Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Trạch Lôi Tùy: sấm động trong đầm và đạo theo người đúng lẽ

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Trạch Lôi Tùy: sấm động trong đầm và đạo theo người đúng lẽ

Sấm rền dưới đáy đầm, mặt nước tự khắc gợn theo, chẳng ai ép buộc. Nhưng có kẻ theo vì tình riêng, có kẻ theo vì lẽ phải, và kết cục của hai kiểu theo ấy khác nhau một trời một vực... Vậy người ta phải theo đến mức nào mới không phụ chính mình?


Tùy là thuận theo: sấm động trong đầm

Quẻ số mười bảy là Trạch Lôi Tùy, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Bảy. Tùy nghĩa là thuận, là theo hoàn cảnh. Trên là Đoài, là đầm; dưới là Chấn, là sấm.

Trạch trung hữu Lôi, Tùy. Quân tử dĩ hướng hối nhập yến tức.

Lời Tượng nói rằng trong đầm có sấm là quẻ Tùy. Người quân tử nhìn quẻ này mà khi buổi tối đêm đến thì đi vào chỗ an nghỉ.

Người sinh vào tháng Bảy gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Sinh từ tháng Hai đến tháng Tám cũng được phúc dày. Sinh từ tháng Chín trở đi thì phúc kém.

Tâm can tùng bách coi gì tuyết sương.

Theo mà phải có điều kiện: chính đáng, bền bỉ, đúng thời

Đoài ở trên là vui vẻ, Chấn ở dưới là động. Đó là tượng hành động mà được mọi người vui lòng theo. Cũng có thể hiểu Chấn là sấm, Đoài là đầm: sấm động trong đầm thì nước đầm theo tiếng sấm mà cũng động, nên gọi là Tùy, nghĩa là theo.

Các nhà nghiên cứu uyên thâm đều nhấn mạnh rằng theo nhưng phải có điều kiện thì mới thuận. Điều kiện ấy là sự chính đáng và bền bỉ. Thoán Truyện nói theo mà phải đúng thời mới được, tức Tùy Thời. Ví dụ ở Trung Quốc, đời Hán, Vương Mãng cũng muốn làm một cuộc cách mạng xã hội rất công bằng, rất tốt. Nhưng thời đó còn sớm quá nên thất bại. Tới đời Tống, Vương An Thạch cũng thất bại vì không hợp thời. Khổng Tử đã thốt lên rằng cái nghĩa Tùy Thời lớn lao thay.

Phan Bội Châu giải thích lời Tượng: nước đầm theo tiếng sấm mà động, ấy là tượng quẻ Tùy. Người quân tử xem tượng ấy mà tùy thời động tĩnh. Thời nên động mà động là ban ngày; thời nên tĩnh mà tĩnh là ban đêm; tới buổi đêm thì đi vào an nghỉ, cũng là một việc tùy thời của người quân tử. Sấm cũng có sấm động, sấm tĩnh: mùa xuân mùa hạ sấm phát tiếng, mùa thu mùa đông sấm thu tiếng, đó là lẽ trời; người quân tử động tĩnh tùy thời là bắt chước lẽ trời vậy. Nói tới buổi đêm đi vào an nghỉ chỉ là cách nói sơ sài, gần gũi, để chỉ cái lớn hơn là Tùy Thời mà thôi.

Hào sơ cửu: ra ngoài cửa mà giao thiệp, bỏ tư ái thì có công

Hào này bình. Hào từ nói chủ trương có thay đổi, giữ chính thì tốt, ra ngoài cửa để giao thiệp thì có công. Hào tốt đối với người biết giao thiệp, nhạy bén với tình hình. Không tốt đối với người cô độc, ít giao thiệp, không thức thời, dễ đi vào đường bảo thủ, trì trệ, sai lầm. Toán Hà Lạc nói tùy người tùy việc mà thay đổi, chỉ cần giữ công bằng ngay thẳng thì không lỗi.

Chu Hy hiểu lời hào là chủ trương có thay đổi. Phan Bội Châu hiểu là cái thế của mình thay đổi, vì hào một là dương đáng lẽ làm chủ hai hào âm ở trên, nhưng ngược lại phải tùy theo hai hào đó. Hiểu theo cách nào thì vẫn là: cứ chính đáng, theo lẽ phải thì tốt. Chớ theo tình riêng; hễ theo người ngoài mà họ phải thì vẫn thành công.

Thường người ta đã ở vào thời Tùy thì hay dây dưa vào vòng tư ái. Đã tư ái thì không chính đáng, không chính đáng làm sao tốt được. Nên nhất thiết phải đoạn tuyệt với tư ái, tượng như ra ngoài cửa mà giao kết với người, thì mới có thành công. Phan Bội Châu dẫn hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ nói đúng điều ông tâm đắc về nghĩa hào này: lúc ghét dệt thêu ngay hóa vạy, khi yêu tô vẽ méo nên tròn. Đó thuần là Tùy mà không được chính; Tùy mà được chính thì không đến nỗi chẳng tốt.

Người mệnh hợp cách tài to đức lớn, giải quyết được đại sự. Người mệnh không hợp cách có chỗ quyền thế để dựa, giữ công tâm thì không thất bại, nhiều người theo, hoặc ra nước ngoài kinh doanh cũng được việc.

Về vận hạn: quan chức nên đổi để làm việc chính đáng; học trò có cơ hội tốt; người thường hoạch lợi.

Việc đời tới lúc đổi thay, công nhiên xử sự có ngày thành công.

Hào lục nhị: bìu ríu với kẻ nhỏ thì mất lòng bậc trượng phu

Hào này xấu. Hào từ nói bìu ríu với tiểu tử thì mất bậc trượng phu, tức theo hào một mà bỏ hào năm. Thời cuộc khó tiến lui; không thể cứ bắt cá hai tay mà đằng nào cũng có lợi về mình. Công việc khó có kết quả tốt. Toán Hà Lạc ghi rằng lỡ mất đường theo chữ Tùy.

Hào này âm nhu, không biết giữ mình, gần đâu theo đấy, nên ràng buộc với hào dương ở dưới mà bỏ mất hào năm dương ở trên vốn ứng hợp với nó. Trong quẻ này, hễ là hào âm thì lời quẻ không dùng chữ Theo mà dùng chữ Ràng buộc, có sách dịch là bịn rịn, bìu ríu. Ý là âm nhu thì vì tư tình hoặc lợi lộc mà quần quýt, còn dương cương thì vì chính nghĩa mà theo.

Người mệnh hợp cách tài nhỏ, tính bất định, không thân cận người quân tử. Nữ mệnh lấy chồng quý hiển, được con thứ giúp đỡ. Người mệnh không hợp cách làm nô tỳ, hay chức thấp kém, ngày trước là hạng tùy phái.

Về vận hạn: quan chức nên lui bước, không được an ổn, bị điều tiếng có thể bị giam giữ. Mọi người nên biết cơ, tùy hoàn cảnh mà tiến thoái.

Được công thì phải bỏ tư, hai đường chọn một tùy cơ mà hành.

Hào lục tam: theo bậc trượng phu, bỏ lễ nhỏ giữ nghĩa lớn

Hào này tốt. Hào từ nói bìu ríu với bậc trượng phu thì mất kẻ tiểu tử. Đạo Tùy mà có cầu có được thì nên giữ, chính mới ích lợi. Bỏ lễ nhỏ giữ nghĩa lớn thì có lợi. Toán Hà Lạc nói đã theo được điều chính thì nhân đó có thể được lợi.

Hào này cùng âm nhu như hào hai, gần đâu thân cận đấy, nên thân với hào bốn dương cương có địa vị ở trên, tức bậc trượng phu, mà bỏ hào một, tức kẻ tiểu tử. Nó xin hào bốn điều gì cũng được vì hào bốn hơi có thế lực. Nhưng lời hào khuyên đừng xử thế trục lợi, phải giữ tư cách chính đáng thì mới tốt.

Người mệnh hợp cách gặp người trên, được như ý, nhưng bầy nô bộc tiểu nhân nói xấu, cứ từ từ, đừng nôn nóng. Người mệnh không hợp cách có danh lợi nhưng đường con cái kém. Nữ mệnh được chồng làm nên nhưng khắc tử tức.

Về vận hạn: quan chức được tiến cử vinh hiển; học trò gặp quý nhân, nên danh phận; người thường doanh mưu đắc lợi, cần giữ nhân nghĩa, phòng khẩu thiệt.

Hào cửu tứ: được lòng người mà dễ bị nghi, giữ lòng tín thì không lỗi

Hào này xấu. Hào từ nói thời Tùy có cái được, nhưng giữ chính mà vẫn hung, vì hào năm ngờ vực. Nếu có lòng tín tưởng ở đạo lý, làm cho sáng tỏ ra, thì còn lỗi gì. Phải trái đảo lộn, lợi cho kẻ tham quan. Kẻ sĩ nên danh. Giữ được đức tin thì cuối cùng không lỗi. Toán Hà Lạc nói đạo Tùy dù có đi đến chỗ nguy, nhưng cứ thành thực chính đáng thì không lỗi gì.

Hào này như một vị cận thần được nguyên thủ tin cậy, vì hào năm và hào bốn đều là dương. Ở vào thời Tùy là lúc thiên hạ theo mình, thu hoạch được lớn, có thể hiểu là được lòng dân hoặc lập được sự nghiệp. Nhưng chính vì vậy mà có thể gặp dữ, chẳng hạn bị ngờ là chuyên quyền, bị vua ganh ghét như trường hợp Nguyễn Trãi. Cho nên lời hào khuyên giữ lòng chí thành, theo đạo lý mà sáng suốt ứng phó thì mới khỏi lỗi.

Phan Bội Châu nói xem sử nước ta thì Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mới đảm đương được hào này. Khi quân Mông Cổ ba lần vào đánh nước ta, vua dời đô, Thái thượng hoàng phải chạy vào Thanh Hóa, bao nhiêu quyền quân quốc đều phó vào một tay Đại vương. Nhân tâm lúc bấy giờ nghĩ rằng ngài có thể chuyên quyền cướp nước. Nhưng ngài vẫn một lòng trung với nước, thù với giặc, đánh được quân Mông Cổ xong thì rước vua và Thái thượng hoàng về. Nước đã nguy nhờ Đại vương mà được an, vua đã bỏ ngôi nhờ Đại vương mà được phục. Đến khi công cao hơn bốn bể, uy trấn trong một đời, ngài vẫn thủy chung giữ phận làm tôi. Dù Vương phụ khuyên ngài lấy nước mà ngài không nghe, dù vua Trần cho ngài được quyền phong tước mà ngài đến chết vẫn chẳng cho ai một tờ bằng. Như thế là có niềm tin ở đạo, công của sự sáng, đúng như lời Tượng.

Người mệnh hợp cách hợp tình hợp lý, vì đạo mà không tòng quyền. Người mệnh không hợp cách tuy được vị nhưng không tránh được điều xấu, hoặc bị khiển trách, nghị kỵ, hoặc buôn bán xuôi ngược vất vả.

Về vận hạn: quan chức chuyên quyền; học trò tiến thủ, nên danh; người thường được đề cử, xấu biến thành tốt.

Cầu đâu được đấy vẫn hung, tín thành sáng suốt nên công, sợ gì.

Hào cửu ngũ: tin ở điều lành, dùng người hiền bằng lòng thành

Hào này tốt. Hào từ nói tin ở điều lành thì tốt. Với mọi người: quan chức dễ thăng tiến, tăng lương, tăng chức. Kẻ sĩ nhiều cơ may thành đạt, tìm được việc làm, được sử dụng. Nhà buôn kinh doanh phát đạt, nhiều phúc lộc. Toán Hà Lạc nói còn lòng thành mà dùng người hiền thì có kết quả.

Hào năm dương cương, ở vị tôn, trung và chính, lại ứng hợp với hào hai cũng trung chính nên rất tốt.

Người mệnh hợp cách thân hiền nên nhiều người theo, lập được công. Người mệnh không hợp cách là người trung chính, không ai ghen ghét.

Về vận hạn: quan chức mừng thăng ngạch trật; học trò đỗ đạt, được tiến cử; người thường nhiều việc vui mừng.

Chính trung trên dưới đều tin, hy sinh lành thiện phúc bền hanh thông.

Hào thượng lục: theo đến cùng cực, ràng buộc bằng lẽ tự nhiên

Hào này xấu về vận mệnh riêng. Hào từ nói gắn bó như móc buộc lấy, lại theo mà dằng giữ lấy, vua dùng tế lễ ở núi Tây Sơn, nghĩa là nghiệp lớn đã thành. Với người thường thì gặp lo lắng, phiền muộn hoặc ốm đau bệnh tật, chết yểu. Quan chức dễ bị gièm pha, tai tiếng xấu. Sĩ tử bị thất thế, bị nhục. Nhà buôn thua lỗ, thất thoát tài sản. Người thường dễ bị kiện cáo, tai nạn. Toán Hà Lạc nói lấy lòng thành mà dùng đạo Tùy thì có thể thông cảm với thần minh.

Hào này ở cuối quẻ Tùy, là được nhân tâm theo đến cùng cực, như thắt chặt với mình. Như vua Thái Vương nhà Chu lánh nạn người Địch, bỏ ấp Mân mà chạy sang đất Kỳ Sơn, người ấp Mân già trẻ trai gái dắt díu nhau theo, đông như đi chợ.

Phan Bội Châu chú rằng trong quẻ Tùy có ba hào có chữ Hệ, nghĩa là ràng buộc, nhưng chữ hệ ở hào sáu khác với chữ hệ ở hai hào kia. Ràng buộc ở hào hai và hào ba là ràng buộc vì tư tình. Ràng buộc ở hào sáu là ràng buộc theo lẽ tự nhiên: lòng dân tự nhiên theo người có đức nhân, y như nước tất nhiên chảy xuống chỗ trũng, theo lời Mạnh Tử.

Ông còn chỉ ra điều khác với nhiều quẻ. Hễ đã đến cùng thời biến thì thường có chữ cực: hào sáu quẻ Càn rồng lên cao quá có chữ Kháng, hào sáu quẻ Thái thịnh cực có chữ Loạn, hào sáu quẻ Dự vui cực có chữ Minh, tức tối tăm. Duy hào sáu quẻ Tùy, theo đến cùng lại có chữ Hanh, tức thịnh. Đó là lẽ biến hóa trong Dịch học. Nghĩa chữ Tùy ở đây không còn là tùy theo hoàn cảnh như các quẻ trên, mà chỉ nói tâm lý. Phải biết rằng khi chưa Tùy thì phải hết sức cẩn thận lựa kén, khi đã Tùy rồi thì tất phải giữ trọn từ đầu đến cuối. Sử xưa Trung Quốc có năm trăm nghĩa sĩ chịu chết theo Điền Hoành mà chẳng chịu về với Hán; mấy vạn nghĩa dân ở thành Kim Lăng cam tâm chịu chết với Lý Tú Thành, không một người chịu hàng quân Mãn Thanh. Họ chỉ Tùy về tâm lý mà chẳng Tùy vì hoàn cảnh, nên Tùy đến cùng cực mới là phối đạo.

Người mệnh hợp cách thành thực, ôn hòa, lương thiện, trong sáng, cảm phục được lòng người, nên đạt chí, thông tuệ. Người mệnh không hợp cách thì hoạt động chỉ thêm khốn cùng, gian nan; duy ở ẩn nơi sơn lâm thì tốt.

Về vận hạn: phàm gặp hào này thì hay lo lắng tội vạ, chỉ e tuổi thọ không lâu. Quan chức hay bị dèm pha; học trò bị bôi nhọ; người thường phòng tổn hại, hoặc bị giam lãm.

Lòng thành dâng lễ, quỷ thần cảm thông.

Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc