Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Khổng Tử nghe nhạc: tận mỹ, tận thiện, chính nhạc và tiết nhạc

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20268 phút đọc2 lượt đọc
Khổng Tử nghe nhạc: tận mỹ, tận thiện, chính nhạc và tiết nhạc

Nghe xong khúc Thiều, ông khen đẹp trọn vẹn và tốt trọn vẹn; nghe xong khúc Vũ, ông chỉ khen đẹp mà chưa khen tốt. Chỉ một câu so sánh ấy đã dựng nên thước đo cho cả nền mỹ học nhạc Trung Hoa. Còn vì sao một đoàn ca nữ lại khiến ông bỏ nước ra đi...


Hai thước đo của cái tai Khổng Tử: đẹp và tốt

Khổng Tử không chỉ là nhà tư tưởng và nhà giáo dục lớn, ông còn là một người nghe nhạc, bình nhạc xuất sắc. Những điều ông nghĩ về nhạc được các đệ tử chép lại rải rác trong Luận ngữ, và gom lại, nó thành nền móng cho cả tư tưởng nhạc của Nho gia.

Ông là nhà phê bình nhạc đầu tiên của Trung Quốc cổ đại, và nguyên tắc cao nhất của ông là "tận mỹ tận thiện": cái đẹp của nghệ thuật và cái tốt của đạo lý phải hợp nhất ở mức cao nhất, mới là chuẩn mực cao nhất của mỹ học về nhạc. Điều này được chép trong một câu nổi tiếng:

Tử vị Thiều: tận mỹ hĩ, hựu tận thiện dã; vị Vũ: tận mỹ hĩ, vị tận thiện dã.

Nghĩa là: ông nói về khúc Thiều rằng đẹp trọn vẹn, lại tốt trọn vẹn; nói về khúc Vũ rằng đẹp trọn vẹn nhưng chưa tốt trọn vẹn. Sau khi nghe Đại Thiều ở nước Tề, ông say đến mức ba tháng không nhớ mùi thịt. Đó là cảm nhận thật của ông, được các đệ tử ghi trong thiên Thuật nhi. Còn khúc Đại Vũ, ca ngợi Chu Vũ Vương, thì theo ông nghệ thuật của điệu nhạc rất cao nhưng tính tư tưởng chưa đủ. Khi lấy "mỹ" và "thiện" làm thước đo, ông đã mở ra một hướng mới cho việc phê bình nhạc ở Trung Quốc, và ảnh hưởng của nó kéo dài đến tận hướng "tận thiện tận mỹ" của nhạc đời sau.

Lễ nhạc làm gốc cho tư tưởng về nhạc

Chuông trống vang đến đâu cũng chỉ là tiếng, nếu bên trong thiếu mất một chữ nhân.

Khổng Tử rất coi trọng lễ nhạc và là người đi đầu của tư tưởng "lễ nhạc" ở Trung Quốc. Ông cho lễ nhạc là giới hạn cao nhất của tư tưởng về nhạc, và là dấu hiệu của một xã hội văn minh. Có hai câu trong Luận ngữ nói điều đó:

Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc.

Tiên tiến ư lễ nhạc, dã nhân dã; hậu tiến ư lễ nhạc, quân tử dã. Như dụng chi, tắc ngô tòng tiên tiến.

Ông còn đặt chữ "nhân" làm cơ sở tư tưởng của nhạc, và nhắc điều ấy bằng câu hỏi: người không nhân thì lễ để làm gì, nhạc để làm gì. Cũng trong Luận ngữ, ông hỏi lại thẳng hơn: nói lễ, nói lễ, chẳng lẽ chỉ là ngọc lụa? Nói nhạc, nói nhạc, chẳng lẽ chỉ là chuông trống? Muốn hiểu lễ nhạc thật sự thì phải nhìn vào nội dung bên trong của nó, không nhìn vào vẻ bề ngoài như ngọc lụa hay tiếng chuông trống vang.

Theo ông, nhạc lớn lên từ thơ ca và tựa vào lễ giáo. Trung Quốc là nước của lễ nghi, ông chủ trương lễ là chủ thể, nhạc theo lễ. Vì lễ có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị xưa, nên cúng tế, lễ mừng, cưới xin, ma chay, việc nào cũng phải có lễ nhạc đi kèm. Lễ không có nhạc thì không làm, nhạc không có lễ thì không tấu. Nhạc sinh ra theo lễ, thứ bậc của nhạc đổi theo lễ, và lễ nhạc kết hợp hài hòa thành một hệ thống. Đó là đặc điểm của nhạc Nho gia, và cũng là nét đặc sắc lớn nhất của nhạc cổ Trung Quốc. Cách nói của người xưa là "lễ băng nhạc hoại": lễ sụp thì nhạc đổ.

Về sau, lễ nhạc bị đời sau dùng làm công cụ giữ trật tự, nhưng đó là chuyện của người đời sau, không nên đổ lên đầu Khổng Tử.

Quan niệm lễ nhạc của ông chịu ảnh hưởng sâu từ việc Chu Công thời Tây Chu "chế lễ tác nhạc". Ông từng thở dài là đã lâu không còn nằm mơ thấy Chu Công, và nói rằng nếu có ai dùng mình thì mình sẽ dựng lại một nhà Chu ở phương Đông. Dù ông có tô đẹp Tây Chu, thì hy vọng thực hiện lý tưởng "nhân chính đức trị" của ông vẫn đặt vào lễ nhạc. Ông muốn lấy lễ nhạc nhân chính thay cho sự hoang man, tàn bạo của xã hội cũ, và đó là việc tiến bộ.

