Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Thái Tuế, Thiên Đức, Nguyệt Đức và lẽ chọn ngày theo khí của quẻ

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202612 phút đọc0 lượt đọc
Thái Tuế, Thiên Đức, Nguyệt Đức và lẽ chọn ngày theo khí của quẻ

Một vị quan nghe nói thầy phái Huyền Không chẳng sợ Thái Tuế, chẳng sợ tam sát, bèn đến hỏi vì sao. Câu trả lời đi từ vị trí của Thái Tuế trên địa bàn đến cách đếm Thiên Đức, Nguyệt Đức từng tháng. Và nó dừng lại ở hai chữ mà người đời hay bỏ quên: khí và số.


Vì sao phái Huyền Không không sợ tam sát và Thái Tuế

Có người hỏi Thẩm Trúc Nhưng: họ Tưởng không giảng chuyện tam sát, Thái Tuế, vậy những điều ấy thì sao? Ông dẫn "Thiên nguyên ngũ ca":

Hồn thiên bảo chiếu hầu thiên tinh, thử thị Dương công khẩu quyết; bất phạ tam sát Thái Tuế thần, Âm Phù, Không Vong tận mạt sát.

Đại ý: Hồn Thiên, Bảo Chiếu, Hầu Thiên là khẩu quyết của Dương công; không sợ tam sát và thần Thái Tuế, các sát như Âm Phù, Không Vong đều quét sạch. Có bản chép chữ "Âm Phù" khác đi, và bản của họ Vu trong "Địa Lý lục yếu" chép câu thứ ba là "bất phạ tam sát đô thiên". Lại có hai câu khác:

Ngũ hành câu thị dương trung khí, thần sát chỉ hà tằng biệt hữu danh; chỉ tương nhật nguyệt ty nguyên hóa, vạn tượng sâm la tại chưởng tâm.

Năm hành đều là khí trong dương, thần sát nào cũng chỉ là những cái tên riêng; mặc nhật nguyệt đổi dời, muôn tượng bao la vẫn nằm trong lòng bàn tay.

Ông giải rằng đó là vì họ Tưởng vốn không sợ thần sát. Họ Tưởng cho rằng chỉ cần theo Huyền Không: năm nào Ngũ Hoàng nhập trung cung thì kỵ tu tạo nhà cửa mồ mả. Nhưng Ngũ Hoàng này không phải Ngũ Hoàng cứng nhắc. Chẳng hạn sơn Cửu Tử là Bính Ngọ Đinh, cung đối là hướng Nhất Bạch Nhâm Tý Quý; lấy Nhất Bạch nhập trung cung của năm thì Ngũ Hoàng đến chỗ tọa. Ngược lại sơn Nhâm Tý Quý, cung đối là hướng Bính Ngọ Đinh; lấy Cửu Tử nhập trung cung của năm thì Ngũ Hoàng cũng đến chỗ tọa. Các trường hợp còn lại suy theo.

Tóm lại phái Huyền Không coi vận tinh là trọng, xem nhẹ thần sát. Thái Tuế không thể phạm vào cửa ải của ai tinh, nghiệm chứng như thần. Phép tắc là lấy địa bàn nguyên đán đối chiếu với thiên bàn chuyển đến mà luận. Vị trí cố định của Thái Tuế trên địa bàn như sau:

  • Năm Tý, Thái Tuế ở Khảm.
  • Năm Sửu và Dần, Thái Tuế ở Cấn.
  • Năm Mão, Thái Tuế ở Chấn.
  • Năm Thìn và Tỵ, Thái Tuế ở Tốn.
  • Năm Ngọ, Thái Tuế ở Ly.
  • Năm Mùi và Thân, Thái Tuế ở Khôn.
  • Năm Dậu, Thái Tuế ở Đoài.
  • Năm Tuất và Hợi, Thái Tuế ở Kiền.

Còn việc Thái Tuế gia lâm thì xét thế này: ví dụ năm Dậu, Thái Tuế chiếm Đoài, mà niên tinh Ngũ Hoàng nhập trung cung lại đưa Thất Xích đến Đoài; như vậy Đoài vừa là đất của niên bàn vừa là chỗ Thái Tuế cùng đến, nếu tu tạo nhà hay mồ mả thì phạm đại hung. Các trường hợp khác suy tương tự. Bạch Hạc Minh giải thích: năm Dậu, sao Thất Xích là phi tinh của Thái Tuế, vì địa bàn của Thất Xích là Canh Dậu Tân, bên trong tàng chứa Dậu.

Người hỏi tiếp muốn biết họ Tưởng nói gì trong "Thiên nguyên ngũ ca tuyển trạch" ở quyển nhất. Ông đáp: một lời khái quát là vận Tử Bạch, tháng Tử Bạch, ngày Tử Bạch, giờ Tử Bạch thì vật vật đều là thái cực mà thôi. Hiểu lý ấy thì đọc hiểu được cả bộ.

Nếu Thái Tuế chẳng có chỗ đứng trong phép này, thì hai ngôi sao "đức" mà lịch thư hay nhắc đến cũng cần được hỏi tới nguồn gốc.

Thiên Đức và Nguyệt Đức: khí của tứ duy xoay chuyển

Có người hỏi: xếp Thiên Đức, Nguyệt Đức vào "bàn" có lý lẽ gì không? Ông đáp là chẳng liên quan. Hán thư khi nói về các nhà kham dư, không phải nói người theo phái hình thế mà nói người theo phái tuyển trạch, tức thuật chọn nhà cát. Ông ngờ rằng thời Hán các nhà kham dư chọn nhà chỉ dùng hình đồ Tử Bạch, còn nay do noi theo cách chọn ngày trong lịch thư nên việc chọn nhà mới gắn mật thiết với Thiên Nguyệt Đức như vậy.

Về Thiên Đức: vòng chu thiên có 365 độ 25 phân; trừ mười hai cung phân dã, mỗi cung 30 độ, cộng là 360 độ, còn 5 độ 25 phân tản vào mười hai cung phụ. Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Ất, Tân, Đinh, Quý, Kiền, Khôn, Cấn, Tốn, bên trong gọi là giấu thần chôn sát, mỗi cung giữ 44 phân. Cụ thể Giáp ở Mão (trong Mão có Giáp), Canh ở Dậu, Bính ở Ngọ, Nhâm ở Tý, Đinh ở Mùi, Quý ở Sửu, Ất ở Thìn, Tân ở Tuất, Kiền ở Hợi, Khôn ở Thân, Cấn ở Dần, Tốn ở Tỵ, tất cả đều là Thiên Đức. Vì Thiên Đức là đức của dương nên tháng giêng khởi từ Hợi và đi thuận, tức đứng trước thần của quẻ Kiền một vị: tháng hai là Tý, tháng ba Sửu, tháng tư Dần, tháng năm Mão, tháng sáu Thìn, tháng bảy Tỵ, tháng tám Ngọ, tháng chín Mùi, tháng mười Thân, tháng mười một Dậu, tháng mười hai Tuất.

Nguyệt Đức là đức của âm, là thần chỗ nhật nguyệt hội hợp. Vì thế tháng giêng khởi từ Mùi và đi thuận, tức đứng sau thần của quẻ Khôn một vị: tháng hai Thân, tháng ba Dậu, tháng tư Tuất, tháng năm Hợi, tháng sáu Tý, tháng bảy Sửu, tháng tám Dần, tháng chín Mão, tháng mười Thìn, tháng mười một Tỵ, tháng mười hai Ngọ.

Ông nhận xét: nay người bàn Tam Hợp đều dùng những thứ này mà không biết căn do. Khí lưu hành trong trời đất, mỗi vận vốn khác nhau, nên các nhà kham dư theo Tam Hợp khó tránh câu nệ, chẳng biết biến thông khi cứ cố chấp theo thuyết thần sát.

Có người hỏi: sách "Khâm định" lập thành phương vị để tu tạo nhà cửa mồ mả thì sao? Ông đáp: sách này do Khâm thiên giám soạn và phát hành mỗi năm, đến sau năm Quang Tự thứ 25 thì ngừng. Nói chung nó chọn lọc từ "Hiệp kỷ biện phương thư", rồi biên soạn lại gọn cho dễ hiểu. Bạch Hạc Minh ghi rằng "Hiệp kỷ biện phương thư" là một bộ trứ danh về chọn ngày.

Thẩm Trúc Nhưng kể thêm: mùa hạ năm Bính Ngọ, có người bạn mang "Tuyển trạch biện chính" tặng ông, do Tạ Khanh Cù ở Tư Trung soạn, tổng cộng tám quyển. Như các bộ "Thiên nguyên ca", "Thiên tinh bí cùng", "Hồn thiên bảo chiếu nhật tri lục", thảy đều là bản lưu hành thông dụng, chỉ thêm rối mắt chứ chẳng có gì mới. Các sách ấy dùng để chọn ngày chỉ áp dụng được cho việc gả cưới; còn chọn ngày táng thì phải cẩn trọng hơn. Nếu theo cách ấy thì chi bằng dùng phép cửu tinh của Huyền Không.

Còn một chữ nữa người đời hay nhắc đến cùng với các "đức": chữ Lộc.

Chữ Lộc và chuyện Mậu, Kỷ phụ vào Bính, Đinh

Có người hỏi "Lộc" có hữu dụng không. Ông đáp: Thủy pháp của Tư Mã Đầu Đà nói Lộc là bí quyết thành môn; Thiên Ngọc kinh nói hợp Lộc, hợp Mã, hợp Quan tinh, liên quan tới việc vận dụng trong chọn ngày. Nhưng ông cho chữ Lộc còn nghi vấn. Mọi thần sát đều đến từ tứ duy Kiền, Tốn, Khôn, Cấn; còn chữ đầu của tám can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý đều là Lộc. Vì thế Giáp thì Lộc ở Dần, Ất Lộc ở Mão, Bính Lộc ở Tỵ, Đinh Lộc ở Ngọ, Canh Lộc ở Thân, Tân Lộc ở Dậu, Nhâm Lộc ở Hợi, Quý Lộc ở Tý, là đúng. Còn Kiền ứng với Tuất, Tốn với Thìn, Cấn với Sửu, Khôn với Mùi, vì tứ duy không có can nên không lấy Lộc để gọi. Nhưng Mậu Kỷ cũng không có vị trí cố định, giống tứ duy, vậy làm sao cho Mậu phụ vào Bính, Kỷ phụ vào Đinh? Điều vô lý này ông chưa giải quyết được.

Người hỏi lại nhờ giải nghĩa "Mậu phụ Bính, Kỷ phụ Đinh". Ông đáp: nay tục cho rằng Mậu Lộc ở Tỵ, Kỷ Lộc ở Ngọ, giống Lộc của Bính Đinh. Kỷ ở Ngọ còn hợp với lý của quẻ, nên có thể miễn cưỡng gắn vào: Kiền tiên thiên là Ly hậu thiên, hào giữa biến thành Kỷ thổ; như vậy Kỷ phụ vào Đinh thông được. Còn Mậu Lộc ở Tỵ thì ông nghĩ đi nghĩ lại vẫn chưa hiểu căn do: Khôn tiên thiên là Khảm hậu thiên, hào giữa biến là Mậu thổ, sao có thể gán cho cung Tốn lấy Tỵ làm Lộc?

Lý Canh Bá hỏi: sách "Thời hiến" chép Thiên Đức như sau: tháng giêng ở Đinh, tháng hai ở Khôn, tháng ba ở Nhâm, tháng tư ở Tân, tháng năm ở Kiền, tháng sáu ở Giáp, tháng bảy ở Quý, tháng tám ở Cấn, tháng chín ở Bính, tháng mười ở Ất, tháng mười một ở Nhâm, tháng mười hai ở Canh; theo tiên sinh thuyết này có đúng không? Ông đáp: khởi nguyên của Thiên Nguyệt Đức do sự xoay chuyển của tứ duy Kiền Tốn Khôn Cấn, những điều "Thời hiến" chép đều dùng được. Rồi ông chứng minh bằng từng tháng:

  • Tháng giêng Thiên Đức sinh ở Hợi. Đối cung nhân nguyên của Hợi là Tỵ; Tỵ thuộc quẻ Tốn; Tốn là láng giềng của Ly; nhân nguyên của Ly là Đinh, chữ Đinh ấy chính là Thiên Đức.
  • Tháng hai Thiên Đức sinh ở Tý. Đối cung thiên nguyên của Tý là Ngọ; Ngọ thuộc quẻ Ly; Ly là láng giềng của Khôn; thiên nguyên của Khôn là Khôn, chữ Khôn ấy là Thiên Đức.
  • Tháng ba là Sửu, thuộc địa nguyên và là kho (khố) nên không tìm ở đối cung, vì đối cung Mùi cũng là kho; thay vào đó lấy quẻ địa nguyên láng giềng của bản cung làm Thiên Đức. Đi nghịch thì láng giềng là quẻ Khảm, địa nguyên của Khảm là Nhâm, chữ Nhâm ấy là Thiên Đức.

Các tháng còn lại cứ thế suy ra. Thiên Đức hợp với nhau: tháng giêng ở Đinh, Đinh Nhâm hợp; tháng hai ở Khôn, Khôn là tứ duy nên không hợp (phàm tứ duy đều không hợp); tháng ba ở Nhâm, hợp với Đinh.

Với Nguyệt Đức, các tháng giêng, năm, chín ở Bính. Tháng giêng là Mùi; địa nguyên Mùi đi nghịch tới Ly, địa nguyên của Ly là Bính, nên Bính là Nguyệt Đức. Tháng năm là Hợi; Hợi thuộc nhân nguyên của Kiền, đối cung là Tỵ thuộc quẻ Tốn, láng giềng của Tốn là Ly, nên lấy chữ Bính của quẻ Ly làm Nguyệt Đức. Tháng chín là Mão, thuộc cuộc tứ vượng; phương vượng gần nó nhất là Ngọ, đứng trước Ngọ một chữ là Bính, chữ Bính ấy là Nguyệt Đức. Trên là cuộc Hợi Mão Mùi; các cuộc Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất cũng suy ra như vậy. Người đời thường bỏ tứ duy mà tìm theo khởi lệ nên khó phối hợp, ngay cả việc phối Nguyệt Đức, như Bính phối Tân, là đúng. Nguyệt "không" là vùng đất đối của Nguyệt Đức.

Phàm gặp cuộc tứ sinh, tứ vượng thì lấy chữ bên phải của cung đối bản vị làm Thiên Đức: tháng giêng đối cung của Tý là Ngọ, bên phải Ngọ là Đinh, Đinh là Thiên Đức. Tháng tứ mộ thì lấy chữ thứ tư từ bản vị đi nghịch làm Thiên Đức: tháng ba Sửu thì Thiên Đức ở Nhâm là đúng. Phép bài Nguyệt Đức tứ mộ và tứ sinh giống Thiên Đức; chỉ tháng tứ vượng, như tháng sáu, từ Tý tới Mão, chữ Giáp kế bên Mão là Nguyệt Đức.

Sau cùng, một người từng tin tuyệt đối vào phép cũ đã đến hỏi vì sao một người tiếng tăm lại bỏ hẳn các phép thiên văn quen dùng.

Giáp Tý khởi trong quái khí: vì sao bỏ Thất Chính Tứ Dư

Người ấy kể: năm xưa tôi lấy "Thiên nguyên ca" của họ Cam làm căn cứ, mọi việc đều quy vào đó, rất tin, không chút nghi ngờ. Về sau xem nhà không ứng nghiệm, cho đến khi theo hai ông họ Hồng và họ La du lịch đất Mân Việt mới có điều khác. Hôm qua hỏi thăm mới biết tiên sinh lấy quái khí làm chính; tiếng tăm sở học của tiên sinh vang khắp nước mà các phép Thất Chính và Tứ Dư đều bỏ hết, tôi không hiểu vì sao, xin thỉnh giáo.

Ông đáp: túc hạ là người chịu khó nghiên cứu, ông cũng vậy. Gần đây ông đọc thư tịch Dịch Vỹ, xem hình đồ, nửa câu "Giáp Tý khởi lên trong quái khí" khiến ông bắt đầu ngộ ra rằng bậc thánh nhân làm lịch là căn cứ vào quái khí. Chẳng hạn quẻ Phục là tháng mười hai thì nay không còn ai biết; còn việc mỗi ngày ứng một hào thì số người biết cũng rất ít. Vì thế các thuật sĩ lấy thần sát để mê hoặc người. Lý trong thiên hạ không ngoài việc hiểu cho tận hai chữ "khí" và "số": khí quan trọng nhất rồi mới đến số; hiểu được khí thì hiểu được số.

Ví như một người có số sắp chết, nếu người ấy làm việc phúc thì có thể tránh kiếp nạn. Vì khi khí của người ấy lấp đầy khoảng trời đất thì số cũng theo đó mà đổi. Cũng vậy, thiên tinh Thất Chính Tứ Dư là "số", dùng quái tượng là "khí". Hơn nữa, trong tám loại Dịch Vỹ đã nói hết phép tắc chọn ngày, sao không dùng mà còn bày vẽ quanh co? Phép suy diễn của thánh nhân đều lấy Dịch làm gốc; xét sách "Đại diễn" của Đường Nhất Hạnh cũng thấy ông suy diễn từ Dịch. Nghiên cứu thiên văn của người phương Tây cũng tương thông với Dịch, căn do không quá kỷ niên, ngay cả độ thiên văn cũng chỉ sai biệt chút ít. Cho nên khi ứng dụng vào bốc táng thì không còn gì phải nghi ngờ.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia