Bài tổng quan
Thương Ưởng thưởng phạt nghiêm minh và mưu lược của Lý Tư
Trước khi ban một đạo luật nào, Thương Ưởng dựng một cây gỗ giữa chợ và treo thưởng cho ai dời được nó, chỉ để chứng minh mình không nói suông. Đạo luật ông ban ra sau đó nghiêm đến mức chính con trai vua cũng bị trừng trị, và cũng nghiêm đến mức khi vua mới lên ngôi, ông phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Cùng thời, một môn khách khác tên Lý Tư đang dùng một lá thư để cứu sự nghiệp của cả đời mình...
Mục lục · 1 phần
Thương Ưởng thưởng phạt nghiêm minh và mưu lược của Lý Tư
Nói được thì phải làm được - trước khi ban hành một điều luật nào, Thương Ưởng đã tự tay dựng nên một câu chuyện nhỏ để cả nước Tần phải tin lời ông.
Dời cây gỗ để lấy lòng tin trước khi ban hành biến pháp
Thế là, với sự ủng hộ của Tần Hiếu Công, biến pháp được đi vào thực hiện. Thương Ưởng cho ra cáo thị, nếu ai dời được một cây gỗ từ cửa Nam sang Bắc thì sẽ được thưởng 50 lạng bạc, dân chúng biết tin kéo đến, một người mạnh bạo tiến lên dời cây. Thương Ưởng liền cho năm mươi lượng để chứng tỏ mình không lừa dối, sau đó Thương Ưởng mới bắt đầu đưa ra mệnh lệnh. Dời cây chính là chiến lược giành lấy lòng tin của dân trước khi ông ban bố hiệu lệnh của cuộc thực hiện biến pháp.
Điều lệ của cải cách như sau: một, xóa bỏ chế độ tỉnh điền, mở bờ ruộng, thực hiện chế độ sở hữu đất đai phong kiến, có thể tự do mua bán đất đai; hai, khuyến khích cày cấy dệt vải, những ai sản xuất ra nhiều lương thực và vải vóc sẽ được miễn sai dịch, cấm bỏ nông theo thương; ba, khuyến khích tăng dân số, nhà có từ hai người con trai trở lên sẽ phải phân ra sống độc lập; bốn, khuyến khích lòng quân, xóa bỏ chế độ thế tập chủ nô quý tộc, thực hiện chế độ hưởng lợi theo công, có tham gia tòng quân mà không có công thì không được hưởng; năm, tăng cường tập quyền trung ương, thực hiện chế độ quận huyện, do trung ương cử người trực tiếp quản lý; sáu, thống nhất đơn vị đo lường để phát triển sản xuất; bảy, thực hiện chế độ "hộ dịch liên tọa", chia dân thành từng nhóm, cứ năm hộ là một bảo, mười hộ là một liên. Ngoài ra còn thực hiện dời đô về Hàm Dương và di dời một bộ phận quý tộc không trung thành, mục đích là để tăng cường tập quyền trung ương và tăng cường quản lý chặt chẽ.
Những chính sách này về mặt khách quan đã có tác dụng củng cố sự thống nhất và ổn định, đồng thời điều động được tính tích cực của nhân dân, kích thích phát triển sức sản xuất, làm cho nước Tần dần dần lớn mạnh, tạo tiền đề để nước Tần sau này thực hiện thống nhất sáu nước.
Tóm lại, biến pháp Thương Ưởng bao gồm nhiều phương diện như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... đã hạn chế được thế lực của giai cấp đại quyền quý tộc và chủ nô, kích thích được sự phát triển của sản xuất. Đây cũng là cuộc đấu tranh giữa giai cấp địa chủ tân hưng và tiên tiến đương thời với bọn chủ nô và quý tộc lạc hậu. Biến pháp Thương Ưởng đã tấn công vào lợi ích của giai cấp chủ nô, bảo vệ lợi ích giai cấp địa chủ, thúc đẩy sự phát triển của xã hội phong kiến Trung Quốc và là đại biểu của lực lượng tiến bộ trong xã hội.
Thưởng phạt nghiêm minh, lấy luật pháp thay thế tình cảm
Thương Ưởng là một trong những đại biểu của Pháp gia. Hàn Phi Tử là tập đại thành của lý luận Pháp gia, mà Thương quân thư của Thương Ưởng chính là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ nó. Tư tưởng Pháp gia của Thương Ưởng xuyên suốt toàn bộ biến pháp Thương Ưởng gồm chính sách thưởng phạt nghiêm minh, lấy pháp luật để trị người. Vì thế, khi thái tử - sau này là Tần Huệ Vương - phạm phải tội, Thương Ưởng đã không chút nể nang, tuy không dám xử tội chết cho thái tử song cũng phải xử tội cắt mũi tên vệ đội trưởng và chạm mặt thầy giáo của thái tử.
"Thái tử phạm tội, Thương Ưởng nói: pháp lệnh mà không thi hành được là do người trên phạm. Thương Ưởng muốn lấy pháp luật trị thái tử, nhưng thái tử sẽ là người nối ngôi nên không thể trừng trị. Ưởng trừng trị thái phó của thái tử là công tử Kiền, chạm mặt thầy thái tử là Công Tôn Giả."
- Sử ký, Thương quân liệt truyện.
Sự trừng phạt của Thương Ưởng đối với thái tử đã gieo nên một mầm họa, sau khi kế vị, Tần Huệ Vương đã mượn cớ đẩy ông vào tội nặng, phải chịu cực hình ngũ mã phanh thây, vô cùng bi thảm, kết thúc cuộc đời biến cách khó nhọc của ông.
Thời gian Thương Ưởng làm tể tướng, ông không những là một người của phái khai phá với tài năng hiếm có mà còn là một nhà cách tân dũng cảm, nhà cách mạng cổ đại. Những cách tân của ông đã xâm phạm tới lợi ích của tầng lớp đặc quyền trong xã hội khiến cuộc đời ông phải kết thúc thê thảm. Ông đã dám trị tội thái tử - đây là bằng chứng có thể khẳng định ông là một nhà cách tân triệt để. Cái chết của Thương Ưởng là sự trả thù của tầng lớp đặc quyền phong kiến dành cho ông. Tuy Thương Ưởng đã chết thảm như thế song vẫn lưu lại trong lịch sử Trung Quốc tên tuổi lẫy lừng của một tể tướng cách tân kiệt xuất.
"Dân Tần rất vui mừng, ngoài đường không nhặt của rơi, trong núi không có trộm cướp, nhà đủ người no, dân dũng cảm trong lúc chiến đấu và việc công, khiếp sợ không dám đánh nhau vì việc riêng. Làng xóm đều được trị an."
- Sử ký, Thương quân liệt truyện.
Từ đó có thể thấy được ý nghĩa tích cực của biến pháp Thương Ưởng đối với sự phát triển của xã hội, sau mười năm thực hiện.
Lý Tư dâng lời can ngăn đuổi khách, đổi thay cả vận mệnh
Lý Tư là nhà mưu lược chính trị nổi tiếng, ông làm thừa tướng cho nhà Tần, công lao lớn nhất của ông là đã phò tá Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc. Lý Tư đã từng đánh động Tần Thủy Hoàng với cuốn "Gián trục khách thư" - lời can không nên đuổi khách - nổi tiếng, từ đó mà làm thay đổi lớn lao số phận của mình. "Gián trục khách thư" đưa ra những luận thuyết rất có giá trị thông qua việc phân tích mối quan hệ lợi hại của "khách" và "trục khách" đối với nhà Tần, xoay quanh chí lớn của Thủy Hoàng "vượt ngàn dặm, trị chư hầu", triển khai phân tích về tác dụng lớn nhỏ khác nhau của một số bậc tài hiền nước ngoài đối với sự an nguy của nhà Tần.
"Như thế không phải là cách chinh phục bốn bể, thiết lập chư hầu, như thế tức là, như người ta nói, giúp vũ khí cho giặc và đem lương thực cho bọn ăn trộm vậy. Nay nhà vua đuổi khách đi để giúp cho nước địch, bỏ dân đi để cho thêm kẻ thù, như thế là ở bên trong tự làm cho mình yếu và bên ngoài gây oán với chư hầu, muốn cho nước khỏi nguy cũng không thể nào được."
- Sử ký, Lý Tư liệt truyện.
Tần Thủy Hoàng xem xong lập tức ra lệnh hủy bỏ lệnh trục khách và bắt đầu trọng dụng Lý Tư. Lý Tư từ đó có được cơ hội thể hiện tài năng của mình.
Lý Tư thời trẻ từng tôn Tuân Khanh làm thầy dạy, về sau lại nương nhờ nhà chính trị tài giỏi Tần Vương Chính - tức Doanh Chính - từ đó bắt đầu cuộc đời chính trị của mình. Mưu lược của Lý Tư rất thâm sâu song do ông cầu lợi mà vong nghĩa nên đã trở thành một người vừa có công lập ra nước Đại Tần thống nhất lại cũng vừa mang tội gây nên tai họa tiêu diệt nhà Tần. Về sau, Lý Tư bị khép cực hình "yêu trảm" - chặt đôi người - và chết rất thê thảm, cũng có thể nói đó là báo ứng đối với việc ông đã vì bảo toàn tư lợi mà chấp nhận khuất phục hèn hạ. Nếu như ông kiên quyết thủ tiết nghĩa, không tự làm nhơ bẩn mình như thế thì hẳn ông cũng không phải chịu một kết cục bi thảm đến như vậy.
Lý Tư là người mưu tính sâu xa, kế sách mà Lý Tư hiến cho đại nghiệp thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng, bao gồm cả việc thiết lập và củng cố nền đại trị, là rất có giá trị đối với không chỉ thời đại ông mà còn với lịch sử. Ông lại là một người biết "viễn lự cận ưu" - tính xa lo gần - như khi ông đang ở trong cảnh trăm quan đều đến trước mặt chúc thọ, ở ngoài sân, ngoài cửa, xe ngựa kể có hàng nghìn, Lý Tư thở dài than rằng:
"Than ôi, ta nghe Tuân Khanh nói: sự vật không nên đi đến chỗ quá thịnh... Nay ta ở địa vị bầy tôi không thua kém ai, có thể nói là giàu sang cùng cực rồi vậy. Phàm sự vật đến chỗ cùng cực thì sẽ suy, ta chưa biết sau này kết cục ra sao!"
- Sử ký, Lý Tư liệt truyện.
Ba công, ba tội của Lý Tư
Ba công lao của Lý Tư: giúp Tần Vương Doanh Chính phán đoán chuẩn xác về thời cuộc, tình thế, đưa ra kế sách "chinh phạt nước Hàn trước để uy hiếp các nước khác", sau đó tấn công sáu nước, thực hiện thống nhất Trung Quốc - đây là công lao lớn nhất của ông đã ghi lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử; ngăn Tần Thủy Hoàng thực hiện phân phong cho chư hầu, thi hành chế độ quận huyện, tăng cường tập quyền trung ương, củng cố nền thống nhất quốc gia; giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất các đơn vị đo lường, thống nhất văn tự, mang lại những thành tựu quan trọng cho việc thống nhất và phát triển văn hóa Trung Quốc.
Ba tội lỗi của Lý Tư: đố kỵ và hãm hại nhà Pháp gia kiệt xuất có tài năng hơn ông ta là Hàn Phi Tử - đây không phải là sự thể hiện khí phách của một nhà chính trị mà là cái hẹp hòi của một kẻ sách mưu phong kiến; đề xướng việc đốt sách chôn nhà Nho, xuyên tạc và hủy hoại văn hóa Trung Quốc, phản ánh thủ đoạn xấu xa độc ác của giai cấp thống trị phong kiến khi tìm cách áp chế dư luận; nghe theo và tham gia vào âm mưu chính biến của Triệu Cao và thế tử Hồ Hợi trong sự kiện Sa Khâu, âm mưu truyền thánh chỉ giả hại chết con cả của Tần Vương là Phù Tô, giúp cho Triệu Cao và Hồ Hợi đạt được mưu đồ đoạt chính, chỉ trong một ngày đã hủy diệt đi sự nghiệp mà nhà Tần phải trải qua vô vàn gian khó mới tạo dựng được ra.
Những công, tội này của Lý Tư đều rất nổi tiếng trong lịch sử. Riêng ở tội lần thứ ba, mặc dù Lý Tư cũng tự làm trái với tâm ý của mình song về mặt khách quan ông ta vẫn là đồng minh của Triệu Cao, đã để ô danh vì mưu cầu tư lợi.
Lý Tư là nhà mưu lược đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc, tập trung ở bản thân cả hai lập trường chính, phản với công, tội ngang nhau. Đây quả thực cũng là một nhân vật hiếm thấy. Trong tính cách Lý Tư có hai mặt hoàn toàn tương phản: là một nhà chính trị chân chính khi chưa cúi đầu trước tư lợi; là một kẻ tiểu nhân ti tiện khi tư lợi vượt lên chiếm thế thượng phong. Nếu chỉ xét những mưu lược tài ba và công lao to lớn của Lý Tư thì tên tuổi này thật đáng ghi danh thiên cổ, nhưng khi nhìn vào những thủ đoạn xấu xa, âm mưu tội lỗi thì con người ông ta cũng thật đủ lưu xú vạn niên. Vậy nên, dưới những điều kiện nhất định thì sự chuyển hóa từ một nhà mưu lược chính trị chân chính thành một kẻ âm mưu tư lợi sẽ phát sinh rất dễ dàng. Vì thế, nhà chính trị nếu không tăng cường tu dưỡng, hoàn thiện tư tưởng chính trị thì cũng rất dễ sa đọa, dễ trượt trên con đường phi nghĩa.
"Lý Tư xuất thân là kẻ áo vải nơi làng xóm, đi khắp các nước chư hầu, vào thờ Tần, nhân cơ hội các nước có chỗ hở có thể lợi dụng, nên giúp Thủy Hoàng làm nên nghiệp đế. Tư làm tam công, có thể gọi là ở địa vị cao và được trọng dụng. Tư biết đạo của Lục Kinh nhưng không lo làm cho chính sự được sáng suốt để bổ cứu những thiếu sót của nhà vua, trái lại lo giữ tước cao, lộc hậu, a dua cẩu hợp, làm cho uy thêm nghiêm, hình phạt thêm tàn khốc, nghe theo lời tà thuyết của Triệu Cao, bỏ con trưởng lập con thứ. Đến khi chư hầu đã làm phản rồi Tư mới muốn can ngăn thì chẳng đã muộn rồi sao? Người ta đều cho Tư tận trung mà bị ngũ hình chết, nhưng xét cho cùng thì không phải như lời thế tục thường bàn. Nếu không thế, hóa ra công của Tư có thể sánh ngang với Chu Công, Thiệu Công vậy."
- Thái sử công, Sử ký, Lý Tư liệt truyện.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực).
