Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Từ nét khắc đến nét bút: thư pháp Trung Hoa qua các triều đại

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20268 phút đọc4 lượt đọc
Từ nét khắc đến nét bút: thư pháp Trung Hoa qua các triều đại

Có một thời chữ chỉ là vết dao khắc trên mai rùa và xương thú, rồi dần hóa thành nét bút trên lụa và giấy. Sáu nghìn năm sau, người ta đứng trước một tấm bia mà vẫn thấy cả một triều đại đang thở. Nét chữ đã đi qua những khúc quanh nào...


Chữ Hán, một kỳ quan và một loài hoa lạ

Chữ Hán vốn đã là một kỳ quan của văn hóa Trung Hoa. Viết chữ Hán lại thành một nghệ thuật, được ví như một loài hoa lạ của văn hóa truyền thống, vừa có vẻ đẹp rất riêng, vừa có giá trị nghệ thuật cao. Từ chữ giáp cốt đến chữ Hán hiện đại, từ chữ Triện đến chữ Khải, thư pháp đã đi một chặng đường rực rỡ, góp phần lớn giữ chữ Hán và mang văn hóa bất hủ của Trung Quốc đi xa.

Thư pháp gắn mật thiết với đời sống. Chính trị, giáo dục, tuyên truyền hay trao đổi tin tức, việc nào cũng dính đến chữ viết. Nguồn gốc của nó rất xa, đi theo diễn biến của văn thể suốt sáu nghìn năm: từ những ký hiệu khắc bằng dao, qua giáp cốt văn, kim văn (chữ khắc hay đúc trên đồ đồng), rồi triện, lệ, thảo, hành, khải. Từ khắc đến viết, thư pháp đã được rèn qua bàn tay của vô số người qua bao triều đại, để có tiếng như ngày nay. Nó cũng thành lối viết chính thống cho các nước phương Đông dùng chữ tượng hình, và ảnh hưởng sâu đến thư pháp ở các nước Đông Nam Á.

Thư và họa chung một cội

Nét chữ ban đầu còn nhớ mình từng là một bức tranh.

Trên thế giới chưa có nước nào có nền thư pháp nổi tiếng như Trung Quốc. Các nhà thư pháp Trung Hoa được xếp ngang với những nghệ sĩ và nhà văn hóa lớn. Vua chúa, tướng lĩnh, quan lại đều chuộng thư pháp. Đường Thái Tông, Đường Cao Tông, Đường Huyền Tông, Võ Tắc Thiên đều giỏi viết chữ, và riêng lối chữ "Sấu kim thể" của Tống Huy Tông cũng đủ cho thấy chỗ đứng cao của thư pháp trong văn hóa nước này.

Thuở nguyên thủy, chữ trước hết chỉ là ký hiệu vạch, vẽ; sau thành những hình vẽ biểu tượng. Vẽ là cội nguồn của việc "nghệ thuật hóa" chữ viết, cũng là cội nguồn của thư pháp, nên nói thư và họa cùng một nguồn gốc. Thư pháp là sự thăng hoa từ vẽ sang viết, cũng là con đường văn tự Trung Quốc đi từ hình tượng sang trừu tượng.

Thời Tiên Tần, nhất là những năm đầu, từ Hạ đến Thượng Chu, thư pháp chịu ảnh hưởng của lối vạch vẽ xa xưa nên mang đậm nét điêu khắc. Giáp cốt văn đời Hạ, Thương; minh văn trên đỉnh đồng đời Chu; thạch cổ văn thời Chiến Quốc đều có khí thế cứng cỏi, rạch ròi, nổi bật tính chất của nghệ thuật khắc và vẽ. Giáp cốt vuông vắn, cân đối; kim văn xoay tròn, trơn tru. Giáp cốt văn đời Thương còn giữ lối chữ tượng hình của tranh, đến kim văn Tây Chu chữ tượng hình đã ít đi, nét chữ nghiêm mật và đôn hậu. Cùng lúc, hình chữ nhật của giáp cốt dần chuyển thành chữ vuông.

Thời Chu là thời kỳ rất quan trọng của văn hóa Trung Hoa. Ngoài những đóng góp nổi bật về chữ viết, thời ấy còn sinh ra những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Lão Tử, đặt nền cho tư tưởng và văn hóa nước này.

Nhà Tần dựng khuôn cho chữ

Triều Tần là lúc Triện thư và chữ lệ của Tần ra đời. Triện thư là chữ thống nhất sau khi Tần thống nhất Trung Quốc và thi hành chế độ tập quyền, góp phần thống nhất chữ viết nhà Tần và đẩy văn hóa đi lên. Tể tướng Lý Tư tự nghiên cứu thư pháp rồi thống nhất Tiểu Triện. Việc đó không chỉ thống nhất chữ viết cả nước mà còn lập ra phép tắc, chuẩn mực đầu tiên cho thư pháp Trung Quốc.

Tiểu Triện do Lý Tư tạo ra bỏ đi những nét góc cạnh của kim văn, thay vào đó là nét tròn và mềm. Người đời Đường bình về chữ của ông rằng cốt khí như phong thái bậc quân tử, vuông tròn đều tuyệt diệu. Tôn Quá Đình thì nói Triện "uyển chuyển mà thông suốt". Chữ tượng hình trong Triện thư đã ít, vẫn còn một ít dấu vết, nhưng đã có đặc điểm của chữ vuông, là sự kết hợp giữa vuông và tròn. Cũng thời này, Trình Mạc tạo ra chữ lệ nhà Tần, vuông vắn, rõ ràng, cách viết giản dị. Tiểu Triện và lệ nhà Tần đặt nền cho lệ nhà Hán và khải thư đời sau.

