Bài tổng quan
Quẻ Phục: sấm dưới đất, một hào dương và lẽ trở về
Giữa đêm đông dài nhất, dưới lớp đất lạnh có một tiếng sấm rất khẽ vừa động. Chỉ một vạch dương lẻ loi, vậy mà năm vạch âm phía trên bỗng có lý do để chuyển mình. Điều gì khiến một mầm sống nhỏ như thế lại mang sức cải mệnh lớn đến vậy…
Một vạch dương nhỏ nằm dưới năm vạch âm
Hình quẻ Phục rất dễ nhận: Khôn ở trên, Chấn ở dưới. Năm hào trên đều là âm, chỉ riêng hào thấp nhất là dương. Một vạch dương lẻ loi như thế tượng cho khí dương vừa quay trở lại sau một thời gian dài vắng bóng. Nó còn non, nhưng đã có sức động như tiếng sấm mới sinh nằm dưới lớp đất dày.
Lời quẻ gọi tên điều ấy bằng mấy câu ngắn:
Phục, hanh. Xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu. Phản phục kỳ đạo, thất nhật lai phục. Lợi hữu du vãng.
Nghĩa là: sự trở lại thì hanh thông; ra vào không gặp tai nạn, bạn bè kéo đến cũng không có lỗi; quay đi rồi quay lại theo một đường lối nhất định, chừng bảy ngày là tới lúc trở về; có việc để đi thì có lợi. Chữ "phục" ở đây chỉ khí dương hồi lại, chữ "hanh" chỉ khí ấy thông suốt không bị ngăn.
Có một điều đáng để ý: khí dương mới hồi mà quẻ đã nói là hanh thông. Lý do nằm ở chỗ chỉ một hào dương ấy cũng đủ làm cả quẻ có sinh khí. Khôn là đất, là âm mềm, tự nó không có động lực; phải có Chấn dương thức dậy bên dưới thì đất mới chuyển mình, vạn vật mới có sức sống trở lại. Người xưa nhìn vào đó để nhắc rằng trời không bao giờ chặn hẳn đường sống của ai. Sau những ngày u ám kéo dài, bao giờ cũng có ngày nắng chói.
Sáu hào, sáu cách quay về
Trở lại là một việc, nhưng mỗi người quay về theo một dáng khác nhau, người nhanh người chậm, người thành tâm người lạc lối.
Hào chín đầu là hào dương duy nhất, và là hào đẹp nhất: đi chưa được bao xa đã quay lại đường chính, nên không có gì phải hối hận, rất tốt lành. Lời giải của Tượng truyện cho biết đó là người khéo sửa mình, nhận ra chệch hướng ngay từ bước đầu nên chẳng mất gì.
Hào sáu hai nằm ngay trên hào dương, nên được bao nhiêu gần gũi. Lời hào nói sự trở lại đẹp đẽ, tốt lành; Tượng truyện hiểu rằng người ở vị trí này biết cúi xuống thân cận với người có đức nhân, nhờ vậy mà đường quay về trở nên nhẹ nhàng.
Hào sáu ba thì khác. Đó là người nhăn mày, gắng gượng mới quay lại được. Việc có nguy hiểm, nhưng không đến mức có lỗi, vì cuối cùng họ vẫn cố sức hướng thiện. Bản thân sự gắng gượng ấy đã đáng quý, dù chưa thanh thản bằng hai hào dưới.
Hào sáu bốn nằm giữa bốn hào âm, đứng ở giữa đám đông mà một mình trở lại với chính đạo. Lời hào chỉ nói "ở giữa hàng, một mình quay lại", còn Tượng truyện giải thích là người ấy theo về con đường chính. Quanh mình toàn người đi hướng khác, nhưng họ vẫn nhận ra phía nào mới đúng.
Hào sáu năm ở ngôi giữa, đôn hậu và dốc lòng trở lại, không có gì phải ăn năn. Tượng truyện cho rằng nhờ ở vị trí không lệch bên nào mà người này có thể tự xét mình, nhìn lại việc đã làm để thành đạo phục thiện. Trong sáu hào, đây là cách quay về chín chắn nhất: không vội, không gượng, chỉ lặng lẽ soi lại bản thân.
Hào sáu trên là cái kết buồn của quẻ. Người này mê lạc, đi nhầm bước mà không biết đường trở lại, nên có hung hiểm và tai ương. Lời hào nói nặng: đem quân giao chiến thì cuối cùng thua to; đem cách ấy trị nước thì nước loạn, người đứng đầu gặp họa, đến mười năm sau cũng không thể chấn hưng. Tượng truyện nhận xét đó là vì hào này đi ngược con đường của vị chủ dương cứng. Nghĩa là cánh cửa quay về vẫn mở, nhưng kẻ cố tình quay lưng thì chẳng ai kéo vào được.
Đặt sáu hào cạnh nhau, ta thấy các chữ "bất viễn phục", "hưu phục", "tần phục", "độc phục", "đôn phục", "mê phục" như sáu bậc của sự quay về: sớm, đẹp, gượng gạo, đơn độc, đôn hậu và lầm lạc. Chúng nói lên một điều quan trọng về đạo làm người: cái gì cũng có thể chuyển hóa, miễn là còn biết quay đầu.
Sấm động trong lòng đất và ngày đông chí
Lúc dương khí mới nhú, điều khôn ngoan nhất lại là tĩnh lặng giữ gìn.
Lời Thoán truyện nói rằng dương cứng đã quay lại; quẻ có tính động ở dưới và thuận ở trên, nên mọi thứ chạy theo một nhịp thông suốt. Nhờ vậy mới có chuyện ra vào không tai nạn, bạn bè đến không lỗi. Việc quay đi rồi lại về theo qui luật chính là cách vận hành của trời. Câu "lợi hữu du vãng" ngụ ý khí dương ngày một lớn lên. Và truyện đặt một câu hỏi lớn: phải chăng trong lẽ hồi phục ấy, ta thấy rõ tấm lòng nuôi dưỡng muôn vật của trời đất?
Tượng truyện vẽ ra một hình ảnh khá ngộ. Sấm nằm trong lòng đất là hình quẻ Phục. Các bậc vua xưa nhân đó, đến ngày đông chí lúc dương mới động thì cho đóng cửa ải, thương nhân không đi buôn, khách lữ hành không lên đường, nhà vua cũng không đi tuần thị bốn phương. Tức là lúc mầm dương còn yếu thì không nên làm động nó, mà phải bảo vệ, chờ nó lớn.
Cách nghĩ này nhắc ta nhớ cái nhịp của việc khôi phục. Một sức sống vừa hồi, một thói quen tốt vừa lập, một tấm lòng vừa nguội lại ấm lên: chúng đều yếu như hào dương duy nhất kia. Đây là lúc cần tĩnh dưỡng chứ chưa phải lúc phô trương. Cùng với đó, hào chín đầu dạy rằng sửa mình phải sửa từ bước đầu, gần với tinh thần tiệm tu: từng chút một mà bền.
Quẻ Phục trên vòng quay bốn mùa
Nếu xếp sáu mươi bốn quẻ quanh một vòng tròn, Phục là nơi dương khí cất tiếng đầu tiên.
Trong vòng tròn sáu mươi bốn quẻ của Phục Hi, Phục nằm ở phương bắc, đúng lúc đông chí, là quẻ đầu tiên đánh dấu dương khí trở lại. Thuở trước, đến tháng mười, quẻ Khôn thuần âm tràn ngập: sáu hào đều âm, dương khí cạn hết. Sang tháng mười một, giữa đông chí, một hào dương sinh ra từ đáy. Từ quẻ Phục trở đi, hào dương tăng dần, khí âm tiêu dần, cho đến tiết hạ chí thì dương chiếm trọn cả sáu hào ở quẻ Càn.
Ngay lúc ấy, quẻ Cấu lại sinh ra một hào âm, rồi âm lại lớn dần theo chiều ngược lại. Phục và Cấu vì thế như hai điểm mốc của một nhịp đập: một bên dương mới sinh, một bên âm mới sinh. Người xưa gọi chung là lẽ tiêu trưởng, tiến thoái của âm dương, và chính lẽ ấy về sau trở thành một nền móng trong lý luận âm dương của Trung y.
Âm cực thì dương sinh, đời người cũng vậy
Quẻ Phục là hình ảnh trọn vẹn nhất của câu "âm cực dương sinh". Đêm tối qua đi thì ánh sáng trở lại; mùa đông hết thì mùa xuân đến. Vũ trụ vận hành theo qui luật ấy, và việc người cũng không thoát khỏi nó. Gặp lúc thất bại, sa sút, kiệt quệ, hãy nhớ rằng đáy của cái thấp nhất cũng là chỗ mầm sống bắt đầu nhú.
Nhưng quẻ cũng đặt ra một điều kiện ngầm: muốn nhận được sự hồi phục thì phải biết quay đầu. Hào chín đầu và hào sáu hai là hai người quay đầu sớm, nên nhận phần thưởng tốt nhất. Hào sáu trên không chịu quay lại, nên cánh cửa mở sẵn cũng thành vô nghĩa. Lời quẻ vì vậy vừa là lời an ủi, vừa là lời nhắc nhở nhẹ nhàng cho những ai đang lạc lối.
Chỉ cần một điểm sáng nhỏ nhưng thật, và một lòng giữ gìn nó, thì mùa xuân đã nằm sẵn trong mùa đông rồi.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
