Bài tổng quan
Quẻ Khôn: ngựa cái, sương mỏng và đức dày chở muôn vật
Dẫm lên lớp sương mỏng đầu tiên, người xưa đã biết băng dày sắp đến. Quẻ của đất dạy đi sau thì có chủ, đi trước thì lạc, nhưng đó không phải bài học về sự yếu đuối. Vì sao đất nhu thuận như thế lại có lúc cứng hơn cả trời...
Đi sau thì có chủ, đi trước thì lạc
Quẻ Khôn gồm sáu hào âm, tượng trưng cho đất. Lời quẻ nói:
Khôn, nguyên hanh, lợi tần mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng, tiên mê hậu đắc chủ, lợi. Tây nam đắc bằng, đông bắc táng bằng. An trinh cát.
Nghĩa là: đất, khởi đầu, hanh thông, lợi ở đức bền chính như ngựa cái. Người quân tử đi đâu, nếu giành đi trước sẽ lạc, đi theo sau thì có chủ, có lợi. Đi về phía tây nam thì được bạn, đi về đông bắc thì mất bạn. Yên phận giữ chính bền thì tốt.
Khôn là âm, là nhu thuận, là đất. Càn là dương, là cương kiện, là trời. Khí của Càn và Khôn gặp nhau nên vạn vật mới nảy sinh. Đạo Khôn sâu dày nên chở được muôn vật, nhưng một khí thuần âm không thể tự sinh hóa, phải gặp khí cứng khỏe của dương mới hóa, đạo mới mở, vật mới lớn. Vì thế mới có câu đi tây nam thì được bạn: âm gặp dương. Còn âm gặp âm, có âm không dương, thì là "đông bắc táng bằng". Đạo trời là thế, việc người cũng thế: cương nên hòa với nhu, thực thể nên gần với âm chất, cứng gặp mềm, âm gặp dương, mới yên phận mà giữ được chính bền và tốt. Câu này là nguồn của lẽ y học cổ truyền: dương là chủ của âm, âm là gốc của dương.
Thoán truyện khen: đẹp tận cùng thay đức nguyên của Khôn, muôn vật nhờ nó mà sinh, nó thuận theo trời. Đất dày chở vật, đức rộng không bờ, ngậm chứa và nuôi lớn mọi vật cho chúng sáng, cho chúng lớn, cho chúng hanh thông. Ngựa cái là con vật chạy trên đất, chạy vô biên mà vẫn nhu thuận. Khôn là vật chí âm, chỉ có âm không dương thì đạo bị vùi; âm đi cùng dương mới là đạo thường. Đất vận hành ứng hợp với sức đẹp vô bờ ấy. Tượng truyện thì nói gọn:
Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật.
Thế đất dày và thuận, người quân tử vì vậy dày thêm đức để chở muôn vật. Càn lấy hành động làm đức, Khôn lấy thu nhận làm đức; người quân tử học theo mà ôm chứa đạo dày.
Sáu hào của đất: từ sương mỏng đến máu đen vàng
Băng dày ba thước không phải một ngày lạnh mà thành; nó bắt đầu từ lớp sương đầu tiên.
Hào sơ lục: dẫm lên sương mỏng, băng dày sắp đến. Khôn là âm, tính nhu mà lạnh. Hào đầu là bước đầu của khí âm nên khí lạnh mới chỉ đọng thành sương; tuy yếu mà thế thịnh, rồi sẽ thành băng cứng. Đây là quy luật âm dương tiêu trưởng. Tượng truyện nói khí âm bắt đầu đọng, theo lẽ thì băng dày ắt đến. Chỗ này chứa một triết lý sâu: cái lượng tích lên thì cái chất đổi, cái từ từ thành cái đột ngột. Y học cổ truyền khi chữa bệnh chưa phát cũng dùng ý "phòng vi đỗ tiệm", tức chặn từ lúc mới nhen. Văn ngôn mở rộng sang đạo lý: nhà tích thiện ắt thừa phúc, nhà tích ác ắt thừa họa; chuyện bề tôi giết vua, con giết cha không phải một sớm một chiều, mà do manh nha từ lâu, người trên không nhận ra sớm. Điều thiện ác đều do tích tụ mà thành, nên cần phòng khi chưa có mầm.
Hào lục nhị: thẳng, vuông, lớn; không học cũng không thiệt. Khôn tuy nhu thuận mà tính chắc chắn nên gọi là thẳng; trời tròn đất vuông, thể của Khôn là đất nên gọi là vuông; đức dày lớn vô cùng nên gọi là lớn. "Bất tập" nghĩa là đức Khôn là tính tự nhiên, không do ý chí người đổi được. Ở giữa quẻ dưới, đức Khôn đã dày lên, trong nhu thể hiện chất chắc. Đạo đất sáng lên theo quy luật tự nhiên. Văn ngôn thêm: "trực" là chính trực bên trong, "phương" là việc làm ngay ngắn ngoài mặt. Người quân tử lấy kính để giữ lòng ngay, lấy nghĩa để giữ việc vuông; kính và nghĩa dựng lên thì đức không đơn độc.
Hào lục tam: ngậm điều sáng đẹp mà giữ chính. Có thể theo việc của vua, không nhận công về mình mà làm trọn phận. Hào này ở đỉnh quẻ dưới, âm đã thịnh, đức đẹp được ngậm trọn bên trong. Người có đức dày, mang chất âm, đảm nhận được việc nặng; dù chưa thành việc lớn cũng trở thành người có triển vọng. Tượng truyện nói phải theo thời mà tỏ ra, trí sáng rộng.
Hào lục tứ: thắt miệng túi, không lỗi cũng không khen. Hào này có tượng âm chồng âm, động là tàng, lấy việc cất giấu làm nghĩa. Người học theo thì nên giữ kín, không để lộ. Tượng truyện nói thận trọng thì không hại. Văn ngôn mở rộng: trời đất giao hòa thì cây cỏ tươi, trời đất bế tắc thì người hiền ẩn. Biết lúc nào nên ẩn, lúc nào nên lộ, cẩn thận trong xử thế, nên mới nói "thắt miệng túi". Ý "âm chủ trập tàng" này có ảnh hưởng đến lẽ y học về mùa đông thu tàng.
Hào lục ngũ: xiêm vàng, rất tốt. Hoàng là màu của đất, màu của Khôn nên đại cát. Ngũ sắc trong Kinh Dịch ảnh hưởng đến thuyết ngũ hành ngũ sắc của y học: vàng là đất, ứng tỳ; đỏ là lửa, ứng tâm; xanh là gỗ, ứng can; trắng là kim, ứng phế; đen là nước, ứng thận. Tượng truyện: xiêm vàng rất tốt vì cái văn ở trong. Văn ngôn giải: quân tử có sự trung hòa thông lý của sắc vàng, ở ngôi chính, tài đức chứa trong lòng, lan ra tứ chi, phát vào sự nghiệp; đó là cái đẹp đến tột cùng. Đẹp ở trong thì tự nhiên lộ ra ngoài, nên muốn đẹp ngoài thì phải có cái đẹp trong.
Hào thượng lục: rồng đánh nhau ngoài đồng, máu đen vàng. Đây là hào trên cùng, nơi cực của âm. Vật cực tất phản, âm cực thì dương sinh, âm dương giằng co, rồng tượng trưng cho dương tranh chỗ, cả hai bị thương nên đất đổi sang màu huyền hoàng, tức đen vàng lẫn. Tượng truyện: "kỳ đạo cùng dã", đạo thuần âm đã hết. Văn ngôn giải thêm: âm gần dương thì tất đánh nhau; người làm Dịch sợ người đọc ngờ quẻ Khôn không có dương, nên dùng chữ "rồng"; còn âm không rời loại của mình nên dùng chữ "huyết". Máu đen của trời, máu vàng của đất.
Riêng quẻ Khôn có "dụng lục": dùng số sáu, lợi ở chính bền lâu dài. Sáu là số lão âm. Sáu hào đều âm, chất mềm tính thuận, có thể chở vật sinh vật, là mẹ của vạn vật, nên "dụng lục, lợi vĩnh trinh". Văn ngôn tóm đức này: Khôn rất nhu mà khi động thì cứng, rất tĩnh mà đức vuông; đi sau thì có chủ, giữ đạo thường, ôm chứa muôn vật mà hóa ra ánh sáng. Đạo Khôn thuận thay, bẩm lấy ý trời mà hành theo thời.
Làm vợ, làm bề tôi, làm đất: đạo của sự không nhận công
Văn ngôn có một câu cô đọng cho cả quẻ: âm tuy có đẹp, nên ngậm giữ để theo việc của vua, không dám nhận thành công về mình. Đó là đạo của đất thuận trời, của vợ thuận chồng, của bề tôi thuận vua; đạo của đất là không nhận công mà làm đến cùng. Nghĩa là nhu thuận không có nghĩa là yếu, mà là biết đặt mình đúng chỗ, biết nhường một bước để việc chung thành. Trong một năm, từ quẻ Phục đến quẻ Càn là đạo dương làm chủ, từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là đạo âm làm chủ; trời bắt đầu ở dương mà kết ở âm, Khôn kết thúc một năm nên gọi là "đại hữu chung".
Mấy điều đọng lại từ quẻ Khôn. Một là Khôn là mẹ của muôn vật, nguồn của lý luận dưỡng âm trong y học. Hai là Khôn phải giao hòa với Càn: Càn chủ khí, Khôn chủ hình; một âm không sinh được gì, một dương không lớn được, nên âm dương là gốc của vạn vật. Ba là hào đầu cho thấy lượng đổi thì chất đổi. Bốn là cái đẹp ở trong sẽ lộ ra ngoài. Năm là hào bốn nói âm chủ về giấu kín. Sáu là hào trên nói vật cực tất phản, âm cực sinh dương, nhu cực thì cương, cũng như cái mềm còn lại khi cái cứng đã rụng.
Và nhìn chung hai quẻ Càn, Khôn: cả hai đều đủ bốn đức nguyên, hanh, lợi, trinh. Nguyên là khí Càn Khôn giao, âm dương hợp đức sinh sức sống đầu tiên. Hanh là cương nhu giúp nhau sinh vật, khí thông mà không dừng. Lợi là điều hòa lẫn nhau để vạn vật tự ổn, lợi tức là hòa, là cân bằng. Trinh là chính: Càn thì tản ra, Khôn thì ngưng giữ, một hành một tàng, giữ cho vật có hình có chất, không quá mềm cũng không quá cứng. Càn Khôn đủ bốn đức nên làm cha mẹ vạn vật, đúng như câu: có trời đất rồi sau mới sinh muôn vật. Cương là thể của Càn, nhu là chất của Khôn, nhưng cả hai đều lấy động làm dụng: tiềm, hiện, dược, phi, cang của Càn và tần mã, quát nang, long chiến của Khôn đều cho thấy khí không ngừng vận động. Càn Khôn thông qua sáu hào mà cho thấy âm dương luôn biến, tiêu trưởng chuyển hóa, không có gì cố định.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
