Bài tổng quan
Lẽ trời không thể dối và mệnh trời không thể ép cưỡng
Có người tin rằng chuyện thì thầm trong căn phòng tối sẽ không ai nghe thấy. Nhưng cổ nhân bảo trời nghe lời ấy như sấm động, và lòng vừa nảy một ý thì trời đất đã hay. Vậy còn việc nào trong đời là do ta quyết, việc nào do trời định…
Lẽ trời là gốc của tâm
Thiên lý là lẽ trời, lẽ chí công chí thiện của trời đất, và cũng là bản thể của tâm, thứ mà trời đã phú cho người, nên mới gọi là thiên lý lương tâm. Theo Nho gia, trời sinh ra người và cho người một tính sáng suốt, thì đạo làm người là cố gắng theo đạo trời mà tiến dần đến chỗ chí thiện chí mỹ. Mọi hành vi, mọi hoàn cảnh, hễ thuận lẽ trời thì lành, ngược lẽ trời thì hỏng. Muốn noi theo lẽ trời, người ta phải gắng bỏ đi lòng ham tài, ham sắc, ham lợi, ham danh. Có vậy mới đạt tới cảnh không cầu lợi mà lợi vẫn đến.
Mạnh Tử gói điều ấy vào mười chữ:
Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.
Thuận trời thì còn, nghịch trời thì mất. Mạnh Tử tên Kha, người nước Trâu thời Chiến Quốc, học trò của Tử Tư, cháu Khổng Tử, nổi tiếng hùng biện, chủ trương vương đạo, du thuyết các nước chư hầu mà không được dùng, về dạy học và cùng đệ tử soạn sách Mạnh Tử bảy thiên. Ông có công lớn trong việc chấn hưng Nho học nên được đời sau tôn là Á Thánh.
Cận Tư Lục, bộ sách mười bốn quyển do Chu Hy và Lữ Khiêm đời Tống soạn từ lời của Chu Đôn Di, hai anh em họ Trình và Trương Tải, cả thảy sáu trăm hai mươi hai điều chia mười bốn loại, ghi lại một đối chiếu giữa hai lối sống:
Tuần thiên lý tắc bất cầu lợi nhi tự vô bất lợi.
Tuần nhân dục tắc cầu lợi vị đắc nhi hại dĩ tùy chi.
Theo lẽ trời thì không cầu lợi mà tự nhiên đều có lợi. Theo lòng dục của người thì lợi chưa được mà hại đã đi theo sau. Nhân dục ở đây là lòng tham và ý chủ quan của con người.
Gia Cát Vũ Hầu, tức Khổng Minh Gia Cát Lượng, mưu thần nước Thục thời Tam Quốc, để lại một câu mà người đời đến nay vẫn nhắc khi tính chuyện thành bại:
Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, nhân nguyện như thử như thử, thiên lý vị nhiên vị nhiên.
Mưu tính việc là ở người, nên việc là ở trời. Người muốn thế này thế này, mà lẽ trời chưa thế chưa thế.
Trời không có tai mà nghe hết, không có lưới mà bắt hết
Nếu trời ở nơi cao thẳm không tiếng động, vậy làm sao biết được lòng người?
Thiệu Khang Tiết, tức Thiệu Ung người đời Tống, tự Nghiêu Phu, hiệu Khang Tiết và An Lạc tiên sinh, là người đức hậu tài cao, học rộng, không ưa danh lợi, giỏi khoa tiên thiên và tướng số thuộc chi phái Trần Đoan. Nhiều lần vua Tống triệu ra làm quan, ông đều cáo bệnh từ chối. Ông viết các sách như Hoàng cực kinh thế và Tiên thiên đồ, rồi để lại bốn câu hỏi đáp về chuyện trời:
Thiên thính tuyệt vô âm,
Thương thương hà xứ tầm.
Phi cao diệc phi viễn,
Đô chỉ tại nhân tâm.
Nhân tâm sinh nhất niệm,
Thiên địa tất giai tri.
Thiện ác nhược vô báo,
Càn khôn tất hữu tư.
Trời lồng lộng không một tiếng, trời xanh thăm thẳm biết tìm đâu. Trời chẳng cao cũng chẳng xa, tất cả chỉ ở nơi lòng người. Lòng vừa dấy một ý nghĩ thì trời đất đều biết. Nếu lành dữ mà không có báo thì tức là Càn Khôn có thiên vị riêng.
Huyền Đế có hai câu nói lời thì thầm cũng không thoát:
Nhân gian tư ngữ, thiên văn như lôi.
