Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Phong Sơn Tiệm: chim hồng đi từng bậc, từ mé nước lên đường mây

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Phong Sơn Tiệm: chim hồng đi từng bậc, từ mé nước lên đường mây

Con chim hồng mới đến mé nước đã bị đứa trẻ nhìn mà tưởng là nguy, vậy mà nó vẫn không lỗi gì. Rồi nó đậu phiến đá, đáp xuống đất bằng, lên cây, lên gò, cuối cùng cánh bay giữa tầng mây. Sáu bước chân của một đời người, bước nào khó nhất?


Tiệm là tiến dần: trên núi có cây, mọc lên từng chút một

Quẻ số năm mươi ba là Phong Sơn Tiệm, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng giêng. Tiệm nghĩa là tiến dần, như chim bay lên cao từng bậc. Quẻ trên là Tốn, là gió, cũng là cây; quẻ dưới là Cấn, là núi.

Sơn thượng hữu mộc, Tiệm. Quân tử dĩ cư hiền đức thiện tục.

Lời Tượng nói trên núi có cây là quẻ Tiệm, tức tiến dần. Người quân tử nhìn đó mà giữ đức hiền, làm cho phong tục lành dần lên.

Người sinh vào tháng giêng gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng người quân tử ngồi chờ cá bên sông, chờ lâu thì cá kéo đến đớp mồi.

Con gái về nhà chồng: gấp gáp thì hỏng, đi từ từ mới bền

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói tiến dần dần, như con gái về nhà chồng, tốt; giữ vững đạo chính thì có lợi. Quẻ này trên là Tốn, nghĩa là cây, dưới là Cấn, nghĩa là núi. Trên núi có cây, có cái tượng từ thấp lên cao dần dần, nên đặt tên là Tiệm.

Cấn còn có nghĩa là ngăn, Tốn còn có nghĩa là thuận. Ngăn ở dưới mà thuận ở trên, để cho tiến nhưng không cho tiến vội, mà tiến lần lần thôi. Như việc gả con gái về nhà chồng: phải thận trọng, thong thả, không nên hấp tấp, có vậy mới tốt.

Xét bốn hào ở giữa quẻ, từ hào hai đến hào năm, hào nào cũng đắc chính, tức hào âm ở vị âm, hào dương ở vị dương. Nhất là hào năm dương cương, đắc chính lại đắc trung; rồi đến hào hai âm nhu cũng đắc chính đắc trung. Cho nên lời Thoán khuyên giữ vững đạo chính như những hào ấy thì tốt.

Thoán truyện giảng thêm: tiến mà dần dần, không nóng nảy, vẫn tĩnh lặng như quẻ trong Cấn, vẫn hòa thuận như quẻ ngoài Tốn, thì không vấp váp, không bị cùng khốn. Lời Đại tượng khuyên người quân tử theo tượng quẻ mà tu thân, tiến dần cho thành người hiền, rồi thành bậc thánh nhân, để cải thiện phong tục cho dân.

Hào sơ lục: chim hồng mới đến mé nước, đứa trẻ nhìn mà tưởng là nguy

Hào âm, hào bình. Hào đầu không có hào ứng, như con chim hồng mới lên đến bờ nhưng còn e sợ, như đứa trẻ sợ lạc đường. Không có ai giúp đỡ.

Hồng tiệm vu can, tiểu tử lệ, hữu ngôn vô cữu.

Hà Lạc nói không được yên, chưa gặp thời, chưa tiến được.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hồng là loài chim sống ở mặt nước, di cư; mùa lạnh bay xuống phương Nam, mùa nóng trở về phương Bắc, bay từng đàn có thứ tự. Sáu hào quẻ Tiệm đều dùng tượng chim hồng. Hào này âm nhu, ở dưới cùng, như chim hồng mới tiến tới bờ nước, than thở vì chưa tiến được mau. Kẻ nhỏ chưa hiểu biết cho là nguy, nhưng thực ra tuy chưa tiến được bao nhiêu mà vẫn không có tội lỗi gì.