Chính nhạc: lấy nhạc làm cho người ngay

Khổng Tử đề xướng "chính nhạc". Ông nói trong Luận ngữ rằng từ khi ông từ nước Vệ trở về nước Lỗ thì nhạc được chỉnh lại, các bài Nhã, bài Tụng ai vào chỗ nấy. Chính nhạc là nhạc chân chính. Trọng tâm của nó là lấy "chính" để định nhạc, rồi lấy nhạc để dạy người: lấy chuẩn mực của chính sự mà làm nhạc, lại lấy nhạc mà rèn luyện con người.

Ông nói người ta lấy lễ nhạc làm vẻ văn của mình thì cũng có thể thành người trọn vẹn. Ông cũng nói khi thiên hạ có đạo thì lễ, nhạc, việc đánh dẹp đều do thiên tử ra lệnh; khi thiên hạ vô đạo thì những thứ ấy do chư hầu tự làm. Tư tưởng cốt lõi của chính nhạc là "khắc kỷ phục lễ", tức khôi phục lễ nhà Chu. Ông thấy thời Đông Chu lễ đã sụp, nhạc đã hư, nên cần chỉnh đốn. Chỉ có chấn chỉnh lễ nhạc thì mới mong chỉnh lại kỷ cương.

Ông gắn lễ nhạc chặt vào việc nước, và cho rằng thịnh suy của một nước có quan hệ mật thiết với việc lễ nhạc chính hay tà. Luận ngữ có kể chuyện người nước Tề tặng nước Lỗ một đoàn nữ nhạc. Vua Lỗ say mê nhận lấy, ba ngày không ra triều, Khổng Tử bất bình nên rời nước Lỗ ra đi. Hiếu kinh thì ghi lại lời ông nhấn mạnh vai trò của nhạc trong việc đổi thay phong tục:

Di phong dịch tục, mạc thiện ư nhạc; an thượng trị dân, mạc thiện ư lễ.

Ông đặt lễ nhạc ngang hàng với chính sự và hình phạt. Ông nói lễ nhạc không hưng thì hình phạt không đúng; hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu. Chỗ kiệt xuất của ông là gắn ý thức đạo lý với pháp luật và chính sự thành một thể, cho nên ông ca ngợi chính nhạc và kiên quyết chống thứ âm nhạc dâm tà. Phạm lễ thì ông phản đối thẳng. Họ Quý nước Lỗ ngang ngược, dám dùng điệu múa Bát Dật, vốn thuộc lễ của bậc quân vương, ngay trong sân nhà mình, và Khổng Tử mắng: việc này mà nhịn được thì còn việc gì không nhịn được.

Ông cũng dùng lễ nhạc làm khí giới khi hai vua nước Lỗ và nước Tề gặp nhau, lấy lễ đánh bại sự vô lễ và giữ được thể diện cho nước Lỗ. Tóm lại, ông rất nhấn mạnh quan hệ của nhạc với xã hội, với chính sự và luân lý, và điều đó đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tư tưởng nhạc của Nho gia. Nhạc ký sau này nhấn mạnh "nhạc để thông với chính", Mạnh Tử nêu ý quan trọng "cùng dân đồng vui", tất cả đều chịu ảnh hưởng của quan điểm nhạc gắn với chính sự của ông.

Tiết nhạc: vui mà không đắm, buồn mà không thương tổn

Cái hay của một bài thơ tình nằm ở chỗ nó biết dừng đúng lúc.

Khổng Tử còn chủ trương "tiết nhạc". "Tiết" là tiết chế, nghĩa là nhạc phải có một mức độ nhất định. Ông nói về bài Quan thư:

Quan thư, lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương.

Quan thư là bài thơ tình ở đầu phần Chu Nam trong Kinh Thi, và là bài thơ nổi tiếng nhất của Kinh Thi:

Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.

Đây tuy là thơ tình, nhưng ông đánh giá rất cao. Ông đề xướng đạo trung dung, tức chính giữa không lệch, điều tiết có mức. Quan thư chính là tác phẩm tiêu biểu cho sự chính giữa không lệch ấy.

Trái lại, ông chê "Trịnh thanh". Ông nói rằng tiếng nước Trịnh là tiếng dâm, kẻ nịnh là người nguy hiểm. Tiếng nước Trịnh là nhạc dân gian phổ biến và thịnh hành thời ấy, vì có quá nhiều bài tình ca nên ông cho là "dâm" và ra sức phản đối. Nhưng nhìn khách quan, "Trịnh thanh" tuy bị coi là dâm, vẫn là dấu hiệu của sự thịnh hành của nhạc dân gian. Không như Nhã và Tụng bị lễ trói buộc, nhạc Trịnh vượt khỏi sự gò bó của lễ giáo, và chính vì thế mà bị Khổng Tử và Nho gia phản đối.

Chữ "tiết" của ông không chỉ yêu cầu điều độ trong tư tưởng mà còn đòi hỏi hài hòa trong nghệ thuật. Vì thế, "bất dâm" chính là "tận thiện", "bất thương" chính là "tận mỹ". Không dâm, không thương, đó là chuẩn mực của nhạc theo Khổng Tử.

Gom lại, Luận ngữ ghi đầy đủ quan điểm của Khổng Tử về nhạc, làm nền cho tư tưởng nhạc Nho gia và mỹ học nhạc của Nho giáo. Tư tưởng ấy gồm lễ nhạc, chính nhạc và tiết nhạc, nhưng trong thực tế cả ba đều quy về lễ nhạc, và lễ nhạc của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến cả nền nhạc cổ Trung Quốc.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện