Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Tứ mộ không cần xung, cát thần phá cách, hung thần thành cách

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202611 phút đọc4 lượt đọc
Tứ mộ không cần xung, cát thần phá cách, hung thần thành cách

Người ta bảo Tài Quan nằm trong kho thì phải có xung mới mở được cửa. Nghe thì hợp lý, nhưng gặp đúng một chữ Nhâm đã thấu lên đầu can mà còn xung kho, gốc rễ bật cả. Mà một chữ Sát hung ác đứng đúng chỗ lại thành người đỡ cho cả lá số...


Thuyết tứ mộ phải xung mới phát là tục thuyết

Có thuyết cho rằng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mừng gặp hình xung; Tài Quan nhập kho mà không xung thì chẳng phát. Tuy rất nhiều tục thư theo thuyết ấy, nhưng người lập phép Tử Bình không nói như vậy. Khi tạp khí đã thấu can, hội chi thì chẳng phải là tốt lắm rồi sao, cớ gì phải cần hình xung? Giáp sinh tháng Thìn, Mậu thổ thấu ra chẳng phải là Thiên Tài sao? Thân Tý hội chẳng phải là Ấn thụ sao? Còn nếu Mậu thổ không thấu mà Thìn Tuất xung nhau thì Tài cách vì thế mà chẳng thanh. Hoặc thấu Nhâm là Ấn mà Thìn Tuất xung nhau thì Ấn bị lụy, sao lại bảo là xung khai kho Ấn?

Thuyết Tài Quan nhập kho không xung thì không phát là rất sai lầm. Xung là khắc, mà khắc thì khử đi. Thìn Tuất Sửu Mùi đều thuộc thổ, hình xung cùng một khí nên không đến nỗi ngại lắm; nhưng cũng đáng ngờ là hình xung làm tổn cách phá dụng, ví như hội hợp thì thế mạnh, các chi đều có đủ, tạp khí sao lại khác? Giáp sinh tháng Thìn, thấu Nhâm là Thiên Ấn, Thìn là gốc của Nhâm thủy, bị Tuất xung thì bật gốc, không thể không hại, sao bảo là nhờ xung mà phát? Đó rõ ràng là tục thuyết không căn cứ.

Trong bốn kho chỉ có thổ là chủ

Huống hồ trong tứ khố tuy ngũ hành đều có, nhưng rốt cuộc đều lấy thổ làm chủ. Thổ xung thì ứng nghiệm; còn kim, mộc, thủy, hỏa sao lại nói xung tứ khố thì động? Có câu rằng Tài Quan đều thuộc thổ thì xung khiến kho mở, như Giáp dùng Mậu Tài mà gặp Thìn Tuất xung, Nhâm dùng Kỷ Quan mà được Sửu Mùi xung. Nhưng nếu lấy Mậu Kỷ đã thấu ra làm dụng thì can đã thấu, không xung cũng đắc dụng. Còn như Tài Quan là thủy thì xung chỉ thêm phiền não: Kỷ sinh tháng Thìn, Nhâm thấu là Tài, Tuất xung thì Mậu Kiếp động, có ích gì? Đinh sinh tháng Thìn, thấu Nhâm là Quan, Tuất xung thì Thương quan động, sao lại không hại? Như thế gọi là gặp xung mà kho Tài kho Quan của Nhâm thủy có mở ra đâu.

Nhà bình chú giải thêm: Giáp sinh tháng Thìn thì chỉ có Thủy là gặp kho; Thổ là bản khí, Ất là dư khí, đều không phải kho. Nếu dụng Thổ thì xung khiến Thổ động, sao có thể không sợ? Nếu dụng Ất mộc thì xung khiến Tân kim trong Tuất trỗi dậy khắc Mộc, cũng chẳng tốt. Còn thủy mộc đã thấu can thì gốc rễ bị tổn; không thấu thì vốn không thể dùng, xung hay không có quan hệ gì.

Đừng lẫn xuất kho thành nhập kho

Người đời nay không hiểu lý ấy, thậm chí lấy xuất kho làm nhập kho. Đinh sinh tháng Thìn, Quan Nhâm đã thấu lên can mà không kể Nhâm vốn nằm trong kho đã ra đầu can, lại bảo Nhâm gặp Thìn là nhập kho, cầu Tuất để xung Thổ, chẳng thấy Quan sẽ bị tổn thương. Thật đáng cười. Nếu nguyệt lệnh không phải tứ mộ, dụng thần khác, trong năm tháng ngày giờ có một chữ gặp mộ thì mới có thể cầu hình xung. Ngày lâm tứ khố lại không biết đó là thân đóng nơi kho có gốc, lại cho là thân chủ nhập kho mà cầu xung để giải. Những lý luận ấy đều sai lầm, chớ nghe theo.

Thuyết đầu kho nhập kho đều do người truyền thuật không giảng rõ nguyên lý, nghe sai rồi truyền sai. Kỷ dùng Nhâm là Tài, gặp Thìn thì thủy dừng lại không chảy nữa, gọi là Tài quy kho; Đinh dùng Nhâm là Quan, gặp Thìn là Quan đầu mộ. Cũng có khi lấy quy kho đầu mộ làm điều lành, gặp xung lại bất lợi; còn nếu không phải mộ kho thì cũng nên cầu dẫn hóa ở phương khác, không phải hình xung là giải được.

Nếu mộ kho nằm ở chi năm, ngày hay giờ, lại có hội hợp thì lấy ngũ hành của hội hợp mà luận: như Thìn hội Tý lấy Thủy mà luận, Tuất hội Ngọ lấy Hỏa mà luận. Nếu khí hội đủ cả một phương thì lấy ngũ hành của phương hội ấy: như Thìn hội Dần Mão lấy Mộc, Tuất hội Thân Dậu lấy Kim. Không hội hợp liên tiếp thì lấy Thổ mà luận. Ngày lâm kho thì như Nhâm Thìn, Bính Tuất đều có thân thông căn nơi kho; còn Bính Thìn, Nhâm Tuất thì không phải kho của thân.

Cũng có khi gặp xung mới phát

Quan tối kị xung, nhưng Quý sinh tháng Thìn, thấu Mậu là Quan, Thìn với Tuất xung nhau mà không bị phá cách; tứ kho mừng được xung, như thế là đủ dụng. Các chi Tý Ngọ Mão Dậu là cừu địch nhau, xung ấy là xung khắc; còn tứ mộ đều là Thổ tự xung nhau, xung ấy là xung động chứ không phải xung khắc. Đã lấy Thổ làm Quan thì có hại gì.

Nhà bình chú nói thêm: Quý sinh tháng Thìn, thấu Mậu thổ Quan tinh, gặp xung không phá cách là vì Thìn Tuất cùng một khí, nên chẳng ngại lắm. Xung chẳng nên mừng khi Dần Thân Tị Hợi xung nhau, là điều tối kị, vì đó là đất sinh của ngũ hành bị xung. Tý Ngọ Mão Dậu xung nhau thì có thành có bại, vì cả bốn đều là đất bại cũng là đất vượng. Kị thần bị xung mất thì thành tốt, hỉ thần gặp xung thì bại; còn xung mộ thì không đáng ngại lắm. Nhưng cũng nên chú ý xem dụng nhân nguyên ra sao: như Ất mộc trong Thìn, trong mười ngày sau Thanh Minh, Ất mộc dư khí còn vượng, thì chọn Ất mộc làm dụng trước; trường hợp ấy bị xung thì không phải là không có quan hệ.

Tứ mộ tuy chẳng kị hình xung, nhưng hình xung chưa chắc đã thành cách.

Bốn cát thần cũng có thể phá cách

Tài, Quan, Ấn, Thực là bốn cát thần, nhưng cũng có khi không dùng được, thậm chí còn phá cách. Quan, Sát, Tài, Ấn, Thực, Thương chỉ là những đại danh từ dựa theo sinh khắc của ngũ hành, nói cho gọn, không ngoài ý nghĩa cương nhu tương phối. Tên gọi tuy có thiên chính, chứ chẳng có tên nào gọi là cát hay hung. Điều cốt yếu là hợp với ta thì cát, không hợp thì hung. Thành cách hay phá cách, cho tới hỉ hay kị, đều không nằm ở tên gọi.

Ví dụ Thực thần đới Sát, thấu Tài là hại, Tài có thể phá cách. Xuân mộc hỏa vượng thì gặp Quan là kị, Quan có thể phá cách. Sát gặp Thực chế mà thấu Ấn thì không có công, Ấn có thể phá cách. Tài vượng sinh Quan mà lộ Thực thì tất tạp, Thực có thể phá cách. Giải thích: Thực thần đới Sát lấy Thực chế Sát làm dụng, gặp Tài thì Thực sinh Tài rồi theo giúp Sát, phá cách; nếu không đới Sát thì Thực thần cách lại mừng gặp Tài. Xuân mộc hỏa vượng là Thương quan mộc hỏa, gặp Quan thì phá cách. Sát gặp Thực chế, gặp Ấn thì Ấn đoạt Thực. Tài vượng sinh Quan, gặp Thực thì Thực làm thương khắc Quan tinh. Thảy đều là phá cách.

Vì vậy nói Quan là dụng thì Thực là kẻ phá; Ấn là dụng thì Tài là kẻ phá. Ví như dùng thuốc, nhân sâm vốn là thuốc bổ, dùng sai cũng có thể hại người. Quan kị Thực Thương, Tài sợ Tỷ Kiếp, Ấn sợ Tài phá, Thực sợ Ấn đoạt; còn tham hợp thác tống thì đều rất kỳ diệu. Nhật chủ yếu thì mừng sinh phò, mạnh rồi gặp sinh phò lại thành hại; nhật chủ suy thì kị Tài ức chế, quá vượng thì Tài ức chế lại thành có ích. Cát hung hỉ kị toàn xem ở chỗ hợp hay không, không vì tên gọi mà phân biệt.

Bốn hung thần cũng có thể thành cách

Sát, Thương, Kiêu, Nhận là bốn hung thần, nhưng có khi gặp đúng chỗ thì cũng thành cách. Ấn thụ căn nhẹ, thấu Sát giúp thì Sát có thể thành cách. Tài gặp Tỷ Kiếp, có Thương quan giải được thì Thương có thể thành cách. Thực thần đới Sát, Kiêu thần đắc dụng thì Kiêu có thể thành cách. Tài gặp Thất Sát, có Nhận giải ách thì Nhận có thể thành cách.

Bốn hung thần thành cách là khi lấy Sát, Thương, Kiêu, Nhận làm tương thần. Ấn nhẹ thấu Sát thì lấy Sát sinh Ấn mà thành cách. Tài gặp Kiếp đoạt thì lấy Thương hóa Kiếp mà thành cách. Thực thần đới Sát thì lấy Kiêu chế Thực để hóa Sát mà thành cách. Tài gặp Thất Sát thì lấy Nhận chia Tài để chống đỡ Sát mà thành cách. Cốt yếu là hợp với ta; cái gì hợp đều có thể lấy làm trợ giúp.

Cho nên nói Tài không sợ Thương, Quan không sợ Kiêu, Sát không sợ Nhận. Như phép trị nước, thương dài kích lớn vốn không phải dụng cụ tốt, nhưng khéo dùng thì dẹp yên được loạn lạc. Tài nên có gốc sâu, rất nên gặp Thực Thương tương sinh. Quan nên có Ấn hộ, Kiêu Ấn cùng công. Kiếp Nhận quá vượng thì gặp Quan Sát đều tốt. Dùng cho thích hợp thì đều là giúp ta, há vì cái tên mà phân biệt.

Cùng một chữ, đứng trước hay đứng sau mà cát hung đổi khác

Nguyệt lệnh dụng thần phối với tứ trụ, mỗi chữ đều lấy sinh khắc mà chia cát hung. Nhưng có khi cùng là sinh khắc mà đứng trước hay đứng sau lại chia ra cát hung khác nhau, mệnh quả thật là sâu mầu. Địa vị trước sau rất khẩn yếu: có khi cùng một Bát Tự mà ở chỗ này là cát, ở chỗ kia là hung; ở chỗ này dùng được, ở chỗ kia không dùng được; giàu nghèo, sang hèn, thọ yểu hoàn toàn khác nhau. Biến hóa vô định, không có công thức để giải thích. Toàn bộ ở sinh khắc chế hóa; nói Quan kị Thương, Ấn kị Tài đều là cách dùng đần độn, cốt yếu ở trình tự trước sau, phải theo phép sống. Phép cứng nói được, phép sống thì không còn gì để nói, người sáng suốt tự thực tập mà ngộ ra.

Nhà bình chú kể lá số của chính mình: năm Bính Tuất, tháng Nhâm Thìn, ngày Bính Thân, giờ Bính Thân, sinh sau tiết Thanh Minh một ngày, Ất mộc dư khí còn dùng được, lấy Ấn hóa Sát; đến tuổi tri mệnh vẫn bình an. Nếu sinh hai mươi ngày sau Thanh Minh, thổ vượng thì không luận dụng thần như thế. Người em họ có lá số năm Bính Tuất, tháng Bính Thân, ngày Bính Thân, giờ Nhâm Thìn, Bát Tự gần như hệt, nhưng sinh tháng bảy, Ất mộc hưu tù không thể làm dụng, phải lấy Tài gánh Sát công thân, và chết yểu khi còn trẻ.

Chánh Quan cùng gặp Tài và Thương đều thấu, nhưng trước sau khác nhau. Giáp dụng Dậu Quan, nếu Đinh trước Mậu sau thì Tài hóa giải Thương, tuy không đến mức quý nhưng hậu vận có kết cục. Nếu Mậu đứng trước còn Đinh ở sau, ở giờ, thì Quan gặp Tài sinh nhưng về sau bị thương phá, hậu vận chẳng có kết cục, con cháu khó khăn.

Lá số can năm Đinh, can tháng Kỷ Dậu, ngày Giáp, can giờ Mậu Thìn: Tài vượng sinh Quan, Thương quan tiết khí vào Tài, Quan tinh không tổn chút nào. Đổi ngôi vị thành can năm Mậu, tháng Tân Dậu, ngày Giáp Thìn, giờ Đinh Mão thì Tài sinh Quan mà gặp Thương phá. Lại có khi Đinh trước Mậu sau mà vẫn không giải nổi: can năm Tân, can tháng Đinh, ngày Giáp, can giờ Mậu, chi có Dậu Ngọ Thìn; Tân kim thấu ở năm, Dậu kim trùm đầu Đinh hỏa, dù có Mậu thổ ở giờ cũng không giải nổi, vì hỏa ở ngay sát bên. Còn lá số can năm Nhâm, tháng Kỷ Dậu, ngày Giáp Thìn, giờ Đinh Mão: tuy Đinh hỏa Thương quan ở giờ nhưng chẳng hại được Quan tinh, nhờ Kỷ thổ hóa Thương, Nhâm Ấn hợp Thương nên giải được. Năm Đinh giờ Nhâm cũng vậy.

Lấy Tài hóa Thương như thế, so với lấy Ấn chế Thương hộ Quan thì lý cũng như nhau. Lá số can năm Giáp, tháng Quý Dậu, ngày Giáp Thìn, giờ Đinh Mão: Đinh hỏa Thương quan bị Quý Ấn chế nên chẳng hại nổi Quan tinh; đổi sang năm Kỷ thì Ấn bị Tài phá, hỏa lại thành Thương quan. Lại như can năm Quý, tháng Tân Dậu, ngày Giáp Thìn, giờ Đinh Mão: tuy có Quý thủy Ấn nhưng Đinh hỏa vẫn làm tổn Quan tinh, vì bị ngăn cách; Quan tinh gặp trước tiên bị thương, Ấn không đủ sức cứu hộ.

Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc