Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Bốn mươi tám cuộc, đáo sơn đáo hướng và nỗi sợ thướng sơn há thủy

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc0 lượt đọc
Bốn mươi tám cuộc, đáo sơn đáo hướng và nỗi sợ thướng sơn há thủy

Có người đếm hai mươi bốn sơn rồi nhân đôi lên thành bốn mươi tám cuộc, và Thẩm Trúc Nhưng bảo con số ấy sai ngay từ gốc. Ông đếm theo một cách khác hẳn, bằng những ngôi sao chỉ bay đúng chỗ ở bảy vận. Vậy con số thật nằm ở đâu, và vì sao chỉ riêng một vận lại có tới mười hai cuộc?


Bốn mươi tám cuộc được đếm từ đâu

Thẩm Trúc Nhưng mở đầu bằng việc gạt bỏ một cách hiểu quen thuộc. Người ta thường nghĩ hai mươi bốn sơn chia ra thuận và nghịch, cộng lại thành bốn mươi tám cuộc. Theo ông, giải thích như vậy sai ngay từ gốc, và lời chú giải đoạn "Bảo Chiếu Thiên Nguyên" đã chỉ ra chỗ sai ấy rồi.

Con số bốn mươi tám thật ra được đếm theo một cách khác. Trong ba nguyên, từ vận 2 đến vận 8, có những cuộc mà về sơn thì vượng tinh bay tới sơn, về hướng thì vượng tinh bay tới hướng. Gom hết các cuộc ấy lại thì được bốn mươi tám. Ông kê ra từng nhóm:

  • Hai vận 2 và 8 có sáu cuộc: Kiền Tốn, Tốn Kiền, Tỵ Hợi, Hợi Tỵ, Sửu Mùi, Mùi Sửu.
  • Hai vận 3 và 7 có sáu cuộc: Thìn Tuất, Tuất Thìn, Mão Dậu, Dậu Mão, Ất Tân, Tân Ất.
  • Hai vận 4 và 6 có sáu cuộc: Giáp Canh, Canh Giáp, Cấn Khôn, Khôn Cấn, Dần Thân, Thân Dần.
  • Riêng vận 5 có mười hai cuộc: Tý Ngọ, Ngọ Tý, Quý Đinh, Đinh Quý, Mão Dậu, Dậu Mão, Ất Tân, Tân Ất, Thìn Tuất, Tuất Thìn, Sửu Mùi, Mùi Sửu.

Cộng lại, mỗi vận trong sáu vận kia được sáu cuộc, vận 5 được mười hai, đúng bốn mươi tám. Đây là con số của những cuộc đất vượng sơn vượng hướng thật sự, không phải con số của một phép chia đôi hai mươi bốn sơn.

Ông còn nói thêm một điều để người học thấy cái khó của nghề. Nếu cứ đem hai mươi bốn sơn chia sang tả hữu cho đủ số thì e rằng không thể gượng ép mà gom lại cho thành. Khi ấy chỉ còn mười chín cặp vận mà không có cuộc nào vượng tinh đến cả sơn lẫn hướng. Cuộc tốt hiếm như vậy nên lập hướng vốn rất khó. Người nào chưa phải bậc danh thủ thì muôn lần cũng không dám khinh suất mà điểm huyệt.

Có con số rồi, còn phải đọc cho đúng những câu phú xưa vẫn dùng để nói về các cuộc ấy.

Bốn câu phú nước chầu non và chữ Kiền như một đại danh từ

Thiên Ngọc kinh có mấy câu mà đời sau chú giải rất lộn xộn. Thẩm Trúc Nhưng lần lượt chỉ ra mỗi câu ứng với cuộc nào:

Kiền sơn Kiền hướng thủy triều Kiền, Kiền phong xuất trạng nguyên.

Nghĩa là núi Kiền, hướng Kiền, nước chầu về Kiền, ngọn núi phía Kiền cao thì có người đỗ trạng nguyên. Câu này chỉ hai cuộc Kiền Tốn và Tốn Kiền của hai vận 2 và 8.

Khôn sơn Khôn hướng thủy Khôn lưu, phú quý vô hưu.

Núi Khôn, hướng Khôn, dòng nước cũng chảy về Khôn thì giàu sang mãi không dứt. Câu này chỉ hai cuộc Cấn Khôn và Khôn Cấn của hai vận 4 và 6.

Mão sơn Mão hướng Mão nguyên thủy, sậu phú Thạch Sùng.

Núi Mão, hướng Mão, nguồn nước cũng ở Mão thì đột nhiên giàu như Thạch Sùng. Câu này chỉ hai cuộc Mão Dậu và Dậu Mão của hai vận 3 và 7.

Ngọ sơn Ngọ hướng lai đường, đại tướng trấn biên cương.

Núi Ngọ, hướng Ngọ, nước tới trước nhà thì có đại tướng giữ biên cương. Câu này chỉ hai cuộc Tý Ngọ và Ngọ Tý của vận 5.

Nói về các nhà chú giải, ông chỉ có một nhận xét ngắn mà nặng: họ đều ngủ mê mà nói sảng về chỗ này.

Có người hỏi: đoạn "Kiền sơn Kiền hướng thủy triều Kiền" xem ra chưa đủ làm nên một thuyết hoàn chỉnh, vậy nó sai ở đâu? Ông đáp rằng chữ "Kiền" trong câu ấy là một đại danh từ, đứng thay cho bất kỳ sao nào đương lệnh. Lấy vận 3, sơn Mão hướng Dậu làm ví dụ, như lời Bạch Hạc Minh giải thích: sao Tam bay tới sơn, sao Tam bay tới hướng, nước ở thành môn cũng rơi vào Tam Bát, và trên bàn phi tinh vẫn là Tam. Đó chính là "sơn Kiền, hướng Kiền, nước Kiền, non Kiền" theo nghĩa đại danh từ. Các cuộc khác cứ thế mà suy.

Hồ Bá An bổ sung rằng câu phú ấy là một phép cứng nhắc nếu đọc theo mặt chữ. Bất kể vận nào, sơn nào, hướng nào, hễ phi tinh của sơn và hướng ăn khớp với lệnh tinh của thành môn, lại ăn khớp với lệnh tinh của ngọn núi cao, thì đều có thể luận bằng câu "Kiền sơn Kiền hướng Kiền thủy Kiền phong". Người đọc không cần chấp nê vào hai chữ Kiền.

Tắc Tiên cho rằng đọc "Kiền" theo nghĩa phi tinh như vậy là hợp lý, rồi đưa thêm ví dụ. Các cuộc Giáp Canh, Cấn Khôn, Dần Thân của vận 6 có lệnh tinh của sơn và hướng đều là Lục. Khi bài bố lần lượt thì Lục bay tới Kiền, vậy là hợp với cuộc "sơn Kiền hướng Kiền, nước chầu Kiền". Ngôi mộ tổ của Kê Trung Đường được nhắc trong "Trạch đoán" cũng thế: vận 3 sơn Tý Ngọ kiêm Nhâm Bính hợp với cuộc "Mão sơn Mão hướng nguồn nước Mão". Duy nhất vận 9 là không có cuộc đáo sơn đáo hướng, như câu "Ngọ sơn Ngọ hướng lai đường" thì không tránh khỏi khuyết điểm. Vì vậy vẫn nên lấy lời giải của ông Thẩm làm khuôn khổ chung.

Lại có người hỏi: giải về bốn mươi tám cuộc như thế, phái Tam Hợp coi là thêm thắt xuyên tạc cũng đã đành, nhưng ngay cả phái họ Chương cũng chẳng nhận, phải không? Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng muốn hiểu câu "Long phán lưỡng phiến âm dương thủ", tức rồng chia làm hai mảnh để lấy âm dương, thì phải đọc thật kỹ lời tự tăng bổ của Thiên Ngọc trong "Thanh Nang kinh áo ngữ", tự khắc sẽ rõ. Hai mươi bốn sơn hướng chia ra theo từng vận rồi bài bố lần lượt từ sao Nhất là điều đương nhiên. Nếu cứ bám chặt vào chú giải của hai họ Tưởng và Chương thì sinh ngờ vực là phải. Chỉ có bí bản do một lão địa sư họ Uông ở Thượng Ngu cất giữ mới bàn về bốn mươi tám cuộc giống ông, và theo ông, tác phẩm ấy đã thấu vấn đề trước ông.

Con số mười hai cuộc của vận 5 còn làm nhiều người thắc mắc nhất, vì nó gấp đôi mọi vận khác.

Vì sao vận 5 có tới mười hai cuộc

Có người hỏi: trong vận 5 người ta dùng mười hai sơn hướng như thế nào? Câu trả lời mang màu sắc Dịch học. Lý của trời đất kỳ diệu như đạo Dịch. Vận 5 là lúc sao Ngũ nhập trung cung, tức Thái Cực, tức Hoàng Cực. Vì thế ba nguyên đều có phần của mình:

  • Thiên nguyên long có Tý Ngọ, Ngọ Tý, Mão Dậu, Dậu Mão, là bốn sơn hướng ở bốn phương chính.
  • Địa nguyên long có Tuất Thìn, Thìn Tuất, Sửu Mùi, Mùi Sửu, là bốn sơn hướng ở bốn phương phụ.
  • Nhân nguyên long nằm giữa trời và đất, có Ất Tân, Tân Ất, Đinh Quý, Quý Đinh.

Cộng lại là mười hai, và theo ông, sự huyền diệu của tạo hóa ở đây là điều sức người không đo lường nổi.

Người hỏi thắc mắc tiếp: sáu vận 2, 8, 3, 7, 4, 6 mỗi vận được sáu cuộc, sao riêng vận Ngũ Hoàng lại được mười hai? Ông đáp rằng chưa hiểu Dịch lý thì không thể hiểu lý của tinh bàn, nên không thể giải thích cạn cợt được. Vận 5 là bàn nguyên đán: Ngũ nhập trung cung, mọi chữ đều đứng yên và đều tỷ hòa với nhau. Tý, Quý, Sửu thuộc âm; Mão, Ất, Thìn thuộc âm; Ngọ, Đinh, Mùi, Dậu, Tân, Tuất cũng thuộc âm. Âm với âm tỷ hòa, cả mười hai đều thuộc bàn đi nghịch, cho nên có mười hai cuộc.

Người ấy lại hỏi: vận 5 đã có mười hai cuộc, vậy bốn địa cuộc Thìn Tuất Sửu Mùi có thể kiêm với bốn nhân cuộc Ất Tân Đinh Quý được chăng? Ông đáp dứt khoát là muôn lần không. Các cuộc ấy đều thuộc âm, kiêm vào thì rốt cuộc phạm cách xuất quái, tức ra khỏi quẻ. Dương công từng nói: ra khỏi quẻ thì nhà nghèo thiếu thốn, lời ấy không thể quên. Người đời thường cho rằng một quẻ có thể dùng thay hai quẻ, điều này không đáng tin. Nếu thật phải kiêm thì chỉ có một đường là dùng thế quái.

Tổ Miên giải thích vì sao các cuộc ấy gọi là có chân vượng tinh, bằng cách so vị trí hậu thiên với số tiên thiên:

  • Cuộc Kiền Tốn của vận 2: Nhị bay tới hướng, nằm đúng chỗ của số Nhị tiên thiên.
  • Cuộc Dậu Mão của vận 3: Tam bay tới hướng, cũng trùng vị trí số Tam tiên thiên.
  • Cấn ở hậu thiên đúng là chỗ của Tứ tiên thiên, nên vận 4 lập sơn Giáp hướng Dần có lệnh tinh cùng số với tiên thiên.
  • Lục của tiên thiên là Khảm; lệnh tinh Giáp Canh của vận 6 ở hậu thiên rơi vào cung Đoài, Lục tới Đoài thì tiên thiên và hậu thiên cùng vị trí.
  • Cuộc Tuất Thìn của vận 7: Đoài tiên thiên ở phía Thìn, nay Thất bay tới hướng mà Thất vốn là Đoài, tức Đoài tiên thiên gặp Đoài hậu thiên.

Các cuộc còn lại cũng suy theo cách ấy. Bạch Hạc Minh nhận xét rằng trọng tâm của cả đoạn nằm ở lời giải của Hồ Bá An: câu "Kiền sơn Kiền hướng thủy triều Kiền, Kiền phong xuất trạng nguyên" thực chất nói về phi tinh của sơn và hướng khớp với bí quyết thành môn, đồng thời phối đúng giữa núi với nước.

Có cuộc sao bay đến đúng sơn đúng hướng, lại có cuộc sao bay chéo sang chỗ ngược lại. Hai loại ấy khác nhau một ly, mà họa phúc cách nhau ngàn dặm.

Đáo sơn đáo hướng và thướng sơn há thủy khác nhau ở chiều bay của sao

Ngày nay các thầy Huyền Không đều biết điều cấm kỵ không được ra khỏi quẻ. Nhưng cách cuộc "thướng sơn há thủy" thì hầu như không ai biết, họ thường nhầm nó với cách cuộc "đáo sơn đáo hướng". Thẩm Trúc Nhưng nói đó là sai một ly đi ngàn dặm.

Sơn thượng long thần bất há thủy, thủy lý long thần bất thướng sơn.

Long thần ở núi không được xuống nước, long thần thuộc nước không được lên núi. Hai câu ấy buộc người xem đất phải phân biệt rõ chuyện lên núi xuống nước. Ví dụ cuộc Kiền Tốn của vận 2 là đáo sơn đáo hướng, nhưng nếu đổi sang sơn Tuất hướng Thìn thì thành thướng sơn há thủy. Ông phàn nàn rằng ngày nay người ta chọn đất táng, có khi dùng Tuất kiêm Kiền, có khi dùng Kiền kiêm Tuất, thật chẳng biết vận là gì.

Chí Y đi vào chi tiết, và cách làm của ông cho thấy mấu chốt nằm ở chỗ sao bay thuận hay nghịch:

  • Vận 2 sơn Kiền hướng Tốn: vận bàn có Nhị nhập trung cung, Tam đáo sơn, Nhất đáo hướng. Lấy Tam của sơn bàn nhập trung cung bay nghịch thì Nhị đáo sơn. Lấy Nhất của hướng bàn nhập trung cung bay nghịch thì Nhị đáo hướng. Đó là đáo sơn đáo hướng.
  • Vận 2 sơn Tuất hướng Thìn: lấy Tam của sơn bàn nhập trung cung bay thuận thì Nhị lại tới hướng. Lấy Nhất của hướng bàn nhập trung cung bay thuận thì Nhị tới sơn. Đó là thướng sơn há thủy.

Lý do nằm ở nguyên của sơn. Thiên nguyên có Tam là Mão, Nhất là Tý, cả hai đều thuộc âm và đi nghịch. Địa nguyên có Tam là Giáp, Nhất là Nhâm, đều thuộc dương và đi thuận. Đi nghịch là đáo sơn đáo hướng, đi thuận là thướng sơn há thủy.

Chí Y dẫn thêm kinh điển. "Thanh Nang tự" có câu "Sơn quản sơn hề thủy quản thủy", tức mỗi bên giữ phần việc của mình, nói về đáo sơn đáo hướng. Đoạn "Thiên quái giang đông chưởng thượng tâm" cũng nói chuyện ấy. Họ Tưởng viết "Lược chỉ nhất ban, xuân quang tiết lậu", nhưng ông cho câu "chỉ lược một nét" ấy vô giá trị. Điều ông kỵ nhất khi lập hướng là thướng sơn há thủy. Có nhà phạm lỗi này mà gia đạo vẫn phát, vì chỗ đất đó thật có long chân huyệt, sao đầu hướng lại hợp thập với sao nhập trung cung, và trong vận có một hai tiết gặp "châu cát thủy", thứ nước quý như ngọc, thông nhau chiếu rọi nên mới phát. Nhưng phúc đến không trọn, họa lại đến quá mau, sao bằng chọn vượng long vượng hướng mà khỏi cần thay thế.

Bạch Hạc Minh tóm lại: nên chọn cách cuộc đáo sơn đáo hướng, còn gọi là vượng sơn vượng hướng, và tránh cách cuộc thướng sơn há thủy.

Hai chữ "tam tinh ngũ cát" nghe như lời khen cuộc đất, nhưng thật ra là một cách đếm sao rất cụ thể.

Tam tinh và ngũ cát

Có người hỏi "tam tinh ngũ cát" nghĩa là gì. Thẩm Trúc Nhưng giảng: tam tinh là lệnh tinh của mỗi vận nhập trung cung, cộng với việc phi tinh của sơn và hướng đều được lệnh tinh bay đến. Còn ngũ cát gắn với quẻ thế. Vì một quẻ dùng thay hai quẻ nên phi tinh của sơn và hướng có bốn điều hợp với lệnh tinh của nguyên vận, thêm chính lệnh tinh là thành năm, nên gọi là "ngũ cát". Muốn rõ thì nghiên cứu kỹ phần chú giải của họ Tưởng trong "Bảo Chiếu kinh".

Ông cũng nhắc một thuyết khác. Theo đó, thượng nguyên có Nhất, Nhị, Tam là tam tinh; long đến mà kiêm thêm hai sao Tả Phụ và Hữu Bật vào huyệt thì gọi là ngũ cát. Trung nguyên có Tứ, Ngũ, Lục là tam tinh; long đến kiêm hai sao Tham Lang và Cự Môn thì thành ngũ cát. Hạ nguyên có Thất, Bát, Cửu là tam tinh; long đến kiêm hai sao Tham Lang và Vũ Khúc thì thành ngũ cát. Thuyết này vẫn phải xét thêm động tĩnh sinh khắc của các sao rồi mới vận dụng.

Bạch Hạc Minh gọi tên cụ thể từng nguyên:

  • Ngũ cát của thượng nguyên là Nhất Bạch, Nhị Hắc, Tam Bích, cộng thêm Bát Bạch và Cửu Tử.
  • Ngũ cát của trung nguyên là Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, cộng thêm Nhất Bạch và Nhị Hắc.
  • Ngũ cát của hạ nguyên là Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử, cộng thêm Nhất Bạch và Lục Bạch.

Sau những con số khô khan ấy, một câu chuyện nhỏ về một ông quan và chiếc giường cho thấy cái lý Hà Lạc có thể gần gũi đến đâu.

Nhất Tứ đồng cung và cái lý của Hà Lạc

Đặng Hốt Thần hỏi người thầy xem Phong Thủy: nhờ túc hạ xem giúp, mái nhà tranh của tại hạ mới sinh rạng rỡ. Hồi ấy túc hạ bảo tướng nhà, tướng phòng đều không tốt, khuyên đổi chỗ giường và nói hai tháng sau sẽ được giữ chức xứ châu. Hôm nay quả đúng như lời. Túc hạ là bậc kỳ sĩ thông dị thuật, sao không ra giúp đời?

Người thầy đáp rằng trước kia tướng nhà, tướng phòng của ông bất lợi, sau khi dời giường theo hướng hợp sinh vượng thì được một điều cát, theo lý ứng vào chuyện thăng quan. Trước đó, do phương vị nhà không có đường sinh tài, nên làm tri phủ ở tỉnh này phải chịu cảnh thanh bần, chi bằng giữ chức xứ châu. Đó là cách dùng bí quyết Nhất Tứ đồng cung, chẳng có gì lạ. Thấy ông tâm tính đôn hậu, không như các quan lại khác, ông chỉ tiện tay thi triển chút tiểu xảo để báo đáp. Nếu ông Đặng cho rằng mình là kỳ sĩ thông dị thuật thì đã khen quá lời.

Rồi ông nói điều mà ông thật sự muốn nói. Người đọc sách trong thiên hạ ai cũng biết cái lý này. Gọi là lý vì đời người một ngày cũng không rời nó được. Lý là gì? Là Hà Lạc. Hà Đồ là đạo của sự biến dịch, Lạc Thư là đạo của sự bất biến. Lạc Thư tuy không đổi, nhưng phép dùng lại nằm ở sự dịch chuyển của Nhị và Bát trong bốn vị trí; Nhị Bát đổi chỗ chính là ý tuần hoàn thay đổi. Đó là lý thường hằng chứ chẳng phải dị thuật, và người rõ lý này cũng chỉ là người thường, chẳng phải kỳ nhân dị sĩ gì.

Ông kể thêm về mình. Người bệnh thì cầu thầy thuốc; còn việc ông giúp người cũng chỉ do ông xem trọng khí của sơn lâm mà thôi. Tự biết mình chẳng phải người giàu sang, ngày thường đọc sách mà ôm hận vì không gặp được cổ nhân. Ông chỉ mong về sau có người hiểu mình, ngoài điều đó không cầu gì khác.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia