Bài tổng quan
Yên hỏa, tám lần dời nhà và bệnh theo khí đổi hướng
Một chiếc bếp dời từ gian đông bắc sang gian bắc, một lối đi đổi hướng, và ba sao Thiên Ất, Sinh Khí, Diên Niên bỗng hiện ra trên quẻ của cả ngôi nhà. Người xưa đếm nhân khẩu, đếm bệnh tật, đếm cả năm tháng ứng nghiệm theo từng bước dời ấy. Có một hướng dời khiến nhà thêm con trai, và có một hướng dời lại…
Mục lục · 6 phần
Yên hỏa: khi lối đi và miệng bếp dựng thành một quẻ
Tám quẻ của bát quái phối với nhau mà sinh ra muôn vật. Phương vị hậu thiên, đường lửa đi lại và hướng nhà đều dựa vào Huyền Không để thành tượng quẻ. Đổi được sang các quẻ Sinh Khí, Diên Niên, Phúc Đức, Thiên Y thì rất lợi, nhà ấy dùng được. Gặp các quẻ Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh, Họa Hại, Lục Sát thì hiểm nặng, không nên dùng.
Gọi là yên hỏa, tức là chỉ tượng quẻ do Huyền Không tạo nên. Khi người ta dời từ đông sang tây, hay từ nam lên bắc, mỗi bước dời đều là một lần dựng lại quẻ theo cùng một khẩu quyết.
Trước hết nắm cho vững khí của ngôi nhà, phân rõ âm dương, định đúng nơi Huyền Không tạo vật và đường đi lối lại.
Đổi cửa, tu bổ phải rõ phương hướng, mỗi lần vạch thêm một hào; căn cứ cửa ngõ mà nhận ra chỗ cát tường.
Phòng ở hướng đông bắc dùng làm hào dương, phòng ở hướng tây nam dùng làm hào âm. Các hào quẻ trên dưới hợp thành Thể, có hợp mới được phú quý bình an.
Đường vào là chủ, đường ra là khách; cửa phòng mở về hướng nào phải biết rõ. Gian bếp là hào bốn. Nhập âm xuất dương phải phối theo lẽ tương sinh; dời chỗ ở phải nắm chắc diệu quyết, họa phúc cát hung đều nằm trong đó, chẳng thể xem thường.
Quẻ nào làm nhà đông người, quẻ nào làm nhà vắng
Người xưa đếm nhân khẩu theo quẻ mà nhà dựng thành. Quẻ Ngũ Quỷ làm hao bảy người, quẻ Tuyệt Mệnh hao năm người. Quẻ Sinh Khí thì thêm năm người vào nhà, quẻ Họa Hại lại hao bảy người. Nếu sao Lục Sát hay Văn Khúc xâm nhập thì người trong nhà không sống quá mười năm.
Về chuyện con cái, lệ xưa nói gọn: âm được khí dương thì nhà thêm con trai, dương được khí âm thì nhà thêm con gái. Trùng dương thêm con trai, trùng âm thêm con gái.
Tám lần dời nhà, mỗi lần dựng một quẻ khác
Từ đây, mỗi hướng dời nhà được xét theo hai cách: hỏa lộ cùng khí khẩu đều hướng dương, hoặc đều hướng âm. Mỗi trường hợp cho ra một quẻ, mỗi quẻ có ba tầng gồm đuôi quẻ, thân quẻ và gốc quẻ, ba tầng ấy gom thành các sao và tính họa phúc theo năm tháng.
Dời từ đông nam sang đông bắc: Kiền trạch
Nếu hỏa lộ và khí khẩu đều hướng dương thì thành quẻ Ly. Đuôi quẻ là Kiền Kim, thân quẻ là Ly Hỏa, gốc quẻ là Tốn Mộc, hợp thành ba sao Họa Hại, Tuyệt Mệnh, Thiên Ất. Năm tháng Dần Ngọ Tuất, cha già bị tổn hại. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu, hại đến trưởng nữ và dâu trưởng, thêm thị phi kiện tụng, bệnh tật và những biến cố nặng nề. Nếu cả hai đều hướng âm thì thành quẻ Cấn, đuôi Kiền Kim, thân Cấn Thổ, gốc Tốn Mộc, hợp thành hai sao Họa Hại, Thiên Ất. Năm Hợi Mão Mùi hại đến con nhỏ; năm Tỵ Dậu Sửu hại trưởng nữ và dâu trưởng trước, sau đó tiền tài dư dả, con cháu hiếu thuận.
Dời từ đông bắc sang đông nam: Tốn trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Đoài. Đuôi Tốn Mộc, thân Đoài Kim, gốc Kiền Kim, hợp thành ba sao Lục Sát, Họa Hại, Sinh Khí. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu, trưởng nữ và dâu trưởng bị tổn hại, nhà vướng kiện tụng, trộm cướp, bệnh tật, gia sản rơi vào tay kẻ khác. Cùng hướng âm thì thành quẻ Khảm, đuôi Tốn Mộc, thân Khảm Thủy, gốc Kiền Kim, hợp thành ba thần Sinh Khí, Họa Hại, Lục Sát. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu, trưởng nữ và dâu trưởng chịu hại; năm tháng Thân Tý Thìn hoặc Hợi Mão Mùi thì trước sinh con trai, sau gặp tai họa bệnh tật.
Dời từ chính đông sang chính tây: Đoài trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Đoài, đuôi Đoài Kim, gốc Chấn Mộc, hợp thành hai sao Lục Sát, Phục Vị. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu, trưởng nữ và dâu trưởng bị hại, bệnh tật kéo dài. Cùng hướng âm thì thành quẻ Khảm, đuôi Đoài Kim, thân Khảm Thủy, gốc Chấn Mộc, hợp thành ba thần Lục Sát, Họa Hại, Sinh Khí. Năm tháng Thân Tý Thìn sinh quý tử; năm tháng Tỵ Dậu Sửu hại trưởng nữ và dâu trưởng, sau đó có bệnh về gân cốt và ăn uống.
Dời từ chính tây sang chính đông: Chấn trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Ly, đuôi Chấn Mộc, thân Ly Hỏa, gốc Kiền Kim, hợp thành ba thần Sinh Khí, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh. Năm tháng Dần Ngọ Tuất hại thứ nữ và dâu thứ; năm tháng Tỵ Dậu Sửu hại con trưởng; năm tháng Hợi Mão Mùi sinh quý tử, sau hiển đạt, tiền tài dư dả, nhân khẩu hưng vượng. Cùng hướng âm thì thành quẻ Cấn, đuôi Chấn Mộc, thân Cấn Thổ, gốc Đoài Kim, hợp thành ba thần Lục Sát, Tuyệt Mệnh, Diên Niên. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu hại con trưởng; năm tháng Hợi Mão Mùi hại phụ nữ và con nhỏ, thêm kiện tụng, khẩu thiệt, thị phi, sảy thai, bệnh dịch.
Dời từ chính bắc sang chính nam: Ly trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Đoài, đuôi Ly Hỏa, thân Đoài Kim, gốc Khảm Thủy, hợp thành Ngũ Quỷ, Họa Hại, Diên Niên. Năm tháng Dần Ngọ Tuất hại phụ nữ và con nhỏ; năm tháng Tỵ Dậu Sửu thì việc cũng không thuận, tổn hại gan huyết, lại có hỏa hoạn, cướp bóc. Cùng hướng âm thì thành quẻ Khảm, đuôi Ly Hỏa, thân và gốc đều Khảm Thủy, hợp thành Diên Niên, Phục Vị. Năm tháng Thân Tý Thìn hại trung nữ và con dâu giữa; năm tháng Tỵ Dậu Sửu con cháu thành đạt trước, sau mắc bệnh tỳ vị và mắt.
Dời từ chính nam sang chính bắc: Khảm trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Ly, đuôi Khảm Thủy, thân và gốc đều Ly Hỏa, hợp thành hai thần Diên Niên, Phục Vị. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu sinh con quý hiển, tiền tài tăng tiến, gia nghiệp hưng vượng, về sau có bệnh gân cốt. Cùng hướng âm thì thành quẻ Cấn, đuôi Khảm Thủy, thân Cấn Thổ, gốc Ly Hỏa, hợp thành ba thần Diên Niên, Họa Hại, Ngũ Quỷ. Năm tháng Thìn Tuất Sửu hại con gái giữa; năm tháng Thân Tý Thìn hại phụ nữ và con nhỏ, thêm kiện tụng, thị phi, bệnh ăn uống.