Ám thất khuy tâm, thần mục như điện.
Lời thầm thì giữa cõi đời, trời nghe như tiếng sấm. Lòng tà trong căn phòng tối, mắt thần thấy như chớp lòe.
Trung Hiếu Lược, một bộ chép gương trung hiếu mà xuất xứ chưa rõ, ghi một chuỗi lời dài, đi từ chuyện dối người đến chuyện dối trời:
Khi nhân tất tự khi kỳ tâm, khi kỳ tâm tất tự khi kỳ thiên.
Thiên kỳ khả khi hồ? Nhân khả khi, thiên bất khả khi. Nhân khả man, thiên bất khả man.
Thế nhân yếu man nhân, phân minh bả tâm khi.
Khi tâm tức khi thiên, mạc đạo thiên bất tri.
Thiên tại ốc giác đầu, tu hữu thính đắc thì.
Nhĩ đạo bất thính đắc, cổ kim phóng quá thùy?
Dối người là tự dối lòng mình, dối lòng mình là tự dối trời. Trời có thể dối được chăng? Người thì dối được, trời thì không. Người thì lừa được, trời thì không. Người đời muốn lừa người thì rõ ràng là lừa chính lương tâm mình, mà lừa lương tâm tức là lừa trời, đừng bảo trời không biết. Trời ở ngay trên nóc nhà, ắt có lúc nghe được. Ngươi bảo trời không nghe thì xưa nay trời đã bỏ qua cho ai?
Trạm trạm thanh thiên bất khả khi,
Vị tằng cử ý ngã tiên tri.
Khuyến quân mạc tác khuy tâm sự,
Cổ vãng kim lai phóng quá thùy?
Trời xanh thăm thẳm không thể dối, ý chưa nảy ra mà ta đã biết trước. Xin khuyên bạn đừng làm việc trái lương tâm, xưa nay đã bỏ qua cho ai. Chuỗi lời ấy kết bằng hai nhóm câu cuối:
Nhân thiện nhân khi thiên bất khi. Nhân ác nhân phạ thiên bất phạ. Nhân tâm ác thiên bất thác.
Hoàng thiên bất phụ đạo tâm nhân. Hoàng thiên bất phụ hiếu tâm nhân. Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân. Hoàng thiên bất phụ thiện tâm nhân.
Người lành bị người khinh nhưng trời không khinh. Kẻ dữ được người sợ nhưng trời không sợ. Lòng người ác thì trời không lầm. Ông trời chẳng phụ người có đạo tâm, người có hiếu tâm, người có lòng tốt, người có lòng lành.
Ích Trí Thư, bộ sách bổ ích về trí tuệ mà xuất xứ cũng chưa rõ, có một câu rất ngắn:
Ác thác nhược mãn, thiên tất lục chi.
Điều ác lầm lỗi nếu đầy tràn thì trời ắt tru diệt. Tích Hiền thì nói bằng hình ảnh ruộng vườn và lưới:
Nhược nhân tác bất thiện đắc hiển danh giả, nhân bất hại thiên tất tru chi.
Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu.
Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu.
Thâm canh thiển chủng, thượng hữu thiên tai.
Lợi kỷ tổn nhân, khởi vô quả báo.
Kẻ làm ác mà được hiển danh, dù người không hại thì trời cũng diệt. Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt. Thâm canh thiển chủng chỉ cảnh làm lụng vất vả. Cày sâu cuốc bẫm còn gặp thiên tai, huống chi lợi mình hại người mà không có quả báo. Quả báo là cách nói gọn của nhân quả báo ứng, ý người xưa là có nhân thì có quả, nhân nào quả nấy, tục ngữ ta cũng nói rằng ngày xưa quả báo thì chầy, ngày nay quả báo ở ngay nhãn tiền.
Khổng Tử chốt lại bằng một câu mà ai nghe cũng hiểu:
Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã.
Mắc tội với trời thì không còn chỗ nào để khấn cầu.
Thuận mệnh không phải là buông tay
Nếu trời nghe thấy hết mọi việc, thì việc nào do ta, việc nào do trời quyết?
Thuận mệnh là thuận theo mệnh trời. Kinh Dịch có câu trời đi mạnh mẽ, người quân tử theo đó mà tự cường không nghỉ. Vậy thuận mệnh không có nghĩa là nhắm mắt chịu đựng, mà phải sáng suốt hiểu mệnh trời để cư xử cho hợp. Muốn rõ trời thì phải rõ tâm, biết tâm là biết trời. Giữ tâm cho ngay, nuôi tính cho sáng, mỗi động mỗi tĩnh đều theo lẽ tự nhiên. Chết yểu hay sống thọ không đổi được, thì cứ sửa mình mà đợi để lập mệnh. Lập mệnh là lập theo chính mệnh, chứ không phải làm càn làm bậy rồi gọi đó là lập mệnh.
Mạnh Tử nói trong thiên hạ không có việc gì không có mệnh, thuận mà theo cái chính. Người biết mệnh thì không đứng dưới bức tường sắp đổ. Cố sức làm cho trọn đạo mà chết thì đó là chính mệnh, còn làm điều gian ác đến nỗi bị gông cùm mà chết thì không phải chính mệnh. Học là để giữ cái tâm, nuôi cái tính, biết rõ lẽ trời mà theo chính mệnh của mình. Khổng Tử dạy: vui với trời, biết mệnh nên chẳng lo.
Tử Hạ, tên Bốc Thương, người nước Lỗ thời Xuân Thu, học trò Khổng Tử giỏi ngôn ngữ văn chương, được xếp vào bảy mươi hai người hiền, nói:
Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên.
Sống chết có mệnh, giàu sang do trời. Mạnh Tử có thêm một câu về chuyện làm và thôi:
Hành hoặc sử chi, chỉ hoặc nệ chi, hành chỉ phi nhân sở năng dã.
Làm là có điều sai khiến, thôi là có điều ngăn trở, làm hay thôi đều không phải sức người quyết định được. Một đoạn văn dài hơn lặp lại ý ấy:
Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định.
Vạn sự phận dĩ định. Phù sinh không tự mang.
Vạn sự bất do nhân kế giảo. Nhất sinh đô thị mệnh an bài.
Một hớp uống một miếng ăn đều đã định từ trước. Mọi việc phận đã định, đời phù du bận rộn làm chi. Mọi việc không do người tính toán, cả đời đều do mệnh sắp xếp. Cảnh Hạnh Lục, tên nghĩa là sách chép những nết tốt đẹp, lấy ý từ câu Kinh Thi ngửa trông núi Thái thì làm theo hạnh lớn, nói thêm hai điều về giới hạn của sức người:
Phàm sự bất khả trước lực xứ, tiện thị mệnh.
Họa bất khả dĩ hãnh miễn. Phúc bất khả dĩ cẩu cầu.
Việc gì cố sức không làm nổi, ấy là mệnh. Họa không thể cầu may mà tránh được, phúc không thể qua loa mà cầu được. Khúc Lễ thì dặn thái độ khi gặp của và gặp nạn:
Lâm tài vô cẩu đắc, lâm nạn vô cẩu miễn.
Thấy tiền của đừng lấy cẩu thả, gặp tai nạn đừng tránh cẩu thả.
Tích Hiền vẽ chân dung người biết mệnh:
Tri mệnh chi nhân kiến lợi bất động, lâm tử bất oán.
Đắc nhất nhật quá nhất nhật, đắc nhất thì quá nhất thì.
Khẩn hành, mạn hành, tiền trình chỉ hữu hứa đa lộ.
Thời lai phong tống Đằng Vương các. Vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi.
Người biết mệnh thấy lợi mà không động lòng, sắp chết mà không oán. Được một ngày sống một ngày, được một giờ sống một giờ. Vội hay thong thả thì đường phía trước cũng chỉ có bấy nhiêu. Thời đến thì gió đưa người tới gác Đằng Vương, vận đi thì sét đánh vỡ bia Tiến Phúc.
Liệt Tử, tức Liệt Ngự Khấu, người nước Trịnh thời Chiến Quốc, triết gia thuộc đạo gia mà môn đệ chép lời thầy thành sách tám thiên, để lại câu gắt nhất của cả loạt:
Si lung ấm á gia hào phú. Trí tuệ thông minh khước thụ bần.
Niên nguyệt nhật thì giai tải định. Toán lai do mệnh bất do nhân.
Mệnh lý hữu thời chung tu hữu. Mệnh lý vô thời mạc cưỡng cầu.
Người ngây điếc câm ngọng lại có thể giàu sụ, người thông minh trí tuệ lại phải chịu nghèo. Năm tháng ngày giờ đã ghi sẵn, tính ra là do mệnh chứ không do người. Trong mệnh có lúc nào thì cuối cùng sẽ có, trong mệnh không có thì đừng gượng ép mà cầu.
Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.
