Bài tổng quan
Thiên Trạch Lý: dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn nhờ nhu thuận
Đi sau con cọp mà cọp vẫn hiền, chỉ vì người đi đã biết nhún mình đúng chỗ. Kẻ chột tự khoe sáng mắt, người thọt tự khoe đi nhanh, và đuôi cọp đang chờ ngay trước mặt... Vì sao cũng một cú dẫm, hào này hung mà hào kia lại cát?
Mục lục · 8 phần
- 01Lý là lễ, là trật tự, là cách bước đi
- 02Bức tranh chung: khó khăn, phải kính trên nhường dưới
- 03Hào sơ cửu: bước đi trong trắng, ra đời không lỗi
- 04Hào cửu nhị: đường bằng phẳng, người quạnh hiu giữ vững chính
- 05Hào lục tam: kẻ chột cứ tự phụ là sáng mắt
- 06Hào cửu tứ: dẫm đuôi cọp nhưng biết sợ nên cuối cùng tốt
- 07Hào cửu ngũ: ngôi cao dễ sinh cương quyết quá
- 08Hào thượng cửu: nhìn cách ăn ở để biết họa phúc
Lý là lễ, là trật tự, là cách bước đi
Quẻ số mười là Thiên Trạch Lý, được xếp vào quẻ tốt, tiết khí thuộc tháng Ba. Lý nghĩa là lễ: trật tự, chế độ, pháp luật, thiên nhiên. Chữ Lý trong tiếng Hán còn có nghĩa là giày, là dẫm lên.
Thượng thiên hạ trạch, Lý. Quân tử dĩ biện thượng hạ, định dân chí.
Trên là trời, dưới là đầm, là tượng quẻ Lý. Người quân tử coi quẻ này mà phân biệt trên dưới, định chí hướng cho dân. Sinh vào tháng Ba là đắc cách công danh phú quý.
Trên là dương cương, là Càn, là trời; dưới là âm nhu, là Đoài, là đầm (chằm). Như vậy trên dưới phân minh, lại hợp lẽ âm dương, tức là Lễ, là Lý. Có tính âm nhu vui vẻ đi theo sau dương cương, thì dù người đi trước mình dữ như cọp cũng tỏ ra hiền từ với mình, cho nên lời Thoán bảo rằng dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn. Nghĩa là đi sau cọp, lấy sự nhu thuận vui vẻ mà ứng phó với sự cương cường. Lời tượng bảo rằng trên dưới phân minh, nghĩa là có tài đức ở trên, kém tài đức ở dưới, thì lòng dân mới không hoang mang, mới định được chí dân, không có sự tranh giành.
Bức tranh chung: khó khăn, phải kính trên nhường dưới
Quẻ Lý chỉ thời vận khó khăn, hành động phải hết sức chu đáo thận trọng, biết kính trên nhường dưới và nên dựa vào cấp trên có thế lực để tránh hiểm họa.
Công danh sự nghiệp: vất vả nhưng khó thành. Tài vận: không đến, nên không đạt được phúc lợi như ý. Thi cử: khó khăn. Kiện tụng: khó thành, nên tránh thì hơn. Đi xa: dễ gặp bất trắc. Tình yêu: trắc trở. Hôn nhân: tưởng dễ, sau trở thành khó. Tốt nhất là nên học theo cách xử thế của người xưa: khiêm tốn, nhún nhường.
Hào sơ cửu: bước đi trong trắng, ra đời không lỗi
Hào này tốt. Bước đi với bản chất mộc mạc, ra đi thì không có lỗi. Dành cho những người hành động theo đạo lý, đúng đắn, như bước đi đẹp. Nhiều cơ may đạt sự nghiệp, thăng tiến, kinh doanh phát đạt. Phòng tang phục. Giữ bản chất trong trắng, tiến đi mà ra với đời thì không lỗi. Đạt mục đích mà không rời xa đạo lý, biết tiến.
Hào một này như người mới ra đời, còn giữ được bản chất trong trắng, chưa nhiễm thói đời; vì là hào dương, bậc quân tử, có chí nguyện, cứ giữ chí nguyện của mình thì không có lỗi. Nghĩa vụ của mình là cốt làm cho xứng đáng một con người, nhưng địa vị mình còn thấp, vậy tùy theo địa vị của mình mà làm đúng nghĩa vụ, tất phải theo hào một dương này. Truyện xưa kể thầy Nhan Uyên ở ngõ hẹp, thầy Khổng Minh nằm dạy ở Nam Dương: hai người này rất giỏi mà chưa có nơi dùng, vẫn yên vui nuôi chí của mình ở nơi vắng vẻ, chính đúng nghĩa hào này.
Mệnh hợp cách: người có đức hạnh không làm gì hại dân, thật đức, có phúc lộc nhiều; giữ đức, chất thực, không phù hoa, đạt chí hướng thì cả thiên hạ sẽ tốt lành, không lộng quyền trên, không hại dân. Mệnh không hợp cách: giữ thiện một tình vậy, đi vào đường văn hóa, thanh thản tu luyện; cũng là người lương thiện, tuy không giàu sang, hoặc là những nhà tu hành.
Vận hạn: quan chức thực hiện được đường lối, gặp dịp thăng tiến; học trò bé được học, lớn được hành, lợi danh thành đạt; người thường kinh doanh có kế hoạch, tiền của ngày tăng tiến; vận xấu có tang phục.
Gắng sức cầu mưu vận đã thông, bên trời yên phận chẳng buồn lòng. Tương giang mỏi cánh con hồng nhạn, tin tức trời âm gửi một phong.
Hào cửu nhị: đường bằng phẳng, người quạnh hiu giữ vững chính
Hào này tốt. Đi như đi trên đường bằng phẳng, người quạnh hiu cứ một mình giữ vững đường chính thì tốt (hào hai không có ứng viện nên quạnh hiu). Thời vận yên lành, mọi việc yên ổn, nhưng không làm được việc lớn, vì hào này cô đơn, không có hào nào đối ứng. Thích hợp cho người ở ẩn, người tu hành. Người ẩn dật tự cao.
Hào dương này đắc trung, vẫn là hiền nhân quân tử, bình thản giữ đạo trung, không để cho lòng rối loạn thì tốt. Tuy có hào năm ở trên ứng với, nhưng hào năm cũng là dương, nên không hợp, không trợ giúp được; cho nên lời hào bảo là một mình, cô độc. Suy ra quẻ Càn, hào hai và hào năm cũng đều dương, mà lời hào bảo hai hào ấy có thể tìm nhau mà làm việc; còn quẻ Lý này thì không. Đó là do ý nghĩa của quẻ, thời của mỗi quẻ khác nhau nên ý hào khác nhau, các quẻ khác cũng thế.
Lời hào này xem qua thì bình thường, nhưng xét kỹ thì thật là một bậc đại trượng phu mới làm được như lời thầy Mạnh: giàu sang không thể làm mình đắm say, nghèo hèn không thể làm mình đổi dời, uy vũ không thể làm mình khuất phục. Hào hai ở kề cận hào ba bất trung bất chính, là kẻ cầm quyền thế lấn át đời; tiến không được khinh xuất, để khỏi bị dẫn dụ, phải hết sức kín lặng, làm một người u ẩn chính bền. Kẻ ở ẩn gặp lời chiêm đoán này thì chính mà tốt.
Mệnh hợp cách: không dư dật nhưng đàng hoàng (đắc trung), cũng không thiếu thốn, có cái vui về sự trên dưới phân minh (về điều Lý); những người thích đời sống sung túc nhưng bình lặng, không màng công danh, không ganh đua với đời. Mệnh không hợp cách: thanh nhàn, không vinh mà cũng chẳng nhục, chẳng lo cơm áo; cũng là những người ưa tĩnh lặng bình dị.
Vận hạn: quan chức nghỉ hưu tốt lành; học trò khó hội ngộ; người thường ở yên tự túc là hơn, mưu việc gì nên suy xét kỹ; số xấu sống quạnh hiu.
Quạnh hiu nên giữ lấy mình, biết đâu không kẻ cạn tình đong đưa.
Hào lục tam: kẻ chột cứ tự phụ là sáng mắt
Hào này xấu. Chột mà hay nhìn (tự phụ là thấy rõ), thọt mà hay đi (tự phụ là nhanh), như vậy thì nguy, như dẫm lên đuôi cọp bị nó cắn người, xấu. Đó là kẻ vũ phu mà đòi làm việc của đại quân, ông vua lớn. Nhiều rủi ro, phải truất giáng, kỷ luật. Đây là hào của những người tài nhỏ chí to, không làm đúng khả năng, ngôi không đúng vị trí. Đi đường lối sai, xấu.
Hào này âm nhu mà ở ngôi dương cương, bất chính, bất trung, trên dưới đều là hào dương cả. Không lượng tài mình kém (âm) mà đua đòi theo các hào dương, không khác người thọt tự khoe là đi nhanh; đó là một hạng vũ phu mà đòi làm một ông vua lớn, sẽ gặp họa như dẫm lên đuôi cọp bị cọp cắn.
Mệnh hợp cách: tự ý, tự tôn, coi đời như chẳng có ai, mưu kế không thành mà lại có tính cường bạo, rước họa đến; là người tự cao tự đại, không biết người biết mình, lộng ngôn, làm càn, mang họa vào thân. Mệnh không hợp cách: hoặc làm lính đi xa, hoặc bị chột mắt, què chân, hoặc ngu hèn, chết yểu; là những người phận hèn kém, bị tàn tật.
Vận hạn: quan chức bị cách giáng; học trò phải đầu hàng, nhục; người thường kiện tụng, tù ngục, xấu nữa thì nhà phá người mất.
Hào cửu tứ: dẫm đuôi cọp nhưng biết sợ nên cuối cùng tốt
Hào này xấu về mặt hình thức nhưng kết quả tốt. Dẫm lên đuôi cọp nhưng biết sợ hãi, nên sẽ tốt. Nhiều khó khăn, nếu biết sợ để đề phòng thì tốt. Tôn kính người trên thì được toại ý.
Hào này dương mà ở vị âm, cũng tất bất trung bất chính như hào ba, cũng ở sau một hào dương cương, cũng như dẫm lên đuôi cọp; nhưng hào ba hung, hào bốn cát, chỉ do lẽ hào ba bản chất nhu, tài kém, u mê mà ở vị dương, chí hăng; còn hào bốn bản chất cương, có tài, sáng suốt mà ở vị âm, biết sợ hãi, thận trọng.
Xem hai hào này cũng thấy được một lẽ biến hóa trong Dịch học. Thông thường, ngôi vị hào biểu hiện cái bản chất của hào, còn thể hào biểu hiện cái chí hướng của hào; duy hai hào này thì khác: thể hào biểu hiện bản chất, ngôi vị hào biểu hiện chí hướng.
Mệnh hợp cách: kính cẩn thân thiện với bề trên, mềm dẻo thu phục được kẻ bạo cường; người kín đáo, lòng hoài cổ; đổi khó thành dễ, biến xấu thành tốt; khó khăn lúc đầu nhưng sau cùng khá; sĩ tử thi đỗ, được thăng tiến. Mệnh không hợp cách: khởi nghiệp nhà khó nhọc, dễ mắc sai lầm phá sản, tai nạn; nữ mệnh xấu thường là người loang toàng, ngoại tình, theo trai, tư cách kém.
Vận hạn: quan chức có dấu hiệu thăng lên hàng tướng soái; học trò đỗ cỡ cử nhân, tú tài; người thường tuy gặp nguy nhưng cẩn thận thì thoát được; nữ mệnh hình khắc, nhà suy bại, dâm dật.
Hào cửu ngũ: ngôi cao dễ sinh cương quyết quá
Hào này tốt. Quyết làm, đi; chính cũng phải phòng, hành động quá thì tuy chính đáng cũng có thể nguy. Hào này ở ngôi cao. Cần xem đường đi nước bước có tổn thương không.
Hào năm đắc chính, đắc trung, rất tốt, nhưng ở địa vị chí tôn trong thời Lý (nói về cách ở đời) thì e có lòng cương quyết quá mà tự thị, cậy thế, rồi hóa nguy. Cái nguy là ở chỗ dễ thành chuyên chế, độc tài. Dù cương minh đến thế nào, tôn quý đến thế nào mà cứ một mực quyết lý, hành động dẫm xéo hoài, cũng là nguy hiểm.
Mệnh hợp cách: đức mạnh, hành động gấp để đuổi tà, không để lỡ, đến nỗi miệng tiếng thị phi, lợi hại; có đức lớn được lòng người, hành động biết lo trước tính sau, khó khăn để vượt, công danh dễ thành, quan chức dễ thăng tiến, thành công trong công việc. Mệnh không hợp cách: khó hợp với nhân tình, đường đi gian hạn, từng bước gai góc rồi mới nên; gặp nhiều khó khăn, công danh trắc trở; kẻ sĩ có tài dễ bị gièm pha, khó khăn trong thăng tiến.
Vận hạn: quan chức có động lớn, không thưởng; học trò tiêu biểu mà khó thành danh; người thường bạo động, gây họa hoạn, có ngày vong thân.
Luôn luôn phòng bị gian nan, yên cương roi ngựa dặm ngàn quản chi.
Hào thượng cửu: nhìn cách ăn ở để biết họa phúc
Hào này tốt. Xem cách ăn ở để đoán họa cát, nếu trọn vẹn (nếu hoàn toàn không phạm khuyết điểm) thì rất tốt. Tận tâm với đạo lý thì đạt phúc quả.
Đây là cuối quẻ, kết thúc cách ăn ở trong đời người, nên lời hào diễn ý nghĩa của toàn quẻ chứ không diễn ý nghĩa riêng của hào cuối. Đây là ngoại lệ, giống như quẻ Tiểu Súc. Quẻ này tên là Lý có nghĩa là lễ, là dẫm lên, nhưng cả sáu hào đều nói về cách ăn ở suốt đời người: mới ra đời thì phải giữ tính chất trong trắng, chất phác; rồi sau giữ vững đường chính (hào hai); biết sức mình, đừng tự phụ (hào ba) để tránh nguy; biết thận trọng sợ hãi thì tốt (hào bốn); khi ở địa vị cao rồi, đừng cậy thế mà cương quyết quá (hào năm). Cách ăn ở được như vậy cho tới cuối đời thì tốt không gì bằng.
Điều đáng lưu ý: quẻ này cũng chỉ có một hào âm mà không có nghĩa là thống lĩnh quần dương như quẻ Tiểu Súc. Cái nghĩa biến dịch là như vậy.
Mệnh hợp cách: tài cao đức trọng, phúc trạch dồi dào; có sức bao dung, giữ được đạo trung, biết xử sự, có thủy có chung, sẽ thành đạt cao, phúc lộc nhiều. Mệnh không hợp cách: biến thành a dua, bất chính, hại; không có chính kiến, dễ a dua làm liều, hám danh lợi nhưng không liệu được sức mình, gặp nhiều gian nan, thất lộc, thất bại.
Vận hạn: quan chức hiển đạt rồi thì lui về cho toàn danh, hưởng phúc; học trò đỗ cao, tiến lên; người thường tiền của tăng tiến, có thể có tang phục.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
