Bài tổng quan
Tướng soái, cận thần và dấu hiệu thăng chức trong quan vận
Bên Chu Văn Vương có Khương Tử Nha, bên Hán Cao Tổ có Trương Lương: những bậc dựng nghiệp lớn đều giữ cạnh mình một người đọc được mệnh. Với một người bình thường cũng vậy, chức vụ đến đâu, làm tướng hay làm quan văn, giữ ghế bao lâu đều đã nằm sẵn trong tám chữ. Từ bốn kho đủ đầy của bậc đế vương đến một chữ kình dương đặt lệch chỗ, mỗi dấu hiệu nói một điều rất khác...
Mục lục · 6 phần
- 01Quan là vinh lộc, và vì sao người xưa trọng kẻ biết đọc mệnh
- 02Dấu hiệu của bậc đế vương, cận thần và quần thần cực quý
- 03Dấu hiệu của tướng lĩnh, của người nắm quyền sinh sát
- 04Dấu hiệu của quan văn, quan trong triều và nội các
- 05Dấu hiệu thăng chức, đổi chức, giữ chức
- 06Các tượng riêng của từng ngành, từng chức
Bên Chu Văn Vương có Khương Tử Nha, bên Hán Cao Tổ có Trương Lương: những bậc dựng nghiệp lớn đều giữ cạnh mình một người đọc được mệnh. Với một người bình thường cũng vậy, chức vụ đến đâu, làm tướng hay làm quan văn, giữ ghế bao lâu, thanh liêm hay mờ ám, tất cả đều đã nằm sẵn trong tám chữ. Từ bốn kho đủ đầy của bậc đế vương đến một chữ kình dương đặt lệch chỗ, mỗi dấu hiệu nói một điều rất khác...
Quan là vinh lộc, và vì sao người xưa trọng kẻ biết đọc mệnh
Quan là vinh lộc, là chức trời giao để làm việc cho dân. Quan thanh liêm, trung thực thì tên lưu sử sách; quan mờ ám, gian trá thì tiếng xấu để muôn đời. Tứ trụ của mỗi người là kho chứa thông tin của cả một đời: có quan vận hay không, chức lên đến bậc nào, làm quan gì, làm được bao lâu, là người thanh liêm hay mờ ám, trung thực hay nịnh thần, khi nào thăng chức, khi nào mất chức, tất cả đều có dấu hiệu rõ ràng. Chỉ cần sắp được tám chữ ra và nắm vững những quy tắc dưới đây là đọc được.
Xưa nay những bậc đế vương dựng nghiệp, để lại tiếng thơm và biết dùng người, đều là người nắm rất vững mệnh lý của Dịch học, đồng thời trọng dụng những bậc tinh thông Dịch học, giỏi dự đoán làm quân sư, làm tham mưu cho quyết sách. Chu Văn Vương dùng Khương Tử Nha, Tần Thủy Hoàng dùng Lý Tư, Hán Cao Tổ dùng Trương Lương, Đường Thái Tông dùng Từ Mậu Công, Minh Thái Tổ dùng Lưu Bá Ôn. Những người ấy được các bậc đế vương trọng dụng đúng vào lúc thịnh nhất của lịch sử Trung Hoa và lập nhiều công phù vua dựng nghiệp.
Ngược lại, có những bậc đế vương hay hoàng tử kế vị không hiểu Dịch học, không biết mệnh lý, không có đường lối trị nước, chỉ dùng người thân, không quan tâm đến dân tộc và triều chính mà chỉ thích tìm hoan lạc, kết cục là nước nhà suy sụp, triều đình tan rã. Tứ trụ không chỉ giúp chọn người làm quan có phẩm chất tốt mà còn đánh giá được tài trí của họ. Với chính viên quan ấy, biết trước thì khi ra nắm quyền là kẻ sĩ, khi rút lui là kẻ ẩn, tránh được những tai họa của quan trường.
Dấu hiệu của bậc đế vương, cận thần và quần thần cực quý
Bốn kho thìn, tuất, sửu, mùi đều có và thuận là mệnh bậc đế vương. Bốn xung tý, ngọ, mão, dậu mà xung đúng lúc cũng là mệnh đế vương. Quý vượng xung quan lại gặp hợp là cận thần phò vua. Lộc mã bay lên, hoặc xung quan hợp lộc mã, là bậc quần thần cực quý. Mệnh gặp tam kỳ, lại có tam hợp nhập cục là lương thần của quốc gia. Thuần quan, thuần sát, thuần tài, thuần mã mà thân không tạp là quan đến bậc cực phẩm. Củng quý, củng lộc là bậc tướng; củng lộc, củng quý thuần túy là bậc vương hầu. Tứ trụ có đủ tý, ngọ, mão, dậu là tài văn võ giúp đời, yên thiên hạ.
Quan quý được tài quan trợ giúp lại gặp tam kỳ thì làm đến tể tướng. Nguyệt lệnh là thất sát mà thân và sát đều mạnh cũng là tể tướng. Trụ ngày có quan, hoặc có quý, hoặc có ấn mà không bị phá thì là bậc phúc thần trị đời. Trong trụ ấn nhiều, tài lộ thì đến tám mươi tuổi vẫn còn gặp được Văn Vương. Có hoa cái cùng ấn tinh là bậc lương thần như Quản Trọng. Tam kỳ quý nhân nhiều lại gặp thiên ất quý nhân thì công tích siêu quần; nếu có tam hợp nhập cục là trụ cột của đất nước. Quan tinh gặp thiên đức là người kinh bang tế thế. Phúc đức gặp tài lại có quan, ấn thì ở chức vụ rất cao.
Dấu hiệu của tướng lĩnh, của người nắm quyền sinh sát
Thất sát có chế ngự, kình dương không bị xung là cực quý, là tướng nắm quyền sinh sát. Bính hợp Tân sinh là tướng nắm quyền, trấn thủ một phương. Quan sát rất nặng, thân lại mạnh, nếu gặp chế phục thì là bậc trung thần. Sát và kình dương đều lộ rõ lại ngang nhau thì làm đến chức vương hầu. Thân mạnh gặp thất sát phục ấn là quan trấn thủ một vùng. Kiếp tài, kình dương lại có quan sát là bậc quan đài các. Kình dương, thiên quan có chế ngự là người nắm binh quyền. Sát vượng, ấn yếu là người xuất thân văn nhưng cuối cùng làm võ tướng. Quan tinh lẫn kình dương thì quyền uy thống lĩnh các tướng. Thương quan có kình dương là bậc tướng có tài.
Quan không có kình dương mà có ấn, nếu không phải quan cảnh sát thì cũng là quan trấn ải biên cương. Ấn và kình dương đều gặp thì làm quan chức cao. Thiên quan có chế ngự, có sinh là uy trấn biên cương. Trụ tháng có thất sát, nhật nguyên mạnh là bậc tướng. Thất sát, kình dương đều rõ là uy lừng thiên hạ. Thất sát hóa quyền: làm võ thì công danh lẫy lừng, uy trấn biên cương thì công danh cái thế. Kình dương nắm quyền là bậc tướng soái. Kình dương gặp quan sát là người cầm quyền trấn ải biên cương. Thương quan gặp kiếp, kình dương là bậc làm tướng. Thương quan lẫn sát, kình dương thì công danh đến chức tướng. Đức trợ cho thương quan là người nắm binh quyền.
Thực thần chế ngự sát thì vợ vinh hiển, con hiển đạt; trong trụ không có kiêu thần là quan quản việc giáo dục trong triều. Thực thần lẫn kình dương đóng ở quan là quan nhất phẩm. Quan tinh lẫn kình dương tất được phong quan. Thuần sát lại có chế ngự là làm quan nhất phẩm. Trụ có đủ kình dương, tam hình, tự hình, khôi canh thì lập được chiến tích. Mã đầu có kiếm là quan trấn thủ biên cương. Sát có chế ngự mà không gặp kiêu, nếu không nắm quyền sinh sát thì cũng giữ chức tòa án quân sự. Thực thần chế ngự sát là anh hùng áp đảo hàng vạn người. Sát chế ngự, kình dương nhọn là nắm trong tay nhiều quân. Khôi canh gặp sát xung chiếu nhau là người tính cứng rắn, nắm quyền sinh sát. Kình dương, thất sát xen nhau là người trấn giữ thành trì.
Dấu hiệu của quan văn, quan trong triều và nội các
Mộc thịnh gặp kim là bậc quan rường cột. Trong trụ kim thủy tương sinh là quan cao trong triều. Quan ấn sinh tuế nguyệt là chức quan ở trong triều. Gặp lộc và được lộc hợp thì làm quan chức cao. Kim thần có ấn là quan trong nội các. Kim thần cùng kình dương ở đất hỏa cũng làm quan trong nội các. Tướng tinh gặp dụng thần, vong thần là bậc quan rường cột. Thương quan lộ, chính quan ẩn, gặp nhiều sát, ấn thì quyền cao. Sát chế ngự, kình dương hưu tù mà chính ấn gặp nguyệt lệnh thì làm chức quan ở viện hàn lâm. Tài, quan, ấn đều có thì tướng văn là anh hùng, tướng võ có uy.
Trong trụ quan sát vượng, thân vượng là quan thanh liêm cao quý. Thân nhược, sát yếu mà hóa sát thì có chức quyền. Có một ngôi chính quan là quý nhân, quân tử; thuần túy thì là quan cương trực, liêm chính. Ngày, giờ gặp mã là quan thanh liêm. Quan, ấn không gặp kình dương, không có sát là chức cao mà thanh liêm. Hoa cái nhiều là tốt, nếu còn gặp vượng tướng thì nhất định quyền cao chức trọng. Hoa cái gặp ấn kiêm vượng tướng nhất định là quan trong triều. Quan tinh lẫn đào hoa thì quyền cao chức trọng. Quan, ấn cả hai đều có là quan võ.
Dấu hiệu thăng chức, đổi chức, giữ chức
Quan tinh trong chi không bị hình phá là nhờ vợ mà được làm quan. Trụ ngày, trụ giờ gặp lộc mã thì dễ được làm quan, làm quan tốt. Ngũ hành ngày giờ không tạp thì làm quan hiển đạt. Tài vượng sinh quan thì đạt vinh hiển. Quan, sát rơi vào tuần không vong thì lênh đênh, không có chức gì ra hồn. Có cục Canh, Tân lẫn tị, dậu, sửu thì chức trọng quyền cao. Thương quan gặp quý nhân thì chức cao mà đầy đủ. Thân vượng có sát lại đi vận ấn thụ thì mất chức. Ngày Nhâm giờ Nhâm lại gặp Nhâm thìn là thăng chức cao. Thương quan, thất sát, mệnh nam gặp được là thăng quan. Trụ năm có lộc hội tụ thì thăng quan tiến chức. Trong trụ chỗ quan hợp là đổi chức quan.
Giáp lộc, giáp mã là chức quan cao. Lộc mã ở cùng ngôi là quan cao vinh hiển. Ấn gặp thiên ất là đời đời làm quan. Trên trụ giờ có quan tinh lại gặp mệnh cứng thì cuối đời vẫn được phong chức. Âm đức quý vượng thì vinh hiển. Quan kho, tài kho khi được xung khai thì hưởng lộc quan. Quan sát hỗn tạp thì cái tốt giữ lại là tốt, cái xấu nên mất đi: quan võ nên mất quan giữ sát, quan văn nên mất sát giữ quan. Quan vận gặp thân vượng tất thăng chức. Quý áp chế được tam hình thì làm chức nắm pháp luật. Tam hình đắc dụng là uy trấn tam quan. Đất thuần âm bao được dương thì chắc chắn có binh quyền. Tài gặp ấn địa tất đổi chức quan. Lộc đến trường sinh, nếu đã có ấn thì thăng chức. Mã gặp đế vượng, trụ không có thương quan thì thăng quan tiến chức. Kình dương mạnh, sát yếu, thấy sát sẽ sinh quan. Trước tài sau ấn thì thăng chức luôn luôn.
Lộc nhiều lại có ấn trợ giúp thì quyền cao chức trọng. Trụ năm có quan tinh gặp tài, ấn, thân vượng thì phúc khí dồi dào, phát đạt rất sớm. Quan, mã hợp nguyệt kiến là kiêm hai chức vụ. Thất sát có chế ngự thì y lộc dồi dào; can có thực thần, chi có hợp thì con cháu ai cũng làm quan. Tứ trụ thuần dương, thiên ấn mạnh thì chức vinh hiển. Tài vượng sinh quan là tự mình thành đạt. Ấn thụ được sinh vượng thì lợi cho quan vận. Sát và ấn đồng ngôi là người táo bạo, vận hanh thông, nhất định cầm quân, chỉ sợ về sau không hiền lành. Trụ tháng gặp ấn thụ, gặp quan tinh là tốt, vận nhập quan thì phúc đến. Thương quan gặp tài là chức cao mà của nhiều.
Thực thần sinh vượng lại gặp lộc mã thì quan văn kiêm hai tỉnh, quan võ trú quân hai tỉnh. Thực thần gặp hợp là vừa có chức vừa nắm con dấu. Kình dương nhiều còn gặp ấn là người trăm mưu nghìn kế. Chi có kình dương, can có quan, trụ giờ và trụ tháng đều gặp thì quan vinh hiển. Quan tinh không bị xung phá thì hưởng lộc một mình. Ấn thụ gặp thiên ất thì được người đời tôn kính. Quan, sát đều có lại gặp thiên đức, nguyệt đức thì lên chức, được lộc. Quý nhân trên đầu lại có quan tinh thì nhất định bước trên sân vàng thềm ngọc. Ấn gặp tài là mất chức; tài gặp ấn là dời chỗ làm quan. Thương quan thương tổn hết thì một mình nắm quyền cao. Kiến lộc gặp quan thì quý. Kình dương nhẹ, sát nặng lại không bị chế ngự thì chỉ làm quan nhỏ. Quan tinh lẫn kình dương mà không bị khắc phá là người nắm quyền tòa án quân sự cấp cao.
Các tượng riêng của từng ngành, từng chức
Tài, quan sinh vượng gặp ấn thụ tất làm chức cảnh sát. Thương quan được thực thần bổ trợ là tượng có công. Trụ tháng có sát, ấn, trụ giờ có thương quan thì được bổ nhiệm chức quan cao vừa ý. Tài quan đều đẹp lại thấu tài ấn là chức quan đứng đầu. Tài vượng sinh quan, lại được ấn, kình dương trợ giúp thì chức quan cao quý. Ấn cách thấu với tài quan thì tuổi trẻ đã được bổ nhiệm trấn thủ biên cương. Trụ năm chính ấn, trụ tháng chính quan là người nhậm chức ngành giáo dục cả nước. Kình dương gặp lộc mã, tam kỳ, được lệnh nên thấu tài thì là quan đệ nhất phẩm. Thương quan cùng tài, ấn và sinh vượng là trụ cột của triều đình.
Quan gặp vong, kiếp lại kiêm thất sát là võ tướng. Trụ có thiên đức, quý nhân sinh ấn thì vừa làm được quan văn, vừa làm được quan võ. Kình dương mạnh, sát vượng là người dũng mãnh, địch nổi ba quân. Sát vượng, thân mạnh nhưng bị vận chế ngự thì được điều ra biên giới làm tướng. Vận gặp lộc mã mà lập công thì làm quan ngay. Trụ ngày có khôi canh, gặp vận thân vượng là làm quan văn. Quan, ấn tương sinh gặp tuế vận là quan trong triều. Sát, kình dương hưu tù mà lộc mỏng thì chức quan kém. Trong trụ có đủ dần, thân, tị, hợi là quan ở cấp cao. Lộc nhiều lại có ấn thụ trợ giúp thì làm đến cấp tướng. Thương quan có chế ngự là uy trấn biên thùy. Mão, thìn, ngọ, sửu sinh vượng nhập quý cách là người nắm quyền cai ngục. Tam hình gặp quý nhân là thăng chức luôn.
Sau cùng, vị trí của quan tinh cho biết quan vận rơi vào ai: quan tinh ở trụ năm là ông cha vinh hiển, ở trụ tháng là anh em vinh hiển, ở trụ ngày là bản thân vinh hiển, ở trụ giờ là con cháu vinh hiển. Trụ năm có quan tinh thì đời ông cha làm quan; trụ tháng có quan tinh thì anh em làm quan. Trụ ngày, trụ tháng đều có quý nhân mà trụ giờ gặp kỵ thần thì quan luôn bị đổi chuyển. Trạch mã học đường ở trường sinh là quan có tài.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