Dời từ đông bắc sang tây nam: Khôn trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Đoài, đuôi Khôn Thổ, thân Đoài Kim, gốc Cấn Thổ, hợp thành ba thần Sinh Khí, Thiên Ất, Diên Niên. Năm tháng Tỵ Dậu Sửu con trưởng quý hiển; năm tháng Hợi Mão Mùi hại mẹ và con nhỏ, nhà có bệnh nhưng tiền tài tăng. Cùng hướng âm thì thành quẻ Khảm, đuôi Khôn Thổ, thân Khảm Thủy, gốc Cấn Thổ, hợp thành ba sao Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Sinh Khí. Năm tháng Thìn Tuất Sửu hại trung nam; năm tháng Dần Ngọ Tuất hại phụ nữ và con nhỏ, có chứng trúng phong, câm điếc.
Dời từ tây nam sang đông bắc: Cấn trạch
Cùng hướng dương thì thành quẻ Ly, đuôi Cấn Thổ, thân Ly Hỏa, gốc Khôn Thổ, hợp thành ba sao Họa Hại, Lục Sát, Sinh Khí. Năm tháng Dần Ngọ Tuất hại phụ nữ; năm tháng Hợi Mão Mùi hại con nhỏ, có bệnh câm điếc, răng, mắt, tai. Cùng hướng âm thì thành quẻ Cấn, đuôi và thân đều Cấn Thổ, gốc Khôn Thổ, hợp thành hai thần Phục Vị, Sinh Khí. Năm tháng Hợi Mão Mùi lúc đầu hại con nhỏ và mẹ già, nếp nhà sa sút, về sau tiền tài tăng tiến, có thêm con dâu.
Ca về tài và phúc của nhà dời bếp, đổi cửa
Tám lần dời nhà đều xoay quanh một ý: khí đi từ đâu tới đâu thì họa phúc theo đó. Lời ca cổ gói ý ấy lại bằng hình ảnh trời đất, cha mẹ, sấm gió.
Hoàng Thạch Công nói: Thiên, Địa, Nhân là Tam Tài, hợp với Lưỡng Nghi mà dựng nên Càn Khôn. Càn là trời, Khôn là đất; trời là cha, đất là mẹ.
Chấn là sấm, Tốn là gió; sấm gió nương nhau thì vợ chồng thành thân. Ly là lửa, Khảm là nước; Ly là con trai giữa, Khảm là con gái giữa. Cấn là núi, Đoài là đầm; núi và đầm thông khí cho nhau. Tám quẻ phân minh như thế: Kiền phối với Khôn, Cấn phối với Đoài, gọi là Tây tứ trạch, đủ thần Sinh Khí và Diên Niên, không phạm hung thần. Chấn nhập Tốn, Khảm nhập Ly, thành hai thần Thiên Ất và Phục Vị, gọi là Đông tứ trạch. Dời bếp đổi lửa thì phải lo cho nhà được yên.
Từ Ung Châu dời sang Thanh Châu thì thành quẻ Ngũ Quỷ, Thiên Bồng đổi sang Thiên Nhuế, Tuyệt Mệnh mất thần. Thổ mùa xuân sợ Mộc vượng khắc hại thân thể. Ngày hè nóng nực, nước ít, sao dám xâm phạm. Kim ngày thu rất vượng, Hỏa ngày đông e tuyệt diệt. Lập Xuân là Cấn, Xuân Phân là Chấn, Lập Hạ là Tốn: ba thời này vượng thì nhân đinh trong nhà hưng vượng. Hạ Chí là Ly, Lập Thu là Khôn, Thu Phân là Đoài, Lập Đông là Kiền, Đông Chí là Khảm; gặp những thời ấy nhân đinh tuy đông nhưng gia súc ít, có khẩu thiệt thị phi, họa hình ngục và bệnh phế đàm.
Tám trạch phân minh, cốt được vị trí Sinh Khí. Vị trí Hợi Mão Mùi thêm năm người. Sao Diên Niên ở vị trí Tỵ Dậu Sửu thì nhà thêm con cháu. Sao Thiên Ất ở Thân Tý Thìn, thêm ba người. Sao Phục Vị, đến năm Hợi Mão gặp Lục Sát hung ác, ở vị trí Thân Tý Thìn thì giảm năm người. Sao Tuyệt Mệnh ở vị trí Tỵ Ngọ Dậu hại bốn người. Sao Ngũ Quỷ ở Dần Ngọ Tuất hại năm người. Sao Họa Hại ở Tý Thân Thìn rất hại nhân đinh.
Dương được khí âm hòa hợp, thuần dương sinh con trai; âm được khí dương, thuần âm sinh con gái. Gốc quẻ bị khắc thì gia nghiệp suy bại, con cháu nguy vong. Đuôi quẻ bị khắc thì sinh bệnh nặng và kiện tụng. Thân quẻ bị khắc thì tiền của tiêu tán, tai họa dồn dập.
Khi hành này đi vào hành kia, bệnh nào đến theo
Mỗi lần khí của quẻ này bước sang quẻ khác, ngũ hành hai bên gặp nhau, và cơ thể người ở trong nhà là nơi nhận kết quả đầu tiên.
Kim nhập Hỏa, Hỏa luyện Kim, là hai quẻ Kim Kiền, chủ bệnh phổi, ho lao. Ly nhập Đoài chủ bệnh máu huyết. Kim nhập Mộc, Kiền nhập Chấn, hai bên sườn đau, bệnh lao xâm nhập. Mộc nhập Kim, Tốn nhập Đoài, phạm sao Lục Sát, chủ bệnh tê liệt, họng, phù thũng, có khí mà không có lực, sầu muộn bế tắc, có người tìm đến cái chết.
Thủy nhập Thổ chủ bệnh điên, mặt bủng da vàng, phù thũng, tê liệt. Thổ nhập Mộc, Cấn nhập Tốn, chủ bệnh tỳ vị. Kiền khắc Tốn sinh ho lao, phụ nữ bị bệnh mắt. Thủy khắc Hỏa, bệnh do ăn uống, lao lực. Thổ khắc Thủy có người tê liệt. Khảm nhập Cấn chủ bệnh ăn uống, phù thũng. Ly nhập Khảm sinh mù lòa, người đẹp mắc bệnh tim. Thủy khắc Hỏa khó thoát chuyện chết đuối, trúng phong. Tốn nhập Khảm cũng nhiều bệnh mà chết.
Thổ sinh Kim, Tuất Tỵ gặp nhau thì mòn mỏi. Thủy sinh Mộc, Nhâm Quý quá ẩm thấp, dễ bị bệnh tả. Mộc gặp Mộc thành rừng, làm nhà ở sẽ hưng vượng phát đạt. Mộc sinh Hỏa mà bị thiêu rụi thì tuyệt tự. Mộc khắc Thổ, Thổ dưỡng Mộc, vẫn được coi là cát lợi. Kim sinh Thủy, Kiền phối Khảm lại không cát lợi. Thủy khắc Hỏa mà Hỏa bốc cao không ngăn nổi thì khó phân cát hung họa phúc.
Từ âm vào dương, từ dương vào âm: ai đắc khí
Từ cung Thìn nhập cung Tuất, từ Tỵ nhập Hợi, từ Tốn nhập Kiền là sinh khí bốn âm đắc bốn dương. Từ Bính nhập Nhâm, từ Ngọ nhập Tý, từ Đinh nhập Quý là ba âm đắc ba dương. Từ Mùi nhập Sửu, Khôn nhập Cấn, Thân nhập Dần là năm âm đắc năm dương. Từ Canh nhập Khôn, Dậu nhập Mão, Tân nhập Ất là hai âm đắc hai dương.
Chiều ngược lại cũng vậy: từ Tuất nhập Thìn, Kiền nhập Tốn, Hợi nhập Tỵ là bốn dương đắc bốn âm; từ Sửu nhập Mùi, Dần nhập Thân, Cấn nhập Khôn là năm dương đắc năm âm; từ Thân nhập Canh, Mão nhập Dậu, Ất nhập Tân là hai dương đắc hai âm.
Từ dương nhập âm thì chủ tài lộc, gia tài dư dả, đàn ông trong nhà trung tín, đàn bà tiết hạnh. Từ âm nhập dương thì nhà phát tài, gia súc đông, con cháu vui vầy. Từ dương nhập dương thì tai nạn liên miên, gia tài suy bại, con cháu thương tâm.
Còn có những trường hợp tuy dương phối âm mà vẫn không hòa: từ Kiền nhập Ly, từ Khảm nhập Khôn, từ Tốn nhập Đoài, từ Cấn nhập Tốn. Những lối ấy rốt cuộc không thể thành đôi, đàn ông góa vợ, đàn bà góa chồng, con cháu ly tán. Và nếu từ Ly nhập Kiền, Khôn nhập Khảm, Đoài nhập Chấn, Tốn nhập Cấn, tuy là âm phối với dương nhưng bản thân không phải tứ cát, nhà bị tán tài, con cháu lưu lạc tha phương.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
