Bài tổng quan
Hà Đồ, Lạc Thư và bốn đại cục nước hợp Tiên Thiên
Khi con rùa thần nổi lên giữa sông, trên lưng nó là những vạch số từ một đến chín. Từ đó người ta tìm ra Hà Đồ thuận sinh và Lạc Thư nghịch khắc, rồi dựng thành bốn đại cục cho dòng nước. Có một câu trong đó được gọi là bí quyết ngàn vàng…
Quan tài, đầm nước và quẻ Đại Quá
Kinh Dịch có câu: thời cổ người ta chôn người chết bằng cách mặc quần áo đầy đủ cho thi thể rồi phủ cây cỏ lên trên giữa đồng ruộng, không dùng quan tài; thánh nhân đời sau mới dùng quan tài để đổi phong tục ấy. Đó là ý của quẻ Đại Quá.
Trương Cửu Nghi giải: mai táng là việc thuộc âm. Cho nên Đoài và Tốn của quẻ Đại Quá đều là quẻ âm, lại có hai quẻ chồng lên nhau, bốn hào ở giữa đều thuộc dương. Người được mai táng nằm trong đất, trên dưới đều là đất, như dương bị âm bao bọc.
Song mai táng còn phải được nước mới tốt, nên trong quẻ có đầm nước là Đoài; hơn nữa nếu có gió thì khí bị thổi tản đi, chỉ có nước mới ngăn được gió. Vì thế đầm nước ở trên, gió ở dưới. Quân tử nhìn quẻ Trạch Phong Đại Quá mà coi đắc thủy là hay nhất, tránh gió kém hơn chút ít. Ý của quẻ vừa thâm thúy lại vừa hiển lộ. Lại công bảo: sa và thủy phải cùng chầu về thì mới là cách tốt nhất của phong thủy.
Nguồn gốc của Hà Đồ: số sinh, số thành và đất Thổ ở giữa
Kinh Dịch nói sông Hoàng Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư, thánh nhân lấy đó làm chuẩn. Từ tấm đồ ấy, người ta tìm ra cách đọc đất.
Trời một, đất hai, trời ba, đất bốn, trời năm, đất sáu, trời bảy, đất tám, trời chín, đất mười. Số của trời có năm, số của đất cũng có năm. Năm ngôi tương đương nhau, mỗi ngôi lại có sự hợp của số ấy, nên số trời là hai mươi lăm, số đất là ba mươi, cộng lại là năm mươi lăm. Nhờ vậy mới thành sự biến hóa và thông với quỷ thần.
Trương Cửu Nghi nói: đạo trời hướng lên, nên nhất dương sinh ở phương Bắc, cũng là quẻ Địa Lôi Phục. Đạo đất hướng xuống, nên nhị âm sinh ở phương Nam, cũng là quẻ Thiên Phong Cấu. Đây là Hà Đồ, cũng tức là Thái Cực. Phương đông bắc là vị dương, dương là chủ, âm là khách, nên số một và ba ở trong, số sáu và tám ở ngoài, mà biết Càn thống lĩnh ba con trai ở đông bắc. Phương tây nam là vị âm, âm là chủ, dương là khách, nên số hai và bốn ở trong, số bảy và chín ở ngoài, mà biết Khôn thống lĩnh ba con gái ở tây nam. Dương đã sinh thành thì âm cũng sinh thành, âm đã sinh thành thì dương cũng sinh thành. Chỗ số năm sinh ở bên trong, chỗ số năm thành ở bên ngoài.
Theo số mà sắp đặt thì thành cục thế. Một có năm thành sáu, hai đi với năm thành bảy, ba có năm thành tám, bốn được năm thành chín, ấy là Thổ đóng ở trung ương, thành các thể Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Năm được năm thành mười, thành Thổ và là mẹ của Thổ, là gốc của ngũ hành, cho nên hai mươi bốn long mà các nhà phong thủy nói tới đều có thể là Thổ. Nhưng người đời chỉ biết đặt giả thuyết về Hà Đồ, Lạc Đồ, mà không biết do đâu mà vận dụng Hà Lạc để biến hóa.
Nhà phong thủy địa lý mà được số sinh của Hà Đồ thì con cháu đời sau rối ren; được số thành thì đại phú đại quý.
Chẳng hạn ngồi ở ngôi Quý, quay hướng ngôi Đinh, Đinh là đất hai, thì là số sinh. Nếu sơn phong nhô cao ở ngôi Bính thì là số thành. Đại thể, Bính là số thành thì người sẽ đại phú quý. Nếu sa không thấp bé mà có nước đến đón thì phát tài nhanh, đó là vận dụng số thành của Hà Đồ. Còn số sinh thì ngồi ở ngôi Nhâm quay về ngôi Bính, sơn phong ở ngôi Đinh nhô cao, có nước đến đón, nhân khẩu sẽ đông đúc và sống lâu. Xét lẽ trong đó thì thấy đều căn cứ vào sự tiêu trưởng của ngôi vị và phương hướng. Lấy ví dụ Hỏa cục Bính Đinh thì suy ra được Mộc cục Giáp Ất, Thủy cục Nhâm Quý, Kim cục Canh Tân. Tựa như có thần minh ở trong đó.
Lại công nói: cung Kim vốn là con trai của người ở phía đông, đem gửi người ở phía tây nuôi; từ đây có thể đoán ra Quý là Thủy, Nhâm là Hỏa, Giáp Đinh là Kim, Ất Bính là Thổ, Canh Tân là Mộc. Cho nên Kiền Đoài quy nguyên ở Giáp Đinh, Khôn Cấn quy nguyên ở Ất Bính, Chấn Tốn quy nguyên ở Canh Tân, Khảm quy nguyên ở Quý, Ly quy nguyên ở Nhâm. Ngọc Xích Kinh nói: Quý tiếp nhận khí của Khảm mới thành diệu dụng. Nhưng đó là thấy một, tức đơn kiến, đều thuộc nạp Giáp. Nếu thấy cả hai, tức song kiến, thì hợp với số sinh thành trong Hà Đồ mà thành cục, như hai dòng nước Giáp và Ất cùng chảy tới phía trước, hoặc nước Ất chảy tới hướng Giáp, nước Giáp chảy tới hướng Ất. Khi ấy nếu biết dùng thì có thể quy hóa, xuất hiện người làm quan, hoặc ngược lại là quan thành quỷ.
Long từ đâu đến thì hợp với cách nào
Nếu Long từ cung Khảm tới, là cách Tử Tôn hội Long đới Phụ Mẫu. Từ cung Ly tới là cách Phụ Mẫu đới tài phát tài. Từ Kiền hay Đoài tới là cách Huynh Đệ đới tài phát tài, đều rất lành. Từ Khảm hay Cấn tới là cách Quan Quỷ đới Tử Tôn, kém đôi chút. Từ Chấn hay Tốn tới là cách Huynh Đệ đới Thất Sát.
Người thông minh đến chỗ này, thấy chủ sơn nhô cao, sa chầu quanh, nước chầu bái, thì biết sẽ xuất hiện nhân tài văn võ song toàn, gọi là cách hóa nhiên sinh quyền, nơi vô cùng tôn quý. Còn nếu chủ sơn nhô cao nhưng sa và nước quay lưng thì không thành cách đẹp, võ tướng sẽ bị họa sát thân. Nếu chủ sơn thấp bằng, có bình sa và nước đẹp chầu đối, thì trước phát phú, rồi phát quý, nhưng cuối cùng bị tuyệt diệt, gọi là cách biên quan thành quỷ.
Với Bính Đinh cục, Long từ Kiền Đoài tới thì Phụ Mẫu và Huynh Đệ sẽ cùng tới, đới Quan Quỷ; từ Khảm tới thì Phụ Mẫu, Quan Quỷ hội đới tài. Trong cách cục ấy, Kiền Khôn là tốt nhất, Ly Tốn kém chút, rồi mới tới Đoài, Khảm, Chấn. Với Nhâm Quý cục, Long từ Ly tới thành cách Quan Quỷ; từ Chấn Tốn tới là cách Tử Tôn đới Phụ Mẫu; từ Cấn Khôn tới thì Phụ Mẫu đới tài; từ Kiền hay Đoài tới thì Quan Quỷ đới Tử Tôn; từ Khảm tới thì Huynh Đệ đới tài. Trong cách cục này, Khảm, Ly, Kiền, Khôn là hay nhất, Chấn Tốn kém chút, rồi tới Đoài, Cấn. Sau khi thành các cục ấy, còn phải từ các dạng Lai Long mà phân biệt cho rõ. Nếu thấy sơn phong tinh mỹ, viên cục hùng vĩ thì là được cách đại cát.
Bốn đại cục của Hà Đồ
Mộc cục xả nước: ngồi hướng Giáp, thấy nước Ất; ngồi hướng Ất, thấy nước Giáp. Hai cách xả này hợp với cách trời đất định vị. Hỏa cục xả nước: ngồi hướng Đinh, thấy nước Bính; ngồi hướng Bính, thấy nước Đinh. Hai cách này hợp với cách núi đầm thông khí. Kim cục xả nước: ngồi hướng Tân, thấy nước Canh; ngồi hướng Canh, thấy nước Tân. Hai cách này hợp với cách sấm gió nương nhau. Thủy cục xả nước: ngồi hướng Nhâm, thấy nước Quý; ngồi hướng Quý, thấy nước Nhâm. Hai cách này hợp với cách nước lửa không bắn nhau.
Trần Tử Kỳ nói: bốn đại cục của Hà Đồ đã hợp với đại số trời sinh đất thành, đất sinh trời thành, lại hợp với đạo vợ chồng của Tiên Thiên. Gặp địa thế này thì không có gì lành hơn.
Nguồn gốc của Lạc Thư: chín trước, một sau
Cùng một bàn tay trời, Hà Đồ mở ra bằng sinh, Lạc Thư mở ra bằng khắc. Chuyện con rùa thần nổi lên giữa sông là bước đầu.
Trời ban cho vua Vũ bài Hồng Phạm gồm chín điều; lý lẽ cương thường của con người đều được nói rõ trong đó. Họ Khổng kể: trời ban cho Đại Vũ một con rùa thần, nổi lên trên sông, trên lưng có đường hoa văn xếp từ một đến chín; Đại Vũ căn cứ vào đó mà suy diễn thành chín loại. Người đời vẫn nói: chín ở trước, một ở sau, ba bên tả, bảy bên hữu, hai và bốn làm vai, sáu và tám làm chân, đều là số của Lạc Thư.
Trương Cửu Nghi nói: dương ở bốn chính là Càn, Khôn, Khảm, Ly của Tiên Thiên; âm ở bốn góc là Tốn, Chấn, Cấn, Đoài của Tiên Thiên. Đó là định số của Lạc Thư, mọi luận điểm tranh âm tranh dương đều bắt đầu từ đấy. Nhưng số chín của Hà Đồ ở phương tây thì trong Lạc Thư lại ở phương nam; số bảy của Hà Đồ ở phương nam thì trong Lạc Thư lại ở phương tây. Kim và Hỏa đổi chỗ cho nhau là vì lẽ gì?
Hà Đồ chủ về thuận sinh, từ Bắc sang Đông: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim lại sinh Thủy, cứ thế tuần hoàn không ngừng. Lạc Thư thì chủ về khắc, từ Bắc sang Tây: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, cứ thế xoay vòng. Đó là lý do bảy chuyển sang tây mà chín đổi sang nam. Nếu xét theo đạo lý hợp thành mười thì đều là số tự nhiên: một ở bắc thì chín phải ở nam, ba ở đông thì bảy phải ở tây.
Khi Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Kiền ở Ngọ, Khôn ở Tý, Ly ở Mão, Khảm ở Dậu, điều ấy đã thành định số. Cho nên trời một sinh Khảm Thủy, đất lấy số sáu làm cho thành; trời ba sinh hành Mộc là Chấn, đất lấy số tám làm cho thành. Hai cục trên, Thủy là Thủy viên, Mộc là Mộc viên, đều tranh âm dương mà không đến mức tạp loạn. Đất hai sinh Khôn Hỏa, nên hướng Khôn Ất là lành; Hỏa sinh Thổ, hướng Đoài Ất thì hung hiểm. Kim sợ Hỏa. Đất hai sinh Đinh Hỏa, trời lấy số bảy là Bính làm cho thành, vị trí ở phương nam, thì hòa khí tranh âm tương phản. Đất bốn sinh Tốn Kim, trời lấy số chín là Ly làm cho thành, nếu hướng Ly thì lành; Hỏa khắc Kim nên hướng Tốn là hung hiểm. Đất bốn sinh Tân Kim, trời lấy số chín là Canh làm cho thành, vị trí ở phương tây. Hai cục này Long khí đều vượng, địa huyệt có chân khí, nếu khéo tiêu nạp sẽ đại phát phúc khí lâu dài, vì đạt được đại số sinh thành.
Bát quái đã hoán vị cho nhau nên mới sinh ra những điều ấy. Nhất sinh nhất thành vốn là tính khí nguyên thủy của Tiên Thiên; câu này có thể nói là danh ngôn chí lý, là bí quyết ngàn vàng khó mua của các thuật gia.
Ngọc Xích Kinh nói: bỏ Vượng mà đón Sinh thì đến thời đại phú đại quý. Kẻ bần hàn cầu phú quý thì bỏ Sinh mà đón Vượng; muốn cầu đông con đông cháu thì bỏ Vượng mà đón Sinh.
Đạo lý này thánh hiền đời trước đã nói, chỉ là chưa chỉ rõ thôi. Phàm âm dương lẫn lộn thì phải nhờ phương hướng mà tiêu nạp, nếu không thì sẽ lấy vợ năm lần bảy lượt. Như Cấn Long, hoặc Cấn hướng Khôn Ất nước chầu đón, hoặc Long đi kiêm Khôn Ất, nhất định phải lập hướng dương; nếu lập hướng âm là sai.
Bốn đại cục của Lạc Thư
Thủy cục xả nước: ngồi hướng Khảm, thấy nước Kiền; ngồi hướng Kiền, thấy nước Khảm. Hỏa cục xả nước: ngồi hướng Khôn, thấy nước Đoài; ngồi hướng Đoài, thấy nước Khôn. Kim cục xả nước: ngồi hướng Tốn, thấy nước Ly; ngồi hướng Ly, thấy nước Tốn. Mộc cục xả nước: ngồi hướng Chấn, thấy nước Cấn; ngồi hướng Cấn, thấy nước Chấn.
Trần Tử Kỳ nói: Hà Đồ lấy thuận sinh, Thủy, Mộc, Hỏa, Kim đều ở vị Mộc. Lạc Thư lấy nghịch khắc, Hỏa ở vị Kim, Kim tiến vào Hỏa. Cho nên hai cục Thủy và Mộc của Lạc Thư thuần chất như Hà Đồ; hai cục còn lại thì tạp loạn. Song nếu gặp núi non tú mỹ, sa cũng chầu, nước cũng đón thì sẽ phát phúc vài chục năm.
Tiên Thiên bát quái: núi đầm thông khí, sấm gió nương nhau
Kinh Dịch nói: trời và đất định ngôi vị, núi và đầm thông khí, sấm và gió nương nhau, nước và lửa không bắn nhau, tám quẻ đan xen, số đi là thuận, số đến là nghịch; cho nên Dịch là số nghịch.
Trương Cửu Nghi giải: trời chủ về hướng xuống, khí thanh nhẹ nổi lên; đất chủ về tích tụ, khí nặng đục ngưng kết xuống. Càn ở nam, Khôn ở bắc, nên gọi là định ngôi vị. Phương tây bắc có nhiều sơn mạch nhất, núi Côn Luân là tổ của chúng. Phương tây nam có nhiều sông nhất, biển lớn là nơi hội tụ của mọi dòng nước. Mà sông đều bắt nguồn từ sơn mạch, còn núi gặp nước thì dừng, nên gọi là thông khí.
Sấm từ đất khởi sinh, nên nhất dương sinh ở buổi đầu của Khôn. Gió từ trên trời thổi xuống, nên nhất âm sinh ở buổi đầu của Kiền. Gió trợ uy cho sấm, sấm cổ vũ gió, nên nói là sấm gió nương nhau. Mặt trời là tinh của Hỏa, mọc từ phương đông; mặt trăng là mẹ của Thủy, mọc từ phương tây; nhật nguyệt thay nhau chiếu rọi thế gian, nên gọi là không bắn nhau. Song từ Kiền một đến Khôn tám, thứ tự thuận sinh ra lại đều là nghịch. Quân tử quan sát Tiên Thiên thì thể hệ địa lý được xác lập. Địa lý lấy nghịch làm quý là vì thế.
Bản thể của bát quái là Tiên Thiên; thứ tự Hậu Thiên tuy đổi ngôi nhưng bốn tính vốn quy về Tiên Thiên. Cho nên Kiền thuộc dương, số chín của Tiên Thiên vốn là dương; Khôn thuộc âm, số một của Tiên Thiên thuộc âm mà cũng là dương. Khảm thuộc dương, số bảy bên hữu của Tiên Thiên vốn là dương. Ly thuộc âm, số ba bên tả của Tiên Thiên, âm mà cũng thuộc dương. Tốn thuộc âm, vị trí Tiên Thiên ở số hai đen; Chấn thuộc dương, vị trí Tiên Thiên ở số tám trắng. Đoài thuộc âm, vị trí Tiên Thiên ở số bốn xanh; Cấn thuộc dương, vị trí Tiên Thiên ở số sáu trắng.
Quân tử vận dụng phương vị Hậu Thiên mà quán triệt lý khí của Tiên Thiên thì coi như đã học được một nửa.
Kinh Dịch lại nói về bát quái: sấm làm cho vạn vật kinh động, gió làm cho tản đi, mưa tưới nhuần, mặt trời làm ấm, Cấn làm cho dừng, Đoài làm cho vui, Càn làm cho đứng vững, Khôn làm cho ẩn giấu. Trương Cửu Nghi nói: đó là Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh bát quái.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
