Bài tổng quan
Gần người lành như ở nhà hoa lan, bạn thuở nghèo chớ bỏ
Ở gần người lành lâu ngày thì không còn thấy thơm, vì mình đã hóa thơm. Ở gần kẻ dữ lâu ngày thì không còn thấy hôi, vì mình đã quen mùi. Cổ nhân dặn kỹ chuyện chọn bạn như thế, rồi nhắc rằng người vợ thuở nghèo cũng như người bạn thuở hàn vi đều là những người…
Bạn bè là duyên, và duyên ấy cũng là gương soi
Ai trên đời cũng cần bạn, vì mỗi người đều không toàn vẹn. Bạn bè là tai mắt, chân tay, là trái tim thứ hai của mình. Kẻ sĩ không bạn thì cô đơn kém hiểu biết, người buôn bán cũng cần bạn hàng. Người bạn tri kỷ lại càng hiếm: Trần Phồn chỉ hạ giường treo khi Từ Trĩ đến chơi, Bá Nha đập đàn khi Tử Kỳ chết, Quản Trọng nói rằng sinh ra ta là cha mẹ, hiểu ta là Bảo Thúc. Giữ được tình bạn nhờ trung tín và kính trọng nhau, và người bạn chân chính còn biết khuyên can để nhau nên tốt.
Gia Ngữ so sánh việc ở gần người lành với ở gần người dữ bằng mùi hương:
Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất, cửu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hóa hĩ. Dữ bất thiện nhân cư nhập bào ngư chi tứ, cửu nhi bất văn kỳ xú, diệc dữ chi hóa hĩ.
Đan chi sở tàng giả xích. Tất chi sở tàng giả hắc. Thị dĩ quân tử tất thận kỳ sở dữ xứ.
Ở gần người lành như vào nhà có hoa lan, lâu rồi không còn thấy thơm vì mình đã hóa thơm. Ở gần người không lành như vào hàng cá ướp, lâu rồi không còn thấy hôi vì mình đã hóa hôi. Chỗ cất son thì đỏ, chỗ cất sơn đen thì đen. Vì vậy quân tử rất thận trọng chỗ mình ở và người mình kết giao.
Dữ hảo nhân giao như lan huệ chi hương, nhất nhân chủng chi, chúng nhân giai hương.
Dữ ác nhân giao như bão tử thướng tường, nhất nhân thất túc lưỡng nhân tao ương.
Kết bạn với người tốt như hương lan hương huệ, một người trồng mà cả đám cùng thơm. Kết bạn với kẻ dữ như bồng trẻ leo tường, một người sẩy chân thì cả hai mang họa.
Dữ hảo nhân xử như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y thời thời tư nhuận.
Dữ vô thức giả xử như xí trung tọa, tuy bất ô y thời thời văn xú.
Dữ ác nhân xử như đao kiếm trung lập, tuy bất thương nhân thời thời kinh khủng.
Ở gần người tốt như đi trong sương mù, tuy áo không ướt mà thân thường mát mẻ. Ở gần kẻ dở như ngồi trong nhà xí, tuy áo không dơ mà mùi hôi vẫn bám. Ở gần kẻ dữ như đứng giữa rừng gươm, tuy chưa bị thương mà luôn kinh sợ.
Cận châu giả xích, cận mặc giả hắc.
Cận hiền giả minh, cận tài giả trí.
Cận si giả ngu, cận lương giả đức.
Cận trí giả minh, cận ngu giả ám.
Cận nịnh giả siểm, cận thâu giả tặc.
Thái Công nói: gần son thì đỏ, gần mực thì đen. Gần người hiền thì sáng, gần người tài thì trí. Gần kẻ khờ thì ngu, gần người lành thì có đức. Gần người trí thì tỏ, gần kẻ ngu thì tối tăm. Gần kẻ nịnh thì sinh bợ đỡ, gần kẻ trộm thì đi ăn cắp.
Bạn bè đích thực thì khuyên nhau và nhớ nhau thuở nghèo
Có những người cùng ăn, cùng nhậu, nhưng đến lúc cần người cứu thì chỉ còn lại tiếng chén rơi.
Kim chi bằng hữu, trạch kỳ thiện nhu dĩ tương dữ, phách kiên, chấp quyết dĩ khí vi hợp. Nhất ngôn bất hợp, nộ khí tương gia. Bằng hữu chi gian vô sở chỉ lệ, hà năng hữu ích.
Trương Hoành Cừ nói: bạn bè ngày nay chọn người hiền lành mềm mỏng để giao du, vỗ vai, cầm vạt áo, coi là hợp ý. Chỉ cần một lời không hợp thì giận nhau. Trong quan hệ bạn bè, nếu không răn bảo nhau thì làm sao có ích.
Án Bình Trọng thiện dữ nhân giao, cửu nhi kính chi.
Khổng Tử khen Án Bình Trọng khéo kết bạn, giao du lâu mà lòng kính vẫn như cũ.
Hung hiểm chi nhân, kính nhi viễn chi. Hiền đức chi nhân, thân nhi cận chi.
Bỉ dĩ ác lai, ngã dĩ thiện ứng. Bỉ dĩ khúc lai, ngã dĩ trực ứng. Khởi hữu oán chi tai?
Kê Khang nói: với kẻ hung hiểm thì kính mà tránh xa, với người hiền đức thì thân mà gần gũi. Người dữ với ta thì ta lấy hiền đáp lại, người ngoắt ngoéo với ta thì ta vẫn ngay thẳng. Vậy thì hỏi ai oán thù ta được.
Tự bạo giả bất khả dữ hữu ngôn dã. Tự khí giả bất khả dữ hữu vi dã.
Trách thiện, bằng hữu chi đạo dã.
Mạnh Tử nói: kẻ tự hại thì khuyên can vô ích, kẻ tự bỏ mình thì giúp chẳng được gì. Đòi hỏi bạn phải làm điều tốt mới là đạo bằng hữu.
Nữ vô minh kính bất tri diện thượng tinh thô.
Sĩ vô lương hữu bất tri hành bộ khuy du.
Thái Công nói: cô gái không có gương thì chẳng biết mặt mình xấu đẹp. Kẻ sĩ không có bạn hiền thì chẳng biết bước đi của mình lệch ở đâu.
Kết bằng tu thắng kỷ, tự kỷ bất như vô.
Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân?
Chủng thụ mạc chủng thùy dương chi,
Kết giao mặc kết khinh bạc nhi.
Cổ nhân kết giao duy kết tâm,
Kim nhân kết giao duy kết diện.
Nên kết bạn hơn mình hoặc bằng mình, còn không thì thà đừng kết. Người quen biết đầy thiên hạ, mấy ai hiểu được lòng mình. Trồng cây đừng trồng liễu rủ, kết bạn đừng kết kẻ khinh bạc. Người xưa kết giao bằng tấm lòng, người nay kết giao chỉ để ý ngoài mặt.
Tao khang chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao bất khả vong.
Thi ân ư vị ngộ chi tiên, kết giao ư bần hàn chi tế.
Nhân tình thường tự sơ tương thức, đáo để chung vô oán hận tâm.
Tống Hoằng nói: người vợ cùng chịu cơ hàn thì không thể ruồng bỏ, bạn thuở nghèo hèn thì không thể quên. Làm ơn cho người khi chưa gặp thời, kết bạn lúc còn hàn vi. Tình người nếu luôn như thuở mới quen thì rốt cuộc không có lòng oán hận.
Tửu thực huynh đệ thiên cá hữu,
Cấp nạn chi thời nhất cá vô.
Bất kết tử hoa hưu yếu chủng,
Vô nghĩa chi bằng thiết mạc giao.
Quân tử chi giao đạm nhược thủy,
Tiểu nhân chi giao điềm như mật.
Bạn bè ăn nhậu thì có đến nghìn người, đến lúc nạn gấp thì không còn một ai. Cây không kết trái hoa thì đừng trồng, bạn không có nghĩa thì ngàn vạn lần đừng giao. Tình quân tử nhạt như nước, tình tiểu nhân ngọt như mật.
Nhân dụng tài giao, kim dụng hỏa thí.
Thủy tương trượng thám tri thâm thiển. Nhân dụng tài giao tiện kiến tâm.
Nhân nghĩa mạc giao tài, giao tài nhân nghĩa tuyệt.
Lộ dao tri mã lực. Nhật cửu kiến nhân tâm.
Người dùng tiền để kết giao, vàng dùng lửa để thử. Nước thì lấy gậy dò sâu cạn, người đem tiền ra thì thấy rõ tâm can. Muốn nhân nghĩa thì đừng dây dưa với tiền, dính đến tiền thì nhân nghĩa dứt. Đường xa mới biết sức ngựa, ngày lâu mới thấy lòng người.
Bốn đức của người phụ nữ, theo quan niệm của người xưa
Một nhà thịnh hay suy, người xưa thường nhìn trước hết vào nếp của người vợ.
Người xưa đặt tên cho nếp sống của người phụ nữ là tứ đức, gồm công, dung, ngôn, hạnh, và tam tòng. Tư Mã Ôn Công cho rằng người vợ là đầu mối thịnh suy của một nhà. Khổng Tử nói:
Phụ nhân trượng ư nhân dã, thị cố vô chuyên chế chi nghĩa. Hữu tam tòng chi đạo: Tại gia tòng phụ, thích nhân tòng phu, phu tử tòng tử, vô cảm tự toại dã.
Giáo lệnh bất xuất khuê môn, sự tại quỹ tự chi gian nhi dĩ hỹ.
Đàn bà nương tựa vào người khác nên không có nghĩa tự chuyên. Có đạo ba theo: ở nhà theo cha, về nhà chồng theo chồng, chồng chết theo con, không dám tự theo ý mình. Việc dạy bảo và ra lệnh không vượt khỏi cửa phòng khuê, công việc chỉ quanh quẩn nơi bếp núc cúng tế.
Thị cố nữ cập kê ư khuê môn chi nội bất bách lý nhi bôn tang. Sự vô thiện vi, hành vô độc thành, tham tri nhi hậu động, khả nghiệm nhi hậu ngôn.
Trú bất du đình, dạ hành dĩ hỏa, sở dĩ chính phụ đức dã.
Vì vậy con gái đến tuổi cài trâm, ở trong phòng khuê thì không đi xa trăm dặm để chịu tang. Việc không tự tiện làm, làm thì không làm một mình, phải hỏi ý kiến rồi mới làm, phải suy ngẫm kiểm chứng rồi mới nói. Ban ngày không dạo chơi ngoài sân, ban đêm đi phải cầm đuốc. Đó là điều giữ cho đức hạnh của người phụ nữ được ngay thẳng.
Nữ hữu tứ đức chi dự: Nhất viết phụ hạnh, nhị viết phụ dung, tam viết phụ ngôn, tứ viết phụ công.
Phụ hạnh giả bất tất tài minh tuyệt dị. Phụ dung giả bất tất nhan sắc mỹ lệ. Phụ ngôn giả bất tất lợi khẩu biện từ. Phụ công giả bất tất kỹ xảo quá nhân.
Phụ nữ thường được khen về bốn đức: một là hạnh, hai là dung, ba là ngôn, bốn là công. Đức hạnh không nhất thiết phải tài trí tuyệt vời. Dung mạo không nhất thiết phải nhan sắc mỹ lệ. Lời nói không nhất thiết phải miệng lưỡi lanh lợi. Nữ công không nhất thiết phải khéo hơn người.
Trinh thục liêm tiết, thủ phận chỉnh tề, hành chỉ hữu sỉ, động tĩnh hữu pháp, thử vi phụ hạnh dã.
Tẩy cán trần cấu, y phục tiên khiết, mộc dục cập thời, nhất thân vô uế, thử vi phụ dung dã.
Trạch từ nhi thuyết, bất thuyết phi ngữ, thời nhiên hậu ngôn, nhân bất yếm kỳ ngôn, thử vi phụ ngôn dã.
Chuyên cần phưởng chức, vật hiếu huân tửu, cung bị cam chỉ, dĩ phụng tân khách, thử vi phụ công dã.
Thử tứ đức giả, thị phụ nhân chi đại đức dã, vi chi thậm dị, vu tại ư chính, y thử nhi hành.
Trong sạch, đoan trang, liêm tiết, giữ phận chỉnh tề, đi đứng biết thẹn, cử động có phép tắc, ấy là phụ hạnh. Giặt giũ bụi dơ, áo quần sạch sẽ, tắm gội kịp thời, thân không ô uế, ấy là phụ dung. Chọn lời mà nói, không nói điều quấy, đáng nói mới nói, khiến người không chán lời mình, ấy là phụ ngôn. Chuyên cần canh cửi, không ham rượu chè, sắp sẵn món ngon để đãi khách, ấy là phụ công. Bốn đức ấy là đại đức của người phụ nữ, làm rất dễ, chỉ cốt ở chỗ ngay thẳng, cứ theo đó mà làm.
Phụ nhân chi lễ, ngữ tất tế, hành tất hoãn, bộ chỉ tắc đoan nhất, dung mạo tắc trang kính. Nhĩ vô dư thính, mục vô dư thị, xuất vô siểm dung, bất khuy tường bích, bất quan hộ dũ.
Tảo khởi dạ miên, mạc đạn lao khổ, chiến chiến căng căng, thường ưu điếm nhục.
Thái Công nói lễ của phụ nữ là: nói năng dịu dàng, đi đứng khoan thai, cử chỉ ngay ngắn, dung mạo đoan trang đứng đắn. Tai không nghe lời thừa, mắt không nhìn điều bậy, ra ngoài không nịnh vẻ mặt, không ngó qua tường qua cửa. Sớm dậy tối nằm, không ngại nhọc nhằn, nơm nớp lo sợ điều nhơ nhuốc.
Hiền phụ linh phu quý. Ác phụ linh phu bại.
Gia hữu hiền thê bất tao hoạnh họa.
Hiền phụ hòa lục thân. Nịnh phụ phá lục thân.
Vợ hiền khiến chồng được vẻ vang, vợ ác khiến chồng suy bại. Nhà có vợ hiền thì chồng không gặp tai bay vạ gió. Vợ hiền hòa thuận sáu thân, vợ nịnh phá sáu thân.
Có người hỏi Trình Y Xuyên rằng đàn bà góa theo lễ dường như không thể cưới làm vợ, ông đáp theo quan niệm của người đương thời:
Phàm thú dĩ phối kỷ dã, nhược thú thất tiết giả, thị kỷ thất tiết dã.
Chỉ thị hậu thế phạ cơ hàn tử, cố hữu thị thuyết. Nhiên tử sử cực tiểu, thất tiết sự cực đại.
Cưới vợ là để sánh đôi với mình, nếu cưới người đã mất tiết thì tức là mình cũng mất tiết. Hỏi tiếp nếu người góa nghèo khổ không nơi nương tựa thì có tái giá được không, ông đáp rằng chỉ vì người đời sau sợ chết đói chết rét nên mới có lời ấy, còn theo ông thì chuyện chết là vô cùng nhỏ mà chuyện mất tiết là vô cùng lớn.
Cổ giả phụ nhân nhâm tử, tẩm bất trắc, tọa bất thiên, lập bất dược, bất thực tà vị, cát bất chính bất thực, tịch bất chính bất tọa, mục bất thị tà sắc, nhĩ bất thính dâm thanh.
Dạ tắc linh cổ tụng thi, đạo chính sự. Như thử tắc hình dung đoan chính, tài trí quá nhân hỹ.
Liệt Nữ Truyện kể xưa phụ nữ mang thai thì nằm không nghiêng, ngồi không lệch, đứng không nhún nhảy, không ăn đồ ăn lệch vị, thịt cắt không ngay thì không ăn, chiếu trải không thẳng thì không ngồi, mắt không nhìn sắc tà, tai không nghe tiếng dâm. Ban đêm thì sai người mù đọc thơ, kể chuyện chính đáng. Làm như vậy thì con sinh ra hình dung đoan chính, tài trí hơn người.
Hứa Chân Quân kết lại bằng một bài thơ nhắc người ta lo cầu đạo trước khi tham danh lợi:
Bất cầu đại đạo xuất mê đồ,
Túng phụ hiền tài khởi trượng phu,
Bách tuế quang âm thạch hỏa xán,
Nhất sinh thân thể đẳng bào trù.
Chỉ tham lợi lộc đồ vinh hiển,
Bất quản hình dung ám tụy khô.
Thí vấn đôi kim đẳng sơn nhạc,
Vô thường năng mãi bất lai vô.
Không cầu đạo lớn để thoát khỏi đường mê, chỉ cậy có tài hiền thì đâu phải bậc trượng phu. Trăm năm ngày tháng như tia lửa đá nháng lên, một đời thân thể thấp thoáng như bọt nước. Chỉ tham lợi lộc để mưu vinh hiển, chẳng màng hình dung đã tối tăm héo khô. Thử hỏi vàng chất cao như núi, liệu có mua được cho vô thường đừng đến hay không.
Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.
