Bài tổng quan
Cùng thì biến, biến thì thông và lẽ thay phiên nhật nguyệt
Có những lúc con đường như đã chấm hết, và người xưa chỉ nói một câu rất ngắn để mở lối. Câu ấy bắt đầu từ ngày Phục Hi ngẩng nhìn trời, cúi nhìn đất rồi lấy ngay thân mình làm thước…
Ngẩng nhìn trời, cúi nhìn đất, gần lấy thân, xa lấy vật
Chuyện kể rằng thuở xưa họ Bào Hi, tức Phục Hi, cai trị thiên hạ. Mỗi ngày ông ngẩng lên xem hiện tượng trên trời, cúi xuống xem phép tắc trên đất, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở muôn vật, rồi từ đó làm ra tám quẻ. Đó là cách Hệ từ hạ kể về cội nguồn bát quái.
Cổ giả Bào Hi thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư địa... cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, ư thị thủy tác bát quái.
Lời giải thích thừa nhận không có chứng cứ để kiểm chứng việc Phục Hi tự tay làm tám quẻ, nên nhiều người không nhận chuyện này. Kinh Dịch cũng không phải do một người viết. Nhưng đoạn kể ấy minh chứng một điều quan trọng: tám quẻ là do người xưa quan sát thực tiễn và xã hội mà tạo tác, chứ không từ trên trời rơi xuống. Cách "gần lấy ở thân mình" cũng khiến ta nhớ quẻ Hàm, nơi cảm ứng được tả từ ngón chân lên tới lời nói. Lời tựa của một bản chú giải Nội kinh cũng viết theo hướng đó: nhìn lên tới tận mối trời, nhìn xuống tới tận cõi đất, xa lấy ở vật, gần lấy ở thân. Điều ấy cho thấy các thầy thuốc xưa cũng tán thưởng quan điểm này của Chu Dịch.
Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền
Có những lúc con đường như đã chấm hết, và người xưa chỉ nói một câu rất ngắn để mở lối.
Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu.
Dịch đi đến cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài. Biến dịch là cốt lõi của Dịch. Chữ "dịch" mang hai nghĩa: biến dịch và bất dịch. Biến dịch thuộc động, bất dịch thuộc tĩnh; động tĩnh phối hợp thì vạn vật nảy sinh. Có biến dịch mới có vận động, có bất dịch mới có cân bằng. Hai mặt thống nhất trong một mâu thuẫn, và nhờ chúng phối hợp mà khí hóa được tạo ra, sinh mệnh được duy trì.
Nội kinh nhận ảnh hưởng sâu sắc của luận điểm này. Một đoạn viết rằng thành bại, sinh hóa đều dựa vào động, nhấn mạnh ý nghĩa của sự vận động đối với sự phát sinh và phát triển của muôn vật. Quan điểm ấy tương tự câu "cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền" trong Chu Dịch.
Câu này còn hàm ý "vật cực tắc phản", đến cùng tận thì đổi hướng. Sự vật luôn phát triển, đổi thay, nối tiếp nhau không dứt. Đối với đời người, mệnh đề có sức chỉ dẫn lớn: trời không bao giờ tuyệt đường của bất cứ ai. Dân gian có câu nói rằng núi cùng, nước tận tưởng hết đường, nhưng liễu rậm, hoa tươi lại hiện ra một xóm mới, khuyên người ta tin rằng sự vật luôn chuyển, mọi cái đều có đường chuyển biến. Người xưa gặp lúc thế cùng thường chọn đổi cách chứ không đổi mục đích, và đó cũng là lẽ co lại để duỗi ra mà nhiều người đã dùng để vượt khó.
Tượng là hình, và hai trường phái đọc Dịch
Cùng nhìn một quẻ, có người thấy hình ảnh, có người thấy ý nghĩa; hai cách nhìn ấy đã chia giới Dịch học làm đôi.
Thị cố Dịch giả tượng dã, tượng dã giả tượng dã.
Dịch là hình tượng, và hình tượng là phỏng theo, là tương tự. Chu Dịch lấy tượng, số và lý làm nội dung chủ yếu; trong đó tượng là hình của quẻ, gồm cả hình của hào. Qua tượng người ta hình dung sự vật. Các nhà Dịch học chia làm hai phái. Một phái dùng hình tượng để giảng quẻ: quẻ Càn tượng trời, quẻ Khôn tượng đất, quẻ Khảm tượng nước. Phái kia dùng nghĩa lý: quẻ Khôn không nói là đất mà nói là nhu thuận, quẻ Khảm không nói là nước mà nói là hiểm hoạ. Y học cổ truyền lấy thủ tượng làm chính, như Khảm thủy là thận, Li hỏa là tim, chứ không coi Khảm là hiểm.
Mặt trời qua thì mặt trăng lại
Ánh sáng không sinh ra từ một vì sao đứng yên, mà từ hai vì sao thay phiên nhau.
Nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên. Hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên.
Mặt trời đi thì mặt trăng đến, mặt trăng đi thì mặt trời đến, mặt trời và mặt trăng đẩy nhau mà sinh ra ánh sáng. Lạnh đi thì nóng đến, nóng đi thì lạnh đến, lạnh nóng đẩy nhau mà thành năm tháng. Lời giải thích chỉ ra hai điều. Điều thứ nhất, Chu Dịch lấy Li và Khảm tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng; Li là mặt trời, Khảm là mặt trăng. Cách nhìn ấy cho thấy vũ trụ quan của Dịch mang tính vật chất, khách quan.
Điều thứ hai là Chu Dịch nhấn mạnh sự vận động của các thiên thể, cho rằng vũ trụ không ngừng biến đổi và các phần liên hệ với nhau. Nội kinh tiếp thu tư tưởng này và thể hiện nó triệt để. Trong thiên bàn về kỉ nguyên của trời đất có đoạn tả chín sao lơ lửng, bảy ngôi tinh tú xoay tròn, nóng lạnh đổi thay, âm u và sáng tỏ đều có vị trí, tất cả có quy luật của nó.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
