độ đại học. Năm 1958 và 1959 đi thi gặp thuận lợi, nếu không thì cũng được điều động công tác; năm 1962 và 1963 học tập thuận lợi, nếu thi cử sẽ đạt được văn bằng.
Tân kim giữa thổ dày: Đinh Nhâm lưỡng thấu, lấy Ất mộc làm tơi đất
Kim muốn sáng phải qua lò, muốn bền phải có nước nuôi.
Người nam có Tứ trụ năm Nhâm thìn, tháng Đinh mùi, ngày Tân mùi, giờ Giáp ngọ. Đại vận bắt đầu từ 5 tuổi: Mậu thân, Kỷ dậu, Canh tuất, Tân hợi, Nhâm tí, Quý sửu, Giáp dần, Ất mão.
Tân kim sinh tháng sáu, thổ nhiều, kim bị vùi lấp. Lấy mộc để làm tơi xốp thổ, khiến kim phát sáng, nên lấy Ất mộc làm dụng thần, thủy là hỉ thần, thổ là kị thần. Trong Tứ trụ có Đinh, có Nhâm, đó là Đinh Nhâm cùng thấu, chủ về mệnh đại phú, tài vận tương lai nhất định rất tốt, giàu nhất một phương. Kim nhờ có hỏa luyện mới thành vũ khí, kim lại dựa vào thủy sinh; Đinh Nhâm đều là điềm chủ về phú quý, có danh vọng, về sau danh lợi song toàn. Sau 45 tuổi đi đại vận Nhâm tí càng như gió xuân, đến tuổi già vẫn tốt. Người này gặp thủy, mộc thì tốt, nên thích hợp với những nghề có liên quan đến thủy và mộc. Trong tên nên thêm chữ có bộ mộc hoặc bộ hai chấm thủy thì tốt; sau này mở cửa hàng, tên cửa hiệu cũng nên thêm những chữ ấy.
Sau 44 tuổi đi tài vận Nhâm tí, đó là đại vận có lợi, tài vận bắt đầu chuyển tốt, vì đại vận gặp hỉ thần. Nếu còn gặp lưu niên tốt thì nhất định là lúc phát tài. Ba năm từ 2003 đến 2005, đại vận tốt, lưu niên cũng tốt, nên làm những nghề thích hợp hoặc đi theo phương vị thích hợp để cầu tài, nhất định sẽ phát triển. Người này sau 44 tuổi thành đạt nhiều, đặc biệt sau 50 tuổi về già càng phát đạt, có chức, có tiếng, tiền của nhiều, cuối đời tốt đẹp.
Đinh hỏa tháng dần, Đinh Nhâm hợp hóa mộc: tài tinh Tân kim tàng trong kho sửu
Mộc nhiều thì lửa đã hóa, người thấy quan chức chạy tới mà vẫn không với được.
Người nam sinh năm Kỷ sửu 1949, tháng Bính dần, ngày Đinh mão, giờ Nhâm dần. Đại vận bắt đầu từ 1 tuổi: Ất sửu, Giáp tí, Quý hợi, Nhâm tuất, Tân dậu, Canh thân, Kỷ mùi, Mậu ngọ.
Nhật nguyên Đinh hỏa sinh tháng dần, rơi vào tử địa nên không được lệnh. Nhưng được ấn vượng trong các chi sinh cho, hơn nữa có kiếp tài Bính hỏa thấu ra trợ thân, sức nóng dần dần mạnh lên. Chỉ tiếc trên trụ giờ, quan tinh Nhâm thủy và Đinh hỏa của nhật nguyên cùng hợp hóa thành mộc cục; mộc vượng quá thì hóa không tốt. Tóm lại lấy tài tinh Tân kim trong sửu, để làm tổn hao ấn, làm dụng thần. Tài tinh trong lá số này là dụng thần lại tàng sâu trong kho, nên cuộc đời tiền tài vừa ý, có danh có lợi.
Tứ trụ này tỉ kiếp cường vượng, nên cuộc đời làm nghề tự do hoặc làm riêng lẻ thì thích hợp; hơn nữa thực thương thắng quan sát nên không hợp làm công chức. Tài tinh là dụng thần, cuộc đời có thể phát tài, lại tàng sâu trong kho nên người này có thể tích lũy giàu có. Khi đi đại vận Tân dậu, tài tinh vượng lại còn gặp lộc, đó là giai đoạn tài vận tốt nhất.
Quan tinh trong Tứ trụ bị hợp, nên làm cán bộ không thuận lợi, thường bị kẻ xấu gây trắc trở, đố kỵ; đặc biệt đại vận Nhâm tuất, người này gặp nhiều sóng gió, thăng quan tiến chức khó, vì quan tinh không được tài tinh sinh trợ. Trong đại vận thiên tài Tân dậu, tức những năm 1990, 1991, 1992, người này có tin mừng về việc thay đổi nghề nghiệp, và vận trình này có lợi cho đường cán bộ.
Quý thủy giữa tháng mùi, thiên quan quá nhiều: Canh kim trong tị làm dụng thần
Quan nhiều lại rơi vào chỗ trống, danh vang mà quyền chẳng có.
Người nữ sinh năm Ất tị 1965, tháng Quý mùi, ngày Quý tị, giờ Kỷ mùi. Đại vận gồm Giáp thân, Ất dậu, Bính tuất, Đinh hợi, Mậu tí, Kỷ sửu, Canh dần, Tân mão.
Nhật nguyên Quý thủy sinh tháng mùi, thất sát nắm lệnh, trụ giờ thất sát lại thông gốc nên cực vượng. Thực thần Ất mộc ở trụ năm thấu ra, chính tài Bính hỏa trong tị của trụ năm và trụ ngày làm hao tổn thân rất mạnh, tức vừa bị khắc vừa bị xì hơi, nên nhật chủ rất suy nhược; tuy trụ tháng thấu ngang vai trợ giúp nhưng mộc yếu. Theo nguyên tắc cân bằng ngũ hành thì lá số này thổ vượng quá, nên lấy Canh kim trong tị làm dụng thần, để xì hơi thổ mà sinh thân. Lá số này từ nhỏ nên đi về phương tây để dụng thần đắc địa thì mới thuận lợi. Khi vào đất tài vượng và quê hương của quan sát thì tai họa rất nhiều, mãi đến sau 60 tuổi đi đại vận ấn thì mới chuyển họa thành phúc.
Thiên quan quá nhiều lại gặp không vong, nên là người hư danh nơi quan trường, không nên làm chính trị vì dễ mất quyền lực. Thất sát và chính tài đều quá vượng, không có thiên tài, nên hợp với làm công chức, không nên làm nghề tự do hoặc buôn bán.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