Người mệnh hợp cách có hiền đức, do khoa danh mà dần dần lên chức, nhưng phải đề phòng kẻ gian nịnh xuyên tạc. Người mệnh không hợp cách là kẻ làm ăn đi từ thấp lên, vất vả, hay bị tiếng miệng.

Về vận hạn: quan chức phải nói thẳng điều trần lợi hại; giới sĩ không có người ứng viện nên tiến khó; người thường bị cùng đường tai ách. Câu thơ của hào khuyên nên nuôi chí nơi suối rừng, xa lời xiểm nịnh thì gương hiền sáng tươi.

Hào lục nhị: chim đậu phiến đá lớn, ăn uống vui hòa

Hào âm, hào tốt. Hào này vừa trung vừa chính, lại có hào năm ở ngôi cao ứng với. Nhiều cơ may thuận lợi, nhiều lộc vui, yên ổn.

Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.

Hà Lạc nói may gặp quý nhân, có niềm vui, được an hưởng lộc vị.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đắc trung đắc chính, âm nhu mà ứng với hào năm dương cương ở trên, nên tiến được một cách dễ dàng, tới đậu ở phiến đá lớn, vui vẻ ung dung. Lời Tiểu tượng khuyên hào này được hào năm giúp đỡ thì phải làm gì đáp lại, chứ đừng ăn không.

Người mệnh hợp cách tài cao đức trọng, đưa nước nhà đến chỗ an vui vững như bàn đá, phúc trạch dồi dào. Người mệnh không hợp cách cũng no ấm có thừa, là kẻ sĩ ở ẩn nơi rừng núi, hoặc phiêu diêu nơi sông hồ.

Về vận hạn: quan chức được hưởng lộc tế lễ; giới sĩ được dự yến tiệc; người thường bận việc cỗ bàn bếp núc, có lợi và vui vẻ. Câu thơ của hào nói cứ bàn hoàn chưa vội tiến, một lần tiến là thẳng đến mây xanh; số trời đã định thì lo gì chẳng lộc vinh.

Hào cửu tam: lên đến đất bằng mà bỏ vợ đi mãi, chỉ lợi việc chống giặc

Hào dương, hào xấu. Hào dương ở vị dương, quá cương lại không có hào đối ứng, nên chỉ lợi cho việc chống giặc. Các việc khác khó thành vì đức kém, không được yên ổn.

Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung, lợi ngự khấu.

Chim hồng tiến dần tới đất bằng; chồng đi xa chẳng trở về, vợ có thai chẳng nuôi được. Xấu, chỉ lợi về việc phòng giặc, tức những điều gian tà. Hà Lạc nói không được yên ổn, không có đức nên không tiến được.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đã tiến lên được đất bằng, nhưng vì dương cương còn muốn tiến nữa mà không chịu ngoái lại. Nó ở sát hào bốn âm nhu, thân với bốn nhưng không chính ứng, mà cả hai đều bất trung, ví như cặp vợ chồng không chính đáng: chồng bỏ vợ mà đi không ngó lại, vợ đang mang thai, đẻ con mà không nuôi. Xấu. Nếu hòa thuận với nhau và giữ đạo chính, trừ cái bất chính đi như trừ giặc cướp, thì có lợi.

Người mệnh hợp cách có tài đức, kiêm cả văn võ, chỉ khó đường vợ con. Người mệnh không hợp cách bỏ nghiệp tổ, bỏ văn theo võ, tự cao tự đại, chẳng hợp tính với ai, hình khắc vợ con, xử sự hay lầm lỡ.

Về vận hạn: quan chức bị cách giáng; giới sĩ bị ngăn trở; người thường gặp hại, bất hòa, trộm cướp. Câu thơ của hào nói mưa, bùn, đêm, gió lay hoa; đừng than thở nữa.

Hào lục tứ: chim lên cây, may gặp cành bằng thì yên

Hào âm, hào tốt. Dễ gặp thuận lợi. Chim hồng tiến dần lên trên cây, hoặc may được cái cành bằng, không có lỗi.

Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kỳ dốc, vô cữu.

Hà Lạc nói gặp kẻ bạo ngược mà được yên lành.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu mà ở trên hào ba dương cương, như chim hồng bay lên cây cao. Cây không phải chỗ đậu của nó, vì nó vốn sống trên nước, nhưng may được cành thẳng thì cũng yên ổn. Hào này bản chất âm, nhu thuận, mà quẻ ngoài Tốn cũng có nghĩa thuận, nên được yên ổn.

Người mệnh hợp cách có đức, có vị, nhưng khiêm nhường thì suốt đời yên vui. Người mệnh không hợp cách sinh kế khó khăn, phải kiệm ước, muộn mới đủ dùng.

Về vận hạn: quan chức gặp kẻ cường bạo không chế phục nổi, đổi việc vô định; giới sĩ đỗ khoa mùa thu; người thường lợi việc tu tạo, nhà cửa yên ổn.

Hào cửu ngũ: ba năm vợ chẳng có thai, nhưng rốt cuộc không ai thắng nổi

Hào dương, hào tốt, nhưng phát muộn. Chim hồng tiến dần tới gò cao, vợ ba năm chẳng có thai, vì hào hai không kết hợp được với hào năm do bị hào ba ngăn cản. Nhưng sau cùng không ai hơn nổi, nên tốt.

Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng; chung mạc chi thắng, cát.

Hà Lạc nói tiến đến chỗ thỏa nguyện, lại được người hiền phụ tá nên việc nước thành công.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đứng ở ngôi cao, chính ứng với hào hai âm ở dưới, như vợ chồng muốn ăn ở với nhau, nhưng hào năm bị hào bốn ngăn cản vì ghen với hai; hào hai lại bị hào ba ngăn cản vì ghen với năm. Thành thử ba năm vợ chồng bị cách trở, vợ không có mang được. Nhưng ba và bốn không thắng nổi hai và năm. Vì hai và năm đều đắc trung, mà việc hai với năm liên kết với nhau là chính đáng, nên rốt cuộc ba và bốn phải chịu thua.

Phan Bội Châu phụ chú: xét về thể quẻ, quẻ ngoài Tốn là nữ, quẻ trong Cấn là nam. Xét về nghĩa hào thì hào năm ở quẻ trên là chồng, hào hai ở quẻ dưới là vợ. Lý Dịch vẫn biến đổi như thế.

Người mệnh hợp cách có tài đức nhưng muộn mới phát. Người mệnh không hợp cách có thanh danh, ở ẩn nơi núi rừng, có chí hướng nhưng muộn tuổi mới đạt; sinh con muộn.

Về vận hạn: quan chức hay bị dèm pha, trước mờ ám sau sáng; giới sĩ sau mới thành; người thường trước khó sau dễ, già được thọ, còn nhỏ thì kỵ nuôi.

Hào thượng cửu: cánh hồng bay giữa tầng mây, lông rơi cũng dùng làm cờ quạt

Hào dương, hào tốt. Thời vận thuận lợi. Chim hồng tiến dần tới đường mây, lông của nó có thể dùng làm đồ nghi trượng, như cờ quạt để đi rước. Tốt.

Hồng tiệm vu quỳ, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát.

Hà Lạc nói vượt ra ngoài sự thường tình.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào trên cùng, ở trên hào năm chí tôn, không có vị gì cả, vô dụng. Nhưng trong quẻ này nó ở cao hơn cả gò cao, tức ở trên không trung, trên đường mây. Nó đã xuất thế, khí tiết thanh cao khác phàm; tuy không trực tiếp giúp đời nhưng có tư cách làm gương cho đời. Xã hội có những người như thế thì mới văn minh, cũng như lông chim hồng không dùng vào việc ăn uống, cất nhà, chở đồ, cày ruộng được, nhưng làm đồ trang điểm như cờ, quạt, mũ thì lại quý.

Phan Bội Châu phụ chú: hào thượng dương là hạng người không vướng vào lưới đời, chỉ có danh cao, khí chất khác thường lưu lại nhân gian. Như nhà thơ Ta-go-rơ ở Ấn Độ lấy thơ ca mà tiêu dao khắp Âu, Á; hay như bậc ở nước ta lấy cách thần tiên mà khinh miệt cả vương hầu. Thật là chim hồng bay trên đường mây mà lông rơi xuống vẫn dùng làm cờ quạt được.

Khi đọc trọn quẻ Tiệm, Phan Bội Châu nhận ra chữ Thời trong Dịch thấu suốt từ đầu đến cuối. Chữ Tiệm là thời chung của toàn quẻ, tức thời chung của một xã hội; sáu hào là thời riêng của mỗi người trong xã hội ấy. Vì thời riêng khác nhau nên bước tiến có trước sau, thang bậc có cao thấp. Hào một vì địa vị quá thấp nên chỉ tiến đến mé nước. Hào hai địa vị đã nhích lên, tài lại đúng chính, nên tiến đến bàn đá. Hào ba địa vị lấp lửng trên dưới, tiến khá cao mà không yên vị, nên tiến đến đất bằng. Hào bốn địa vị giống hào ba mà tài lại thua, xử lý còn bấp bênh, nên tiến lên cây mà chỉ may được cành bằng. Chữ hoặc được ở đây giống chữ hoặc nhảy ở hào bốn quẻ Càn: mong tiến mà chưa chắc đã tiến, mong được mà chưa chắc đã được, chỉ vì thời còn bập bênh. Đến hào năm vừa đắc trung vừa đắc chính, gặp thời Tiệm đã đến tầng cao nhất nên tiến lên gò cao, và cuối cùng được sở nguyện. Đến hào sáu thời Tiệm đã đạt cực điểm, cánh hồng bay bổng tuyệt vời, nên tiến lên tầng mây mà lông cũng dùng làm vật trang điểm được.

Tóm lại, sáu hào đều là chim hồng, đều ở vào thời Tiệm, nhưng vì thời riêng của mỗi hào khác nhau nên bờ, bàn đá, đất, cây, gò, mây cũng khác nhau. Đó là công dụng kỳ diệu của chữ Thời. Giống như sáu hào quẻ Càn đều là rồng, nhưng do thời riêng khác nhau nên khi ẩn, khi hiện, khi nhảy, khi bay, khi tột đỉnh cũng khác nhau. Nói khái quát, Thời là một vị thánh sư dạy ta làm việc, mà cũng là người đánh xe đẩy ta lên đường. Thời chưa tới thì dù tài đức đến đâu cũng khó làm gượng trước; thời đã qua thì dù khí phách, nghị lực đến đâu cũng khó kéo lại. Muốn tạo nên sự nghiệp, trước hết phải có con mắt biết xem thời; thời chung với thời riêng gặp nhau, dám chắc trong thiên hạ không có việc gì khó.

Nguyễn Hiến Lê nhận xét: trong sáu mươi tư quẻ, không có quẻ nào mà hào trên cùng cho cảm tưởng nhẹ nhàng, khoan khoái như quẻ này, thật phơi phới cùng với cánh hồng bay bổng. Nên so sánh hào sáu quẻ này với hào sáu quẻ Cổ. Quẻ Tấn với quẻ Tiệm nghĩa rất giống nhau: Tấn là tiến lên, Tiệm là tiến lên dần dần; vậy mà lời tiên đoán lại khác nhau xa, thật bất ngờ.

Người mệnh hợp cách hoặc làm người tiêu biểu, gương sáng một thời, hoặc đại biểu cho bốn phương, xa gần đều kính phục. Người mệnh không hợp cách làm thầy tu, khoác áo lông chim thanh cao, không màng danh lợi, không phe cánh, khó hưởng giàu sang.

Về vận hạn: quan chức được nghi lễ trọng thể; giới sĩ bỗng nổi danh; người thường được đề cử, có mưu kế thì lợi lạc không tai họa, phúc trạch dài lâu. Câu thơ của hào nói chim hồng bay bổng đường mây, bàn đào kết quả, định ngày nghỉ về.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc