Bài tổng quan
Lục Đức Minh chú âm Chu Dịch cho người đọc hiểu đúng chữ
Một chữ cổ đọc sai âm thì hiểu sai nghĩa, và trong kinh Dịch mỗi chữ gánh cả một quẻ. Một vị tiến sĩ đời Đường đã ngồi chú âm cho từng chữ, kể cả hai chữ Chu Dịch. Có chữ Dịch được chiết ra mặt trời và mặt trăng, nhưng cũng có người đọc thấy một chữ khác nằm bên dưới...
Một chữ cổ đọc sai âm thì hiểu sai nghĩa, và với kinh Dịch, nơi mỗi chữ gánh cả một quẻ, cái sai ấy càng đắt. Người đời Đường tên Lục Đức Minh đã ngồi chú âm cho cả kho kinh điển, trong đó Chu Dịch đứng đầu, để người sau có chỗ dựa mà đọc cho đúng. Bộ sách của ông, Kinh điển thích văn, nhờ vậy trở thành một cuốn sách công cụ quan trọng của việc đọc Dịch.
Ba mươi cuốn chú âm cho cả kho kinh điển
Muốn đọc một văn bản cổ, trước hết phải biết các chữ trong đó được đọc ra sao.
Kinh điển thích văn gồm ba mươi cuốn. Nó chú âm cho Chu Dịch, Cổ văn Thượng Thư, Mao Thi, Chu lễ, Nghi lễ, Lễ ký, Xuân Thu Tả thị, Công Dương, Cốc Lương, Hiếu kinh, Luận ngữ, Lão Tử, Trang Tử, Nhĩ nhã, kèm một phần tự lục. Nét riêng của bộ sách là chú âm cho sách cổ. Vì chữ thời xưa hay lấy âm để gửi nghĩa, nên chú âm thật ra cũng là chú nghĩa. Cách làm ấy cung cấp nhiều tư liệu cho việc nghiên cứu âm vận, chữ viết và sự đổi thay của nghĩa từ, giúp người đời sau đọc văn hiến cổ, nên đến nay vẫn được xem là bộ công cụ có giá trị.
Lục Đức Minh là người đất Ngô, vùng Tô Châu, đỗ tiến sĩ ở Quốc tử giám đời Đường và làm quan Trung doãn bên Thái tử. Thuở trẻ ông đã nổi trội, và các tác phẩm của ông được nhiều học giả về sau coi là tài liệu quý.
Dòng truyền Dịch từ Phục Hi đến các học phái đời Hán
Trước khi chú từng chữ, người chú âm kể lại ai đã làm ra Dịch và ai đã giữ nó đến đời mình.
Trong phần chú Chu Dịch, ông kể rằng quẻ do Phục Hi vẽ, còn lời văn thì có từ đời Chu. Họ Phục Hi làm vua, ngước nhìn thiên văn, cúi xét địa lý, xem dấu vết chim thú và sự thích hợp của đất, gần thì lấy từ thân người, xa thì lấy từ muôn vật, rồi lần đầu vẽ tám quẻ, chồng lên thành sáu mươi bốn quẻ. Văn Vương, lúc bị giam, viết lời quẻ; Chu Công viết lời hào; Khổng Tử làm Thập dực gồm Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Dịch đứng đầu trong bảy kinh. Từng có ba bộ Dịch, nhưng qua nhiều lần dời đổi, lâu ngày đã mất, nên không ghi rõ được.
Về sự truyền thừa, ông theo lời Ban Cố: lúc già Khổng Tử thích kinh Dịch, đọc và chú giải, phần chú ấy chính là Thập dực. Thương Cù học Dịch nơi Khổng Tử, truyền đến Điền Hà đất Tề. Khi nhà Tần đốt sách, Dịch được coi là sách bói nên không bị cấm, nhờ đó giữ lại được. Từ họ Điền, Dịch truyền qua nhiều đời đến các thầy họ Thi, họ Mạnh, họ Lương Khâu, nên đời Hán mới có ba học phái lấy tên các thầy ấy mà gọi.
Chú âm cũng là chú nghĩa
Một chữ qua mấy trăm năm có thể đổi giọng, và giọng đổi thì nghĩa cũng đổi theo.
Trong phần tự lục, Lục Đức Minh nhận xét rằng các bậc tiền nho phần nhiều không chú âm cho những âm cũ, nên khi giải kinh, nghĩa kinh nhờ chú giải mà sáng, còn chú giải không hiểu thì khó biết kinh. Từ thời trước Tần đến nay, âm đọc của chữ đã đổi, nghĩa cũng đổi nhiều; có chữ vì đổi âm mà khó tìm nghĩa gốc, nhất là thời Ngụy Tấn lục triều phức tạp. Muốn hiểu đúng nghĩa phải đọc đúng âm. Vì vậy ông dựa vào chú thích của nhiều học giả từ Hán, Ngụy trở về sau để khảo định âm đọc của kinh Dịch.
Chữ trong Chu Dịch lại sâu xa, nghĩa lý khó hiểu, nên một cuốn sách công cụ như vậy là chiếc thang cần thiết. Ngay hai chữ "Chu Dịch" ông cũng khảo: Chu là tên triều đại, cũng có nghĩa là chu đáo, khắp cả, và ở đây lấy nghĩa khắp cả. Dịch là tên kinh; theo cách chiết chữ của Ngu Phiên thì trên là chữ nhật, dưới là chữ nguyệt, nhưng cũng có thuyết cho rằng phần dưới là chữ vật. Với chữ "diễn" trong "đại diễn", họ Trịnh giải là diễn giải. Với chữ "hệ" trong Hệ từ, ông ghi cách đọc và nghĩa liên tục; "từ" là lời, là ý nằm ngoài chữ.
Vài chữ trong Dịch qua tay người chú âm
Chú âm xong một chữ, ông thường thêm một câu để chữ ấy có hình hài.
Nghĩa lý của nhiều chữ được ông ghi gọn. Long là rồng, dụ cho dương khí và cho thánh nhân. Kháng, theo Tử Hạ truyện, nghĩa là cực, còn Quảng nhã chép là cao. Khảm là hiểm, hình quẻ là nước. Tập là nặng, họ Lưu chép nước chảy không ngừng gọi là tập. Ly là đẹp, hình quẻ như mặt trời, như lửa. Đại tráng là uy thịnh, mạnh mẽ; họ Trịnh cho là khí lực mạnh mẽ. Càn là khỏe, tượng trưng cho trời; Khôn là thuận, tượng trưng cho đất. Các cách giải thích ấy ghép lại cho thấy ông muốn người đọc nắm cả âm lẫn nghĩa chứ không chỉ biết đọc ra tiếng.
Tài liệu đầu tay để khảo cứu Chu Dịch
Một bộ chú âm tốt là bộ nhặt giữ được nhiều giọng đọc của người đi trước.
Kinh điển thích văn vừa là sách chú âm, vừa là sách khảo huấn. Nó thu thập chú Dịch của nhiều tác giả, dùng hình thức chú âm để phân biệt các bản chữ khác nhau, và nhờ thế trở thành tài liệu quý để khảo chứng Chu Dịch. Với việc nghiên cứu Dịch học đời Đường nói riêng, nó là nguồn tham khảo rất đáng giá.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