Thời Hán và bước ngoặt từ vẽ sang viết

Thời Hán là lúc chữ lệ thịnh hành. Chữ lệ phát triển trên nền Triện thư nhà Tần, biến những nét tròn thành nét vuông gập. Lệ nhà Hán viết nhanh hơn Tiểu Triện, rất thực dụng, và đặt nền cho Hành thư, Thảo thư. Đến thời Hán, lệ thư đã thành một hình thức ổn định, đó là một đóng góp lớn của thư pháp Hán. Trên nền chữ đã thành vuông và bỏ hẳn những chữ tượng hình còn sót lại của Triện thư, lệ thư đã đưa nghệ thuật thư pháp từ chữ tượng hình sang giai đoạn không tượng hình, tức giai đoạn trừu tượng, và đó là bước thăng hoa của thư pháp Trung Quốc.

Lệ thư dễ viết, đơn giản mà khí thế lại tung hoành phóng khoáng. Nó mở ra một bước ngoặt quan trọng: xóa dấu vết đồ họa, từ vẽ vạch chuyển sang viết thư pháp. Giữa thời Tần Hán, trên nền lệ thư còn xuất hiện thảo thư.

Thánh thư họ Vương và nhà Tấn

Thời Tấn là lúc thư pháp Trung Quốc nở rực rỡ. "Thư thánh" Vương Hi Chi gom thành một tập đại thành thư pháp của các thời trước nhà Tần, riêng Hành thư của ông có thể gọi là "nhất tuyệt". Chữ của Chung Dao thì cương nhu tuyệt diệu. Trương Hoài Quán đời Đường trong Thư đoạn khen rằng chân thư của ông tuyệt diệu, cương nhu đủ cả, sâu thẳm không bờ, từ Tần Hán đến nay chỉ có một người.

Con thứ bảy của Vương Hi Chi là Vương Hiến Chi có chữ thanh thoát tự nhiên, khí thế hừng hực, có thể sánh với cha. Hai cha con là đại diện của thư pháp Đông Tấn, nổi tiếng một thời, góp phần phát triển thư pháp Trung Quốc.

Tùy Đường chín muồi, Tống Nguyên Thanh nở thêm

Tùy Đường là giai đoạn chín muồi của khải thư. Khải thư là khuôn phép của thư pháp, vừa giữ nét xoay tròn của Triện, vừa nổi bật những nét ngang, sổ, đứng, làm thành lối chữ đoan trang nghiêm chỉnh, vuông tròn đều diệu. Nó thành kiểu chữ tiêu biểu trong in ấn, là văn tự chính thống ở vương triều, quan phủ và khoa cử các thời.

Tóm lại, thư pháp đời Đường là thời huy hoàng của thư pháp Trung Quốc, có rất nhiều nhà thư pháp mang phong cách riêng như Liễu Công Quyền, Trương Húc, Dương Ngưng Thức, Ngu Thế Nam. Các bài luận về thư pháp liên tục ra đời, và việc mấy vị hoàng đế đời Đường đều trọng thư pháp càng đưa nền thư pháp lên thời hưng thịnh nhất.

Thảo thư là lối viết nhanh, một nét liền thông suốt, thế bút như rồng bay phượng múa, có phong cách riêng về tạo hình nhưng không dễ phân biệt chữ. Vì vậy giữa thảo thư và khải thư lại sinh ra hành thư, phóng khoáng mà rắn rỏi, đẹp mà không rối. Hành thư vừa nhận nét phóng khoáng của thảo, vừa học dáng trang trọng của khải. Nó được rất đông người Trung Quốc yêu thích, các đại gia thư pháp các triều đại đều lấy Hành thư làm phong thái vì chữ đẹp mà không loạn.

Đến Đường Tống, nhờ sự nở rộ của văn học, thơ từ và hội họa, thư pháp cũng có dịp phát triển. Văn nhân đương thời hầu như đều giỏi cả thơ, chữ, họa, ấn, như Lý Bạch, Đỗ Phủ, nhất là Tô Đông Pha, chữ của ông có phong thái riêng gọi là "nhất tuyệt", rất hấp dẫn. Khi các đại văn gia, thi gia đều bước vào thư pháp, sức hấp dẫn nghệ thuật của nó càng tăng. Nhà Nguyên thừa kế thư họa Tống Minh rồi phát triển lên, thư họa càng rực rỡ.

Nhà Thanh cũng là thời thư pháp lên đỉnh cao, với Phó Sơn và Trịnh Bản Kiều. Chữ Phó Sơn thanh thoát mà rắn rỏi, cũng rất nhẹ nhàng; ông là nhà y học, nhà thư pháp kiệt xuất của triều Thanh. Chữ Trịnh Bản Kiều hợp "lục phân bán thư" của Triện, Lệ, Khải, Hành, Thảo, tạo thành phong cách riêng, vừa mềm mại uyển chuyển vừa cứng cỏi vuông vắn, có thể gọi là bậc nhất.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện