Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Khổng Tử bàn chính sự vì dân, nhân đạo và thiên đạo

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Khổng Tử bàn chính sự vì dân, nhân đạo và thiên đạo

Chế độ hà khắc còn ghê hơn cả hổ dữ: lời ấy được ghi lại từ một người từng đói rét, từng bị ví như con chó của nhà có đám tang. Ông chê chính trị hà khắc, trọng dân, mà vẫn dành những năm cuối đời cho những quẻ nói về trời đất. Còn cách ông nhìn đạo trời thì…


Chính trị nhân đức, chê bỏ hà khắc

Khổng Tử là một người yêu nước thương dân sâu nặng. Ông khởi xướng chính trị nhân đức và phản đối chính trị hà khắc. Ông chỉ ra rằng chế độ hà khắc còn ghê hơn cả hổ dữ, một lời đã được ghi lại trong Lễ Ký. Đó là biểu hiện của quan điểm nhân học của ông khoác vào chính trị. Về sau Mạnh Tử phát triển quan điểm này thành vương đạo nhân chính, và nó có ảnh hưởng đáng kể đến xã hội đời sau.

Ông nói:

Chính giả, chính dã. Tử soái dĩ chính, thục cảm bất chính?
(Chính trị là ngay thẳng. Ngài dẫn đầu bằng sự ngay thẳng thì ai dám không ngay thẳng?)

Câu ấy khẳng định rằng người làm vua trước hết phải chính trực. Ông chủ trương tập trung chính quyền, điều có tác dụng tích cực trong tiến trình thống nhất Trung Quốc. Mạnh Tử về sau nêu ý cho thiên hạ định về một mối, nhấn mạnh sự ổn định là yếu tố quan trọng để nước mạnh.

Đức chính mà ông nhấn mạnh có nghĩa là dùng đức để làm chính trị thì mọi việc sẽ vững bền và ổn định, như các vì sao chuyển động xoay quanh chòm Bắc Đẩu:

Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi.

Về chuyện dân, ông nêu hai ý trong Luận Ngữ: đủ ăn, đủ dùng, dân tin vào chính quyền; và dân mà không còn lòng tin thì nước không đứng vững. Nghĩa là không được dân tin thì không thể trụ vững. Ông cũng nhấn mạnh phải làm lợi cho dân bằng chính những điều dân có lợi: lấy cái dân cần mà làm lợi cho họ.

Ông coi trọng dân, giúp dân; ông cũng dẫn lời từ Thượng Thư rằng trời sắp giúp dân. Ông cho rằng muốn dùng đức chính thì phải thượng hiền, tức trọng dụng người hiền tài, nhấn mạnh phải thực hiện nền chính trị của bậc minh quân. Mặc dù chủ trương chính trị này không được tầng lớp cầm quyền của sáu nước mà ông đi du thuyết chấp nhận, ý nghĩa tích cực của nó không vì thế mà mờ đi. Lòng trung quân của ông cũng có điểm còn phải bàn, nhưng điều ấy cho thấy trên dưới phải có trật tự tôn ti rõ ràng thì mới được. Chủ trương lợi dân của ông cũng có liên quan đến cảnh nghèo khó của chính ông, bởi Sử Ký có viết Khổng Tử vốn nghèo và túng.

Trọng đạo người mà không xem nhẹ đạo trời

Ông nhìn thẳng vào việc của con người, nhưng vẫn dành những năm cuối đời cho những quẻ nói về trời đất.

Luận Ngữ chủ yếu giới thiệu tư tưởng nhân đạo của ông; còn hai bộ Dịch truyện và Xuân Thu chủ yếu giới thiệu quan niệm thiên đạo. Theo Sử Ký, thiên Khổng Tử thế gia, và theo thiên Nghệ Văn Chí trong Hán Thư, mười thiên của Dịch truyện đều là tác phẩm của ông. Theo quan niệm xưa, trước tác của một người nhiều khi chỉ là cuốn sách mang tư tưởng hoặc nội dung cơ bản của người ấy, nên không thể nói từng câu từng chữ trong đó đều do ông viết. Nội dung các cuốn kể trên có phần do bảy mươi môn đồ ghi chép lại, có phần là học thuyết do chính ông soạn. Dù thế nào, tư tưởng cơ bản toát ra từ những tác phẩm này cũng là của ông.

Từ những quan điểm thể hiện trong Dịch truyện và Tả truyện, nhiều nhà nghiên cứu đời nay cho rằng ông là người theo lập trường vô thần. Có học giả nhận xét rằng xu hướng mới là mọi người dần hoài nghi cái kết luận xưa nay cho ông là nhà thần luận, và ngày càng có nhiều người tìm hiểu xem có thể khẳng định đến đâu mối liên hệ giữa ông với tư tưởng vô thần. Họ cho rằng ông không phải là nhà thần học, không phải kẻ nửa vô thần, và cũng không thể vừa là nhà thần học vừa là nhà vô thần; ông hoàn toàn là một người vô thần. Dịch truyện là một tác phẩm triết học đồ sộ, lấp lánh những tư tưởng duy vật và phương pháp biện chứng.

Về việc ông chỉnh lý Dịch học những năm cuối đời, Sử Ký của Tư Mã Thiên ghi:

Vi biên tam tuyệt.
(Sợi dây da buộc thẻ tre đứt ba lần.)

Câu ấy ghi lại sự gian khổ khi ông nghiên cứu Dịch. Chính ông cũng tự nhận xét: cho ta thêm năm mươi năm để học Dịch thì sẽ không có sai sót lớn đến vậy. Có thể thấy Dịch truyện là tâm huyết của ông, phản ánh tư tưởng duy vật và vô thần của ông về thiên đạo. Họ lý giải thêm rằng một người tin vào quỷ thần thì khó mà hiếu học và cần mẫn đến thế. Cũng vì ông không tin vào thiên mệnh nên mới dám chống lại thiên mệnh và phấn đấu bền bỉ đến vậy.

Dĩ nhiên, thành tựu ông thu được ở mặt nhân đạo hết sức rực rỡ và nổi trội. Việc coi trọng nhân đạo của ông quyết định việc ông ra sức nhấn mạnh hệ tư tưởng trọng yếu về xã hội. Trên nền tảng ấy ông khẳng định tính tự thân của con người. Như Luận Ngữ có viết:

Bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kỳ thiên hồ!
(Không oán trời, không trách người; học điều thấp mà đạt điều cao; người biết ta chắc chỉ có trời thôi!)

Câu nói ấy khẳng định đầy đủ quan điểm về địa vị và giá trị của con người. Đó cũng là mặt tích cực nơi ông: không tuân theo ý trời một cách thụ động, và dám đấu tranh. Quan niệm của ông về xã hội vô cùng sáng tỏ, và có thể nói ông là một người vô thần.

Công lao lớn với nền văn minh Trung Hoa

Một người nghèo từng bị chê cười đã để lại một công trình mà hơn hai nghìn năm sau còn đang được người ta bàn tới.

Khổng Tử là nhà tư tưởng, nhà chính trị và nhà giáo dục vĩ đại của đất nước Trung Hoa cổ kính. Những cống hiến của ông đối với nền văn minh, văn hóa Trung Hoa là vô tiền khoáng hậu, bao trùm ảnh hưởng trên đất Trung Quốc suốt hai nghìn năm trăm năm. Tư Mã Thiên từng ca ngợi ông là ngọn núi cao ngưỡng vọng, đỉnh cao cho muôn người ngưỡng mộ.

Ông là người đặt nền móng quan trọng cho nền văn hóa truyền thống Trung Quốc. Ông khởi xướng các quy tắc đạo đức luân lý lấy nhân, lễ, trung, hiếu làm trung tâm, ảnh hưởng sâu sắc đến việc tạo dựng tố chất, tính cách của dân tộc Trung Hoa. Ông làm công tác giáo dục văn hóa, tác động tích cực đến việc bồi dưỡng tố chất văn hóa của người Trung Quốc. Ông sáng lập học phái Nho gia, góp công lớn vào sự phát triển văn hóa tư tưởng và việc hun đúc tinh thần dân tộc. Ông chỉnh sửa Lục kinh gồm Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu và Nhạc, góp phần đáng kể vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.

Tóm lại, bốn học phái lớn do ông sáng lập là Dịch học, Khổng học, Nho học và Kinh học đã trở thành những cột trụ vững cho nền văn hóa Trung Quốc. Cùng với các yếu tố văn hóa khác, bốn học phái này tạo nên sức mạnh lớn, giúp chế ngự thứ tôn giáo thần học, chắt lọc văn hóa phương Tây cùng các tư tưởng ngoại lai, và giữ vị trí độc lập cho văn hóa dân tộc. Đặc biệt, tinh thần hòa vi quý và tư tưởng đại nhất thống dựa trên đức Trung Dung của ông có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp thống nhất Trung Quốc, đoàn kết dân tộc và phát triển văn hóa.

Ông cũng là nhà văn hóa lớn của thế giới. Ảnh hưởng của ông sớm vượt khỏi biên giới, lan tỏa tới khắp các nước Đông Nam Á và nhiều nước trên thế giới. Ông là đại biểu kiệt xuất của nền văn minh nhân loại, tài sản tinh thần ông để lại không gì sánh nổi. Trong lịch sử Trung Quốc, vị trí và ảnh hưởng của ông cũng không gì so được. Những gì vượt qua không gian và thời gian thì mang tính chân lý, mà đã là chân lý thì không thể bị hủy diệt. Dù ông sống cách nay hơn hai nghìn năm trăm năm, tư tưởng của ông đến giờ vẫn không lỗi thời. Đặc biệt trong thời đại ham muốn vật chất của con người không ngừng tăng và thế giới tinh thần đối mặt với sự mất cân bằng, rất nhiều điều trong tư tưởng của ông cần được phát huy, vì nó có ý nghĩa sâu sắc đối với việc thống nhất văn minh vật chất với văn minh tinh thần.

Vì sao các phạm trù luân lý của ông tồn tại lâu đến vậy

Có những lời dạy sống được qua nhiều triều đại chỉ vì chúng chạm đúng vào điều người ta cần để sống bên nhau.

Việc Trung Quốc thành một quốc gia cổ đại văn minh nổi tiếng thế giới có phần đóng góp rất lớn của ông. Về những cống hiến ấy, học giả Liễu Di Trưng nhận xét rằng ông là trung tâm của văn hóa Trung Quốc, không có ông thì không thể có văn hóa Trung Quốc; ông đã truyền bá nền văn hóa có trước ông hàng nghìn năm và mở ra nền văn hóa sau ông hàng nghìn năm.

Các nền tảng đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trung, hiếu do ông khởi xướng đã tạo nên hạt nhân trung tâm của hệ thống luân lý Trung Quốc cổ đại. Vì sao các phạm trù ấy tồn tại lâu đến vậy? Có ba lẽ.

Một: đó là những đạo đức căn bản nhất khi người ta sống với nhau

Con người nếu không có nghĩa, nhân, lễ, trung, hiếu thì làm sao chung sống cùng nhau, và như thế khác gì loài cầm thú. Bản tính thiện và ác của con người vốn có sự khác biệt từ trước: Mạnh Tử cho rằng bản tính vốn thiện, còn Tuân Tử cho rằng bản tính vốn ác. Thực tế, người ta vừa có mặt thiện lại vừa có mặt ác, nên cần được chế ngự và cải tạo. Quy luật ngũ hành tương khắc của người xưa chính là sự ràng buộc, chế ngự mang tính tự nhiên áp vào nhân tính. Các quy tắc luân lý của ông là vì con người, có vai trò quan trọng trong việc uốn nắn bản tính cá nhân và xây dựng đời sống cộng đồng.

Hai: giá trị của chúng bền lâu

Tư tưởng của ông mang đậm màu sắc dân tộc nên được đông đảo dân chúng tiếp thu, và đó là nguyên nhân khiến nó in sâu trong lòng nhân dân. Trước kia có người cho rằng tư tưởng của ông chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của tầng lớp cầm quyền, nhưng cách nhìn ấy hết sức phiến diện. Bất cứ tư tưởng nào nếu không đại diện cho lợi ích của nhân dân thì không trụ nổi trước thử thách của lịch sử. Trong lịch sử Trung Quốc, chỉ có tư tưởng Nho gia của ông đứng vững suốt hai nghìn năm trăm năm. Nếu không có nền tảng là nhân dân mà chỉ dựa vào tầng lớp phong kiến thì không thể có kết quả ấy. Điều này chứng tỏ tính nhân dân, tính dân tộc trong tư tưởng Nho gia của ông vô cùng mãnh liệt, và đã làm nên tính bền lâu cho các giá trị luân lý của ông.

Ba: luân lý chính trị của ông mang tính phổ biến

Văn hóa truyền thống của Trung Quốc có yếu tố trung tâm là các phạm trù luân lý, tổng hợp từ ba yếu tố: sự dung hòa, triết học và chính trị. Từ Kinh Dịch đã xuất hiện sự thống nhất của ba yếu tố này. Quan điểm luân lý của ông làm nổi bật vấn đề chính trị. Trong đó, các quan điểm luân lý ở đời có giá trị thực tiễn sâu sắc, đề cao quan niệm giá trị con người, nên được đa số dân chúng tiếp nhận. Những câu như lấy lễ để trị nước, dùng đức làm chính trị như sao Bắc Thần, nhấn mạnh rằng đạo đức nhân lễ không phải vì bản thân mà vì quốc gia, nên được rất nhiều người đồng tình. Quan điểm chính trị của ông đối lập với các ẩn sĩ; nó phù hợp với lợi ích của đại đa số người dân và có tác dụng tích cực đối với sự hưng thịnh của Trung Quốc.

Gộp lại, những tư tưởng luân lý và quan điểm chính trị sâu sắc của ông đã có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài đến việc tạo dựng diện mạo tinh thần, giá trị đời sống và phong thái xã hội của dân tộc Trung Hoa.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện