Bài tổng quan
Lệnh tinh nhập tù, thu sơn xuất sát và cách chia mỗi sơn làm năm vị
Một ngôi nhà vượng nhưng vận chỉ dừng hai mươi năm, trong khi ngôi nhà bên cạnh, chỉ đổi hướng đi một nấc, lại giữ được trăm sáu mươi năm. Chênh lệch ấy do một chữ quyết định: sao bị giam hay không bị giam. Và để chỉnh từng chút khí của sơn, người xưa còn chia mỗi sơn thành năm ô nhỏ.
Khi lệnh tinh nhập trung cung thì bị giam
Khi lệnh tinh của hướng bay vào trung cung, Huyền Không gọi đó là bị tù, bị giam. Nhà ở hay mồ mả, hai loại trạch âm dương đã gặp tù thì suy bại. Nhưng Thẩm Trúc Nhưng chỉ ra rằng tù cũng có hai trường hợp: tù mà còn đường đi ("đắc vãng") và tù mà bế tắc ("bất vãng").
Ông lấy vận 1 lập hướng Tuất làm ví dụ. Sao Nhị đến hướng, đến vận Nhị Hắc, tức vận 2, là bị tù. Nhưng điều quan trọng là: nếu phương Khôn của dương trạch có cửa và đường đi, hoặc phương Khôn của âm trạch có nước, thì không bị tù, vì Khôn chính là nơi Ngũ Hoàng đến (nói về phi tinh Ngũ Hoàng ở hướng). Các trường hợp khác suy tương tự. Chỉ riêng Ngũ Hoàng nhập trung cung thì không bao giờ bị tù: Ngũ Hoàng ở trung ương, thuộc thổ, giữ địa vị chí tôn, là hoàng cực, sao có thể bị giam?
Từ đó ông đưa ra một cách đo tuổi thọ của đất. Với một mảnh đất nhỏ khớp đáo sơn đáo hướng, có thể biết vận của nó dài hay ngắn ngay ở hướng. Chẳng hạn vận 1 lập hướng Tuất, vận dừng lại hai mươi năm, đó là tiểu tam nguyên. Nếu đất trung cát, được hai cung tả hữu thành môn của tám hướng cùng đến thì có thể được 180 năm. Nếu là vùng đất lớn có mạch đến miên trường, lại được sinh thành hợp thập thì có thể được 540 năm. Nhiều hơn nữa thì được 1080 năm, đó là đại tam nguyên.
Chí Y giải thích rằng tuổi vận của đất do việc hướng tinh bị tù quyết định, rồi kể từng nhóm:
- Tốn Kiền, Tỵ Hợi của vận 2 và 8; Thìn Tuất của vận 3, 5, 7: đều vượng nhưng vận chỉ dừng 20 năm. Đổi lại thành Kiền Tốn, Hợi Tỵ, Tuất Thìn thì được 160 năm.
- Mão Dậu, Ất Tân của vận 3, 5, 7; Giáp Canh của vận 4, 6: đều vượng nhưng vận dừng 40 năm. Đổi lại thành Dậu Mão, Tân Ất, Canh Giáp thì được 140 năm.
- Khôn Cấn, Thân Dần của vận 4, 6; Sửu Mùi của vận 2, 5: đều vượng nhưng vận dừng 60 năm. Đổi lại thành Cấn Khôn, Dần Thân, Sửu Mùi thì được 120 năm.
- Tý Ngọ, Quý Đinh của vận 5: đều vượng nhưng vận dừng 80 năm. Đổi lại thành Ngọ Tý, Đinh Quý thì được 100 năm.
- Riêng Nhâm Bính là không có vận vượng; nhưng hướng Bính được 80 năm, hướng Nhâm được 100 năm.
Ông gọi đó là bản khái quát về niên vận của tiểu tam nguyên.
Bạch Hạc Minh nói thêm cách xét: độ dài ngắn của địa vận lấy lệnh tinh của hướng nhập trung cung làm chuẩn, gọi là nhập tù. Ví dụ vận 1 sơn Tý hướng Ngọ có lệnh tinh ở hướng là Ngũ; đến vận 5, sao Ngũ ở hướng nhập trung cung, tức là nhập tù.
Có một câu trong kinh khiến người ta chiêm nghiệm mãi mà vẫn thấy nặng nề: bốn chữ "thu sơn xuất sát".
Thu sơn xuất sát gói trong một câu của kinh
Có người hỏi: chương cuối của Thiên Ngọc kinh có hai câu "Cánh hữu thu sơn xuất sát quyết, diệc kiêm vi nhữ thuyết". Càng nghiền ngẫm càng thấy bốn chữ "thu sơn xuất sát" trịnh trọng, nhưng chú giải của họ Tưởng, họ Chương đều không đụng đến. Rốt cuộc lý của nó là gì?
Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng hai câu này chỉ có họ Ôn mới vạch được lý lẽ. Thật ra người thấu triệt rõ ràng từ đầu đến cuối vẫn là chú giải của họ Tưởng và lời giải của họ Chương; họ Ôn chỉ đọc hiểu được. Toàn bộ lý lẽ nằm trong câu của Thiên Bảo Chiếu kinh:
Thiên cơ diệu quyết bản bất đồng, bát quái chỉ hữu nhất quái thông.
Nghĩa là bí quyết kỳ diệu của thiên cơ vốn chẳng giống nhau, trong tám quẻ chỉ cần thông suốt một quẻ thì mọi sự đều thông. Chỉ một chương ấy đã nói ra yếu lý quan trọng nhất của bí quyết thu sơn xuất sát, người học đọc qua tự khắc hiểu. Chẳng qua lời chú giải quá sơ lược, vì chú giả hiểu lầm câu "thiên cơ bất khả tiết lậu".
Bạch Hạc Minh nhận xét: chỉ một đoạn ngắn mà đã giảng tường tận trọn chương "thu sơn xuất sát".
Cái kim giữa la bàn và những vạch nhỏ quanh nó là chỗ mọi lý lẽ trên giấy thành việc làm cụ thể.
La bàn: cây kim chỉ nam đã được Dịch hóa
Có người hỏi: lúc nào thì phân kim không dùng quẻ hậu thiên? Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng sáu mươi bốn quẻ hậu thiên của Văn Vương không làm sáng cái "thể", địa vị của nó là ở cái "dụng". Vì thế khi đại thể đã lập xong thì không dùng phương vị hậu thiên nữa, có vậy việc phân kim mới tinh vi.
Người hỏi tiếp: khi phân kim dùng năm vị Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Thìn, Giáp Dần thì phép tắc thế nào? Ông đáp: đó là cách nạp âm. Mỗi hào đều chứa ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; thiếu thì bổ cứu, thừa thì tiết giảm, đối chiếu với sáu mươi bốn quẻ tiên thiên, miễn sao không bị phản đối là được. Trương Tâm Ngôn từng nói về sáu mươi bốn quẻ, họ Tưởng không hé một chữ. Ông Thẩm thừa nhận lời họ Trương đúng ở chỗ chỉ dùng sáu mươi bốn quẻ để phân kim khi táng và xem giao hay không giao. Tóm lại, phép phân kim đúng cách là dùng sáu mươi bốn quẻ phối với vận tinh để tìm cuộc không phản ngâm phục ngâm, thế là tận thiện.
Lại có người hỏi về hai hình đồ phương viên mà Trương Tâm Ngôn chép trong "Biện Chính Sớ", nói rằng họ Thiệu đã học thuật này từ Trần Hy Di. Ông đáp: theo "Lục kinh đồ", quả có hình đồ ghi do Thiệu Ung vẽ, nhưng chẳng giống chút nào với hình đồ họ Trương chép. Họ Trương nói họ Thiệu nhận từ Trần Hy Di là vì không biết bản "Lục kinh đồ". Hình đồ ấy chính là hình dùng để phân kim.
Chí Y cho biết thêm về phép phân kim lúc về già của thầy. Trong "Tâm nhãn chỉ yếu" của Chương Trọng Sơn có chép hình đồ bàn tinh hai mươi bốn sơn của họ Tưởng, dưới mỗi sơn chia làm hai cách và ghi rõ Giáp Tý. Thầy thì chia làm năm cách: ba cách bên phải, bên trái và ở giữa không có chữ, hai bên giữa các cách mới liệt kê Giáp Tý. Thật ra ba cách không có chữ đã ngầm chứa Giáp Tý, chỉ là thầy giản lược. Với hai nguyên thiên và nhân kiêm hướng thì phạm vi phân kim khá rộng. Duy phân kim địa nguyên là khó nhất: dùng chữ bên phải thì phạm xuất quái, dùng chữ bên trái thì phạm âm dương pha tạp. Chỗ không có chữ chính là để tránh hai tệ ấy. Các thầy địa lý tầm thường không hiểu, tưởng chỗ không chữ là "không vong" nên bỏ không dùng, thật là sai lầm.
Bạch Hạc Minh giảng về la bàn. Muốn tọa sơn lập hướng để đoán trạch thì phải dùng la bàn, tức la kinh, là cây kim chỉ nam đã được Dịch lý hóa. La bàn phong thủy xuất hiện sớm nhất có lẽ do Dương Quân Tùng đời Đường chế tạo; cuối đời Minh Tưởng Đại Hồng cải tiến thêm, người sau gọi là Tưởng bàn. La bàn có loại lớn loại nhỏ, tùy phái hệ mà số vòng nhiều ít. Về cách dùng chia thành la bàn tổng hợp và la bàn chuyên dụng; về phái hệ chia thành la bàn Tam Nguyên và la bàn Tam Hợp. Về sau có người gom các loại thành la bàn Vi Dịch Đồng Tham.
Tác dụng cơ bản của la bàn là xác định tọa độ phương vị của vật thể. Kim từ trong bàn luôn chỉ Nam – Bắc; chỗ lõm tròn nhỏ ở giữa nơi kim hoạt động gọi là thiên trì, có một đường chỉ đỏ chia thiên trì làm hai nửa bằng nhau, một đầu cố định ở phương bắc nên còn gọi là đường Tý – Ngọ. Bàn chia hai phần có thể xoay; phần ngoài hình vuông có hai đường chỉ đỏ cố định giao nhau thẳng góc. Khi phần tròn bên trong xoay, hai đường cố định ấy đứng yên; các chữ mà đường giao nhau đè lên chính là số liệu cần dùng. Lấy hai mươi bốn sơn làm ví dụ, nếu đường giao nhau đè lên Nhâm Bính hoặc Canh Giáp thì phương cần tìm là sơn Nhâm hướng Bính, sơn Bính hướng Nhâm, sơn Giáp hướng Canh hoặc sơn Canh hướng Giáp.
Hậu thiên bát quái chia thành hai mươi bốn sơn, mỗi quẻ gồm ba sơn, có hai loại tuyến: tuyến lập được trạch và tuyến không lập được. Tuyến lập được lại gồm chính hướng và kiêm hướng. Chính hướng là đường thẳng đè đúng giữa một chữ, để chọn khí của quẻ sơn và hướng thuần thanh. Kiêm hướng là lệch sang trái hay phải; lệch từ ba độ trở lên thì không còn là quẻ thuần, xuất hiện khuyết điểm kiêm quẻ, kiêm hướng. Lệch ra ngoài quẻ là sai "hướng xuất quái"; lệch vào trong quẻ là sai khí âm dương lẫn lộn. Gặp những sai ấy phải dùng phép quẻ thế để bài lại tinh bàn mà bổ cứu.
Tuyến không lập được, nói đơn giản là các đường giao nhau của quẻ với quẻ, hướng với hướng. Đè lên đường giao của quẻ với quẻ là đại không vong, chủ đại hung, hao người tốn của rất nặng. Đè lên đường giao của sơn với sơn là tiểu không vong, dẫn đến hung sát, người không yên, gia vận bất ổn. Đè lên đường giao của phân kim là ngũ hành lẫn lộn, sinh khí sát, hao tài, người nhà ốm đau. Cách lập tuyến đúng phép gọi là "hợp tuyến pháp", không những hợp với lý của tinh bàn mà còn hợp với hoàn cảnh quanh nhà (Loan Đầu). Nếu hoàn cảnh sinh ra kiêm quẻ, kiêm hướng thì phải khởi tinh, lập bàn quẻ thế để lý khí và hình thế thống nhất. Nếu địa hình rơi vào vị trí "không vong" thì đành bỏ cuộc đất ấy để tránh họa.
Từ cái kim và những vạch chia, câu chuyện chuyển sang hai lỗi mà phái Tam Hợp hay mắc, và cách chia nhỏ mỗi sơn để vá chúng.
Phân kim: chia mỗi sơn làm năm vị để cân bằng ngũ hành
Bạch Hạc Minh nêu hai sai lầm nghiêm trọng của phái Tam Hợp. Một là lập hướng, chọn nước phạm khí hỗn tạp, nếu không xuất quái thì cũng âm dương sai lệch. Ví dụ lập sơn Tý hướng Ngọ, tọa sơn chọn Tý thì họ chọn nước ở Thìn và Thân. Họ đâu biết Tý là thiên nguyên long, Thìn là địa nguyên long, Thân là nhân nguyên long: khí ba nguyên lẫn lộn chứ không phải một khí đồng nguyên. Hai là gặp lúc phải kiêm tuyến hay kiêm quẻ thì kiêm ra ngoài tất xuất quái, kiêm vào trong tất khí âm dương khác biệt, nên phần lớn là quẻ sai, gây họa cho người hao tài tốn của. Nhà nào không bị phá tài tổn đinh là nhờ chủ nhân tích nhiều ân đức, có phúc mệnh lớn, hoặc Loan Đầu sơn thủy hoàn mỹ mà cứu được sai lầm của việc lập hướng.
Điều cốt lõi của lập hướng là âm dương phải đồng nguyên, khí phải thống nhất. Ngoài việc đúng phép, tọa sơn lập hướng còn phải dùng phân kim: quá vượng thì tiết giảm, quá suy thì bổ cứu. Gọi là phân kim vì mỗi sơn chia làm năm ô, mang khí ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ theo nạp âm. Ví dụ sơn Tý có Giáp Tý (kim), Bính Tý (thủy), Mậu Tý (hỏa), Canh Tý (thổ), Nhâm Tý (mộc); sơn Sửu có Ất Sửu (kim), Đinh Sửu (thủy), Kỷ Sửu (hỏa), Tân Sửu (thổ), Quý Sửu (mộc); các sơn khác cũng chia như vậy.
Cách phân kim lưu hành rộng rãi chia thành mười hai sơn chính vị trên la bàn: Nhâm, Quý, Cấn, Giáp, Ất, Tốn, Bính, Đinh, Khôn, Canh, Tân, Kiền. Đặc điểm là dựa theo khoảng ba mươi độ mà mười hai chính vị chiếm để chia thành "ngũ tử", mỗi vị năm độ; ngoài năm vị ấy, hai bên chừa mỗi bên chín độ rưỡi làm "chính vị", mỗi vòng có mười hai chính vị. Cách chia này có khuyết điểm. Một là độ rộng mỗi vị quá lớn. Hai là trong mười hai nhóm, thực ra mỗi nhóm chỉ chiếm ba vị, còn hai vị trái phải thì "xuất quái" hoặc "xuất sơn". Chẳng hạn sơn Tý thực chiếm ba vị Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, còn Giáp Tý sang sơn Nhâm, Nhâm Tý sang sơn Quý, đó là sai "xuất sơn". Lại như sơn Sửu là địa nguyên long, vị bên phải là Ất Sửu phạm xuất quái, sang sơn Quý (nhân nguyên long) thì phạm khí hỗn tạp.
Cuối đời Thanh, Thẩm Trúc Nhưng, người Tiền Đường, đính chính lại cách phân kim của Tưởng bàn. Mỗi sơn vẫn giữ năm vị nhưng mỗi vị thu hẹp còn ba độ, bỏ "chính vị". Như vậy cả hai mươi bốn sơn đều có năm vị phân kim, tránh được xuất quái và xuất sơn. Cụ thể:
- Sơn Tý và sơn Quý: Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý.
- Sơn Sửu và sơn Cấn: Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quý Sửu.
- Sơn Dần và sơn Giáp: Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần.
- Sơn Mão và sơn Ất: Ất Mão, Đinh Mão, Kỷ Mão, Tân Mão, Quý Mão.
- Sơn Thìn và sơn Tốn: Giáp Thìn, Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm Thìn.
- Sơn Tỵ và sơn Bính: Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Quý Tỵ.
- Sơn Ngọ và sơn Đinh: Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ.
- Sơn Mùi và sơn Khôn: Ất Mùi, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Tân Mùi, Quý Mùi.
- Sơn Thân và sơn Canh: Giáp Thân, Bính Thân, Mậu Thân, Canh Thân, Nhâm Thân.
- Sơn Dậu và sơn Tân: Ất Dậu, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Tân Dậu, Quý Dậu.
- Sơn Tuất và sơn Kiền: Giáp Tuất, Bính Tuất, Mậu Tuất, Canh Tuất, Nhâm Tuất.
- Sơn Hợi và sơn Nhâm: Ất Hợi, Đinh Hợi, Kỷ Hợi, Tân Hợi, Quý Hợi.
Nguyên tắc dùng phân kim là vượng thì tiết giảm, suy thì bổ cứu, tránh hung theo cát: tránh tương khắc (khắc ra là tiết), theo cát (sinh vào, ngang hòa là cát; sinh ra là tiết). Tóm lại phải vận dụng linh hoạt. Ví dụ minh họa: vận 4 sơn Kiền hướng Tốn. Sơn Kiền thuộc dương, Ngũ đáo Kiền, quẻ Tốn là Tứ thay cho Kiền. Nguyên đán bàn, tức địa bàn chính châm, của sơn Kiền có Giáp Tuất hỏa, Bính Tuất thổ, Mậu Tuất mộc, Canh Tuất kim, Nhâm Tuất thủy. Nay cung Ngũ ở Tứ, Tứ là quẻ Tốn thuộc mộc, đem năm hạng nạp âm này luận sinh khắc với mộc thì được:
- Dùng Giáp Tuất hỏa: mộc sinh hỏa, khí của "thể" bị tiết ra quá nhiều nên luận không cát lợi.
- Dùng Bính Tuất thổ: mộc khắc thổ, khí của "thể" cũng hao tổn.
- Dùng Mậu Tuất mộc: tỷ hòa nên luận cát lợi.
- Dùng Canh Tuất kim: kim khắc mộc, khí của "thể" bị khắc, sát khí quá nặng nên luận hung.
- Dùng Nhâm Tuất thủy: thủy sinh mộc, khí của "thể" được sinh nhiều nên luận cát lợi.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
