Bài tổng quan
Hằng số luân hồi: vì sao năm hành chưa đủ để nói chắc về một người
Người ta quen nói ông A mệnh Thổ, bà B mệnh Kim, như thể năm cái tên ấy đã đủ vẽ nên một con người. Thử chia vòng quay của một đời ra mịn dần, năm phần chia chỉ cho độ chính xác tám mươi phần trăm. Phải chia đến con số nào thì sai số mới biến mất...
Mục lục · 8 phần
- 01Cái nguyên vẹn tự thân mà con người biết được nhờ tuệ thiền
- 02Một vòng quay lặp lại, và hai cách đo nó
- 03Phép đo gần đúng và con số chia hoàn nguyên
- 04Số năm, số mười, số mười hai: ba con số quen thuộc đã được dùng như thế nào
- 05Con số hai mươi nghìn tỷ và hằng số phá chấp
- 06Uốn lưỡi bảy lần là chưa đủ
- 07Vòng xoắn thứ nhất và thứ hai: tâm của mô hình và những cách vận khí
- 08Vòng xoắn thứ ba và thứ tư: giai đoạn của mỗi trạng thái và nhịp lập mạng
Cái nguyên vẹn tự thân mà con người biết được nhờ tuệ thiền
Thái cực, theo cách Nguyễn Ngọc Thạch định nghĩa, là cái tên dùng để chỉ thực tại khách quan tự thân viên mãn, mà con người biết được nhờ tuệ thiền. Nó không phụ thuộc vào sự nhận biết của bất kỳ đối tượng nào đứng ngoài nó. Điều đầu tiên ông đặt ra là nguyên lý bất biến: Thái cực có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, không lệ thuộc thời gian và không gian; Thái cực có trong tất cả và tất cả có trong Thái cực.
Vạn thù quy nhất bản, nhất bản tán vạn thù.
Ông liên hệ nguyên lý ấy với câu trên trong kinh Hoa Nghiêm. Theo cách nhìn này, vũ trụ là một Thái cực bao gồm nhiều Thái cực khác, và trong số đó có Thái cực con người. Con người đặc biệt ở tính linh và ở năng lực quán tưởng.
Một Thái cực mà các quy luật tự nhiên của nó lặp lại tuần hoàn theo chu kỳ thì được gọi là Thái cực luân hồi. Độ dài của một chu kỳ tuần hoàn ấy là vòng luân hồi. Muốn nhận ra một vòng luân hồi, có thể nhìn vào thứ nguyên của các biến nguyên, tức những đại lượng độc lập mô tả Thái cực: nhịp ngày đêm, nhịp tháng, nhịp năm, chu kỳ của thân thể và của gia đình.
Một vòng quay lặp lại, và hai cách đo nó
Ông phân biệt Thái cực nhân ngộ với Thái cực gần đúng. Thái cực nhân ngộ là Thái cực mà các quy luật tự nhiên của nó có thể biểu diễn được dưới dạng hàm số; Thái cực gần đúng là cách ta dùng một hàm khác để xấp xỉ nó. Mỗi đặc tính của Thái cực biểu diễn được bằng con số thì gọi là đại lượng của Thái cực.
Từ đó nảy ra hai đơn vị đo. Thứ nhất là đơn nguyên gia số: phần nhỏ nhất của một biến nguyên, nhỏ đến mức thỏa mãn nguyên lý bất biến. Dùng đơn nguyên gia số để đo thì vòng quay được mô tả với độ chính xác trọn vẹn. Thứ hai là bội nguyên gia số: một đoạn lớn hơn, bằng một số lần đơn nguyên gia số. Độ lớn của bội nguyên gia số phụ thuộc vào hệ số bội mà người nghiên cứu chọn, nên mang tính chủ quan và không còn thỏa mãn nguyên lý bất biến. Mức sai lệch khi dùng bội nguyên thay cho đơn nguyên được đo bằng một đại lượng gọi là hệ số dung sai nhân định.
Theo lý thuyết của ông, để định vị một Thái cực chỉ cần chính nó, hoặc tối đa một đơn nguyên gia số của một biến nguyên của nó là đủ. Nhưng khả năng minh tuệ của con người không giống nhau, tùy tính năng ngộ hay mê, tùy tiên thiên cửu huyền thất tổ, tùy năng lực phá chấp có căn nguyên từ kinh nghiệm. Vì vậy phần đông người ta hợp với cách mô phỏng Thái cực bằng bội nguyên gia số của những biến nguyên độc lập với các tên gọi khác nhau.
Phép đo gần đúng và con số chia hoàn nguyên
Ông lấy chính các bảng Hoa giáp làm ví dụ. Với Thái cực gần đúng của bản mệnh, bội nguyên gia số được dùng như một Thái cực gồm năm tên gọi khác nhau: mệnh Kim, mệnh Mộc, mệnh Thủy, mệnh Hỏa, mệnh Thổ. Với Thái cực gần đúng của Lục thập Hoa giáp, nó là sáu mươi tên gọi từ tuổi Giáp Tý, tuổi Ất Sửu đến tuổi Quý Hợi. Với thời gian, nó là thiên niên kỷ, thế kỷ, năm, tháng, tuần lễ, ngày, giờ, phút, giây. Tất cả đều là công cụ định vị vòng luân hồi của Thái cực thời gian, và độ lớn của chúng là bội số của đơn nguyên gia số, với các hệ số khác nhau.
Ông đưa ra khái niệm chỉ số hoàn nguyên, tức mức chính xác của phép lấy xấp xỉ Thái cực nhân ngộ bằng Thái cực gần đúng. Khi phép đo thỏa mãn nguyên lý bất biến thì chỉ số hoàn nguyên là một trăm phần trăm. Khi dùng bội nguyên thay vì đơn nguyên thì chỉ số ấy là một số nhỏ hơn, được gọi là chỉ số hoàn nguyên nhân định. Số chia hoàn nguyên Thái cực là tổng số các đơn nguyên gia số có thể có trên một vòng luân hồi, đến mức sai số không còn xác định được nữa; còn số chia gần đúng là tổng số các bội nguyên gia số của vòng luân hồi gần đúng.
Điểm ông muốn nhấn là: hệ số bội nguyên càng nhỏ thì số chia gần đúng càng tiến gần số chia hoàn nguyên. Có nghĩa là muốn mô tả một vòng quay cho trung thực thì phải chia nó thật nhỏ.
Ông lập một bảng cho thấy chỉ số hoàn nguyên thay đổi ra sao theo số phần chia. Chia làm ba phần thì độ chính xác khoảng sáu mươi sáu phẩy sáu phần trăm. Chia làm bốn phần, như quan niệm tứ khí, được bảy mươi lăm phần trăm. Chia làm năm phần, như quan niệm Ngũ hành, được tám mươi phần trăm. Chia làm sáu phần được tám mươi ba phẩy ba phần trăm. Chia làm ba mươi phần được chín mươi sáu phẩy sáu phần trăm; năm mươi phần được chín mươi bảy phẩy chín; sáu mươi phần được chín mươi tám phẩy ba; sáu mươi bốn phần, tức số quẻ của Kinh Dịch, được chín mươi tám phẩy bốn phần trăm.
Với năm hành, ông tính được rằng mỗi hành gần đúng đã gói trong nó khoảng ba nghìn bảy trăm bốn mươi mốt tỷ đơn nguyên gia số của vòng luân hồi. Nói cách khác, cái tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ là một nét vẽ rất thô trên một vòng quay mịn hơn nó vô cùng. Dùng năm phần để đo, độ chính xác tối đa chỉ đạt tám mươi phần trăm so với đo bằng đơn nguyên.
Số năm, số mười, số mười hai: ba con số quen thuộc đã được dùng như thế nào
Từ góc nhìn ấy, Nguyễn Ngọc Thạch nhận xét về cách thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn dùng ba con số quen thuộc. Số năm: năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tạo thành vòng luân hồi gần đúng của bản mệnh, giống một ngũ giác đều nội tiếp trong vòng tròn, với năm đỉnh là năm hành. Nhưng khi người ta kết luận rằng ông A bà B mang mệnh Kim, mệnh Mộc, mệnh Thủy, mệnh Hỏa hay mệnh Thổ, thì số năm bỗng đóng vai trò đơn nguyên chứ không còn là bội nguyên, mà chưa ai chứng minh rằng năm phần chia đã đủ để chỉ số hoàn nguyên đạt một trăm phần trăm.
Số mười là mười Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Ở bình diện vòng quay, đó là một mười giác đều. Nhưng khi người ta định vị nhân mạng hoặc thời gian bằng những câu như trai Đinh, Nhâm, Quý thi tài, gái Đinh, Nhâm, Quý thì hai lần đò; hay tuổi Giáp hợp Kỷ, phá Ất, xung Canh, thì mười lại bị dùng như một đơn nguyên.
Số mười hai là mười hai Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Vòng luân hồi gần đúng của thời gian khi ấy là đa giác mười hai cạnh. Khi người ta nói giờ Tý, giờ Sửu hay giờ Dần mà ông A, ông B có thể động thổ, thì bản mệnh của những người ấy đã được coi là đối tác ngang hàng với hành của khoảng thời gian tương ứng. Điều này chỉ đúng nếu đại diện của Thái cực thời gian là đơn nguyên chứ không phải bội nguyên.
Qua ba ví dụ, ông kết luận rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành dùng hệ số bội nguyên mà không đưa ra khuyến cáo nào về nguyên lý bất biến trong ứng dụng, và có lẽ đó cũng là nguyên nhân sâu xa của tình trạng loạn tin trong bói toán từ xưa đến nay.
Con số hai mươi nghìn tỷ và hằng số phá chấp
Để chỉ ra con số nào làm cho sai số biến mất, ông xét trường hợp vòng luân hồi là một vòng tròn và dùng đa giác đều nội tiếp để xấp xỉ nó. Số cạnh càng nhiều thì đa giác càng khít với vòng tròn. Ông tính ra rằng muốn độ chính xác vượt chín mươi tám phần trăm thì đa giác phải có từ năm mươi cạnh trở lên, nghĩa là số bội nguyên cần dùng không được nhỏ hơn năm mươi. Đó là ngưỡng thấp nhất để bắt đầu nói chắc.
Còn muốn sai số biến mất hẳn, tức nhỏ đến mức máy tính thông thường không còn xác định được, thì số chia phải đạt hai mươi nghìn tỷ, viết là hai nhân mười mũ mười ba. Theo ông, đây là con số đơn nguyên gia số của một vòng tròn đảm bảo nguyên lý bất biến, và nó đúng với mọi vòng tròn, không phụ thuộc bán kính. Ông gọi đó là một hằng số.
Lấy một chia cho số ấy thì được hằng số luân hồi, bằng năm phần một trăm nghìn tỷ. Giá trị bất biến này, theo ông, còn có thể gọi là hằng số phá chấp, hay hằng số hoàn nguyên Thái cực. Lý do là để tiếp cận Thái cực, trước hết phải trụ chấp vào khái niệm đơn nguyên gia số của nó. Nhưng khi mức xét đoán đã cặn kẽ đến độ nếu có sai sót thì cũng không lớn hơn một đơn nguyên gia số, lúc đó mới ngộ chính xác về vòng luân hồi. Đó cũng là thời điểm cần phá chấp để đi vào thế giới bên trong của Thái cực.
Ông tóm tắt ba kết luận. Thứ nhất, đại lượng thay thế đúng nghĩa cho một vòng luân hồi là đơn nguyên gia số của nó. Thứ hai, việc chọn một bội nguyên gần đúng không được tùy tiện, mà phải theo tiên đề Ơclit về đoạn thẳng nối hai điểm, nên giá trị chọn luôn phải nhỏ hơn giá trị trung bình của biến nguyên mà nó xấp xỉ. Thứ ba, muốn thấu hiểu bản thân và hoàn cảnh xung quanh, hoặc phải chấp nhận như nó vốn có, hoặc phải nghiên cứu thật toàn diện, đến mức độ thông tuệ về đối tượng đạt tới sự linh nhuyễn của Thái cực, và nếu có sai sót thì cũng không vượt quá một đơn nguyên.
Uốn lưỡi bảy lần là chưa đủ
Ông kết bằng một lời nhắn về đạo đức. Người Việt có câu uốn lưỡi bảy lần trước khi nói. Theo phép chứng minh ở trên, bảy lần là chưa đủ: phải uốn lưỡi hai mươi nghìn tỷ lần. Vì vậy, ông gợi ý rằng phép tu tịnh khẩu nên chăng trở thành quốc sách trong việc giáo dục đạo đức, giúp mỗi người nhìn nhận con người khác trong một xã hội văn minh.
Vòng xoắn thứ nhất và thứ hai: tâm của mô hình và những cách vận khí
Từ các khái niệm trên, Nguyễn Ngọc Thạch dựng mô hình mà ông gọi là Thái cực Hoa giáp. Mô hình có dạng xoắn ốc gồm năm vòng thuận chiều kim đồng hồ, chia thành hai lớp: phần nhân gồm bốn vòng đầu, nằm trong hệ quy chiếu nhân tâm, và phần vỏ ở vòng thứ năm, nằm trong hệ quy chiếu địa tâm.
Vòng xoắn thứ nhất là tâm xoắn. Đó là các chu trình cân bằng động tụ và tán khí của vũ trụ, và Thái cực nhân ngộ của vùng này là Thái cực đồ, hoặc một hình ảnh tự nhiên bất kỳ. Ở tâm này, số chia hoàn nguyên là hai mươi nghìn tỷ, chỉ số hoàn nguyên là trọn một trăm phần trăm, vì chưa dùng đến phép xấp xỉ nào.
Vòng xoắn thứ hai có hai biến nguyên độc lập là xu thế vận khí và cấu tạo vật chất của vũ trụ. Ta coi vũ trụ cấu tạo từ chất gì, có bao nhiêu loại, tương tác với nhau ra sao trong lòng Thái cực. Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, vũ trụ có năm chất cơ bản là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và bốn xu thế vận khí là tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ. Bốn xu thế cho chỉ số bảy mươi lăm phần trăm, năm chất cho chỉ số tám mươi phần trăm; nhân hai số với nhau ra sáu mươi phần trăm.
Ông giải thích các xu thế ấy bằng cách nhìn xem vận khí tác động thế nào lên chu trình cân bằng động của Thái cực. Vận khí dẫn tới trạng thái tụ dương khí gọi là xu thế tương sinh; vận khí dẫn tới tán dương khí gọi là tương khắc. Giữa hai xu thế này còn nhiều xu thế khác. Tác động làm Thái cực cân bằng hơn là tương sinh; tác động làm mất cân bằng thêm là tương khắc; tác động vượt quá mức cần thiết để cân bằng là tương thừa; tác động tụ khí không đủ sức phá xu thế tán khí là tương vũ; còn tác động không gây ra dịch chuyển nào theo xu thế vận khí là bất tương, tức xu thế cân bằng giữa tụ và tán, thường được dùng cho việc cưới hỏi trên Trái đất.
Theo nguyên lý dung thông vô ngại của triết lý Hoa Nghiêm, tương sinh, tương khắc và mọi xu thế vận khí khác cùng tồn tại trong mỗi trạng thái vận khí của vũ trụ, và ngược lại, mỗi trạng thái đều hiện diện trong mọi xu thế. Tụ dương khí là giai đoạn khí tương sinh đang ở thế thượng phong so với khí tương khắc, còn tán dương khí là giai đoạn khí tương khắc đang thắng thế. Khi hai bên không còn phân hơn kém, một trạng thái cân bằng mới xuất hiện trong lòng Thái cực sau lần mất cân bằng trước, mở đầu một hình thức tồn tại mới.
Vòng xoắn thứ ba và thứ tư: giai đoạn của mỗi trạng thái và nhịp lập mạng
Vòng xoắn thứ ba có hai biến nguyên là trạng thái vận khí và khí độ. Trạng thái vận khí mô phỏng trình tự và quy định tự nhiên để lập lại trạng thái cân bằng mới của Thái cực; khí độ mô phỏng quy luật luân hồi của từng khí độ trong chu trình vận khí của vũ trụ.
Ông lấy ví dụ quá trình sinh sản của động vật có vú, từ lúc thụ tinh cho đến khi ra đời, và chia thành năm trạng thái cơ bản: sinh, khắc, khắc ngược, sinh ngược, hòa. Chia năm thì chỉ số là tám mươi phần trăm. Nếu cho rằng mỗi trạng thái lại có sáu giai đoạn là sinh, thành, hưu, tù, tử, tuyệt, thì vòng luân hồi của một hành khí độ phải có sáu nhân năm bằng ba mươi bội nguyên gia số, nghĩa là chỉ số của khí độ là ba mươi phần chia, đạt chín mươi sáu phẩy sáu phần trăm. Nhân các chỉ số đã có ở vòng này ra khoảng bốn mươi sáu phẩy ba mươi sáu phần trăm.
Vòng xoắn thứ tư có tên gọi là lập mạng. Đó là vòng luân hồi gần đúng của Thái cực nhân ngộ thiên nhiên ở vòng thứ nhất, sau khi triển khai năm biến nguyên độc lập là thiên nhiên, xu thế vận khí, vật chất vũ trụ, trạng thái vận khí và khí độ. Chỉ số hoàn nguyên của phần nhân Thái cực Hoa giáp bằng tích các chỉ số thành phần, và với bốn xu thế, năm chất, năm trạng thái, ba mươi khí độ thì cũng đạt khoảng bốn mươi sáu phẩy ba mươi sáu phần trăm.
Nguồn: Nguyễn Ngọc Thạch, Hằng Số Luân Hồi – Thái Cực Hoa Giáp.
