Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tám quẻ đơn, ngũ hành, địa chi: nền móng đọc quẻ

Bói Dịch - Nhập môn02/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Tám quẻ đơn, ngũ hành, địa chi: nền móng đọc quẻ

Người hỏi chuyện làm ăn và người hỏi chuyện nhà cửa mở quẻ ra, cả hai đều phải bắt đầu từ cùng những cái tên: tám quẻ, năm hành, mười hai chi. Thiếu chúng, mọi quy tắc về sau chỉ là chữ nghĩa trôi trên giấy. Vậy cần nhớ những gì, và nhớ theo thứ tự nào?


Tám quẻ đơn: cái tên phải thuộc lòng trước tiên

Mọi môn huyền học phương Đông đều đứng trên cùng một nền: Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng làm thành Bát quái. Ai nghĩ ra thứ tự ấy, nói đúng hay chưa đúng, không quan trọng với người học bói. Giống như chiếc bánh xe, chẳng cần biết ai phát minh, chỉ cần biết nó chở được hàng. Điều cần nhớ là tám quẻ đơn dưới đây, cả tên, cả vật tượng, cả hành:

  • Càn là Trời, thuộc Kim.
  • Đoài là Đầm, thuộc Kim.
  • Ly là Lửa, thuộc Hỏa.
  • Chấn là Sấm, thuộc Mộc.
  • Tốn là Gió, thuộc Mộc.
  • Khảm là Nước, thuộc Thủy.
  • Cấn là Núi, thuộc Thổ.
  • Khôn là Đất, thuộc Thổ.

Tám quẻ này phải nhớ cả thứ tự, vì về sau mỗi cách gieo quẻ đều đòi hỏi đếm theo số thứ tự của chúng. Mỗi quẻ đơn gồm ba vạch, vạch liền là dương, vạch đứt là âm. Chưa nhớ được tám hình ba vạch này thì đọc quẻ nào cũng chậm.

Năm hành sinh khắc: sợi dây nối mọi thứ

Tám cái tên ấy chưa tự chuyển động, cần một sợi dây để chúng sinh ra nhau và đè lên nhau.

Đi cùng tám quẻ là ngũ hành gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, đại diện cho năm yếu tố dựng nên tự nhiên theo cách nhìn triết học phương Đông: kim loại, cây cối, nước, lửa, đất. Giữa chúng có hai vòng quan hệ.

Vòng tương sinh đi theo chiều: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Vòng tương khắc đi theo chiều: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Cả hai vòng được dùng đi dùng lại ở mọi bước, từ chọn nhân vật chính của quẻ đến xét thành bại.

Hai quẻ đơn chồng lên nhau thành một quẻ Dịch

Khi hai quẻ đơn gặp nhau, chúng cho ra một cái tên mới, và có luật đặt tên rõ ràng.

Một quẻ Dịch đầy đủ có sáu vạch, tức là hai quẻ đơn xếp chồng. Quẻ nằm trên gọi là Thượng, quẻ nằm dưới gọi là Hạ. Cách gọi tên chia làm hai trường hợp.

Trường hợp thứ nhất là Thượng và Hạ giống nhau. Giả sử trên Càn dưới Càn, quẻ được gọi là Càn vi Thiên, theo công thức: tên quẻ, chữ “vi”, nghĩa của quẻ bằng chữ Hán. Cũng có người gọi là Bát thuần Càn, theo công thức: bát thuần cộng tên quẻ.

Trường hợp thứ hai là Thượng và Hạ khác nhau. Khi ấy gọi theo thứ tự: nghĩa chữ Hán của quẻ Thượng, rồi nghĩa chữ Hán của quẻ Hạ, rồi tên quẻ. Ví dụ trên Càn dưới Đoài gọi là Thiên Trạch Lý. Chỗ này có một điều đáng nhớ: sáu mươi tư quẻ chỉ có tám quẻ thuần theo công thức đầu, năm mươi sáu quẻ còn lại mang tên riêng, không theo quy tắc chung nào, nên phải học thuộc dần qua bảng.

Địa chi và ngũ hành của chúng

Quẻ chưa đủ, mỗi vạch của quẻ còn phải mang một địa chi và một hành riêng.

Lục hào không chỉ dùng quẻ, mà gắn thêm mười hai địa chi lên từng vạch. Mười hai chi, theo cách gọi dân gian là mười hai con giáp, gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, và có ngũ hành riêng:

  • Hợi và Tý thuộc Thủy.
  • Dần và Mão thuộc Mộc.
  • Tỵ và Ngọ thuộc Hỏa.
  • Thân và Dậu thuộc Kim.
  • Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thuộc Thổ.

Cách gắn địa chi lên quẻ theo một quy ước cố định, chỉ cần nhớ điểm khởi đầu. Quẻ Càn và quẻ Chấn ở vị trí Hạ thì bắt đầu từ Tý, Dần, Thìn. Ở vị trí Thượng thì bắt đầu từ Ngọ, Thân, Tuất. Quẻ Khảm ở Hạ bắt đầu từ Dần, Thìn, Ngọ; ở Thượng bắt đầu từ Thân, Tuất, Tý. Quẻ Cấn ở Hạ bắt đầu từ Thìn, Ngọ, Thân; ở Thượng bắt đầu từ Tuất, Tý, Dần. Quẻ Đoài ở Hạ bắt đầu từ Tỵ, Mão, Sửu; ở Thượng bắt đầu từ Hợi, Dậu, Mùi. Quẻ Ly ở Hạ bắt đầu từ Mão, Sửu, Hợi; ở Thượng bắt đầu từ Dậu, Mùi, Tỵ. Quẻ Tốn ở Hạ bắt đầu từ Sửu, Hợi, Dậu; ở Thượng bắt đầu từ Mùi, Tỵ, Mão. Quẻ Khôn ở Hạ bắt đầu từ Mùi, Tỵ, Mão; ở Thượng bắt đầu từ Sửu, Hợi, Dậu.

Lục thân: năm vai diễn trong một quẻ

Có địa chi rồi, mỗi hào bước vào quẻ với một vai, và vai ấy do cung của quẻ quyết định.

Khi đã có địa chi và hành, quẻ thuộc về một cung, và hành của cung ấy là điểm tựa để gọi tên các vai. Lấy hành của cung làm chuẩn: hào nào cùng hành với cung là Huynh đệ; hào do cung sinh ra là Tử tôn; hào mà cung khắc là Thê tài; hào khắc cung là Quan quỷ; hào sinh cho cung là Phụ mẫu. Năm vai ấy chính là lục thân.

Lấy cung Càn làm ví dụ. Càn thuộc Kim, nên mọi địa chi hành Kim trong quẻ là Huynh đệ. Thổ sinh Kim nên Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Phụ mẫu. Hỏa khắc Kim nên Tỵ, Ngọ là Quan quỷ. Kim khắc Mộc nên Dần, Mão là Thê tài. Kim sinh Thủy nên Hợi, Tý là Tử tôn. Trong quẻ Càn vi Thiên, hào năm là Thân Kim thì chính là Huynh đệ, vì Càn thuộc cung Kim.

Mỗi tên gọi đều có lý do. Hào do cung sinh ra thành con cháu, đồng thời là phúc đức, vì chính mình tạo ra nó. Hào mà cung khắc là thứ mình sai khiến, mình tiêu xài được, nên gọi là Thê tài, gồm vợ và tiền bạc. Hào khắc cung là thứ đè lên mình, vừa là bệnh tật vừa là quan lộc. Hào sinh cho cung là nơi nương tựa, nên mang nghĩa cha mẹ, che chở.

Đổi sang cung Ly cho thấy quy tắc áp dụng đều tay. Ly thuộc Hỏa, nên Tỵ và Ngọ là Huynh đệ. Mộc sinh Hỏa nên Dần và Mão là Phụ mẫu. Thủy khắc Hỏa nên Hợi và Tý là Quan quỷ. Hỏa khắc Kim nên Thân và Dậu là Thê tài. Hỏa sinh Thổ nên Sửu, Thìn, Mùi, Tuất là Tử tôn. Đặt bất kỳ cung nào vào cũng làm được như vậy: tìm hành của cung, rồi đối chiếu hành của từng địa chi.

Quan hệ sinh khắc giữa năm vai: Huynh đệ sinh Tử tôn, Tử tôn sinh Thê tài, Thê tài sinh Quan quỷ, Quan quỷ sinh Phụ mẫu, Phụ mẫu sinh Huynh đệ. Về khắc: Huynh đệ khắc Thê tài, Thê tài khắc Phụ mẫu, Phụ mẫu khắc Tử tôn, Tử tôn khắc Quan quỷ, Quan quỷ khắc Huynh đệ.

Dụng thần: nhân vật chính của quẻ

Năm vai đã có đủ, câu hỏi bây giờ là vai nào sẽ đại diện cho điều mình cần biết.

Sau khi lập xong quẻ, việc đầu tiên là chọn dụng thần. Hãy luôn nhớ rằng thành hay bại của việc cần hỏi nằm ở dụng thần này. Mỗi vai lục thân thường dùng cho những việc như sau:

  • Huynh đệ: anh chị em ruột thịt, bạn bè, các mối quan hệ ngang hàng; hỏi chuyện hùn hạp làm ăn giữa anh em trong nhà thì lấy Huynh làm dụng thần.
  • Tử tôn: con cháu, sức khỏe con cháu, thuốc men, tay nghề của người làm ngành y.
  • Thê tài: nam giới hỏi chuyện hôn nhân, sức khỏe người vợ, tiền bạc, cấp dưới, của cải.
  • Quan quỷ: nữ giới hỏi chuyện hôn nhân, công danh, bệnh tật, sức khỏe người chồng, xin việc ở các ngành liên quan công an, quân đội.
  • Phụ mẫu: sức khỏe cha mẹ, nhà cửa, giấy tờ, thi cử, xe cộ.

Cách chọn ngày nay đã khác so với người xưa ở vài chỗ. Người xưa thường lấy Tài làm dụng thần cho cả việc buôn bán, làm công, làm thợ, nói chung những việc không phải kiểu giấy tờ mà có đường đi thẳng đến tiền. Xin việc làm thêm, việc bán thời gian cũng xem Tài. Còn xin một công việc ổn định thì lấy Phụ mẫu làm dụng thần chứ không còn lấy Quan như thời phong kiến, vì ngày nay việc xin việc gắn với hợp đồng, giấy tờ, phỏng vấn. Điện thoại, máy tính bảng, củ sạc điện thoại cũng lấy Tài.

Cũng cần phân biệt rõ vài chỗ dễ nhầm. Anh em trong nhà thì dùng Huynh. Cha mẹ của vợ hay chồng thì vẫn dùng Phụ, đừng tự suy ra “cha mẹ chồng là người sinh ra chồng nên lấy Tài làm dụng”, vì suy như vậy là sai. Anh em kết nghĩa bằng lời hay bằng giấy tờ thì dụng thần là Ứng chứ không phải Huynh, vì huyết thống chung mới dùng lục thân. Nhà ở thì lấy Phụ; nếu hỏi sống trong đó dễ chịu hay không thì xem hào Thế, còn Phụ mẫu đại diện cho chất lượng xây dựng của căn nhà.

Người hành nghề y cần xem hai quẻ khác nhau: hỏi về tay nghề của bản thân thì lấy Tử tôn, hỏi về đường thăng tiến thì Quan và Phụ không thể bỏ qua. Thầy chữa bệnh, pháp sư cũng dùng Tử. Với bệnh tật, nhìn chung phải xem Quỷ để biết triệu chứng, nhưng cần linh hoạt: quẻ mà Quỷ không động và không trì Thế thì không xét theo hướng ấy. Nếu Thế suy bại, bệnh sắp tới nơi, khi ấy theo hành của hào mà suy ra tạng phủ hay vùng bệnh, đôi khi phải xét thêm lục thú để đủ dữ liệu.

Một điều rất quan trọng: khi xem giúp người khác, chỉ lấy dụng thần của chính người đó làm trọng tâm cho việc đoán thành bại, không lấy dụng thần của sự việc. Ví dụ, hỏi chuyện thi cử của con thì chỉ cần lấy Tử tôn làm dụng thần duy nhất để quyết định thành hay bại, không cần xem thêm Phụ mẫu.

Với ngôi nhà, cách xem quẻ phong thủy là một lối đi riêng. Khi xét hiện trạng một ngôi nhà, người ta lấy đủ sáu hào. Trước hết xét tổng thể bằng quẻ chung để biết nơi nào đáng lo, sau đó đi vào từng chỗ cụ thể bằng cách gieo thêm từng quẻ thủ công cho chỗ ấy. Quan điểm của phong thủy và của Dịch là hai phạm trù khác nhau, đừng trộn lẫn.

Bốn vị tinh quanh dụng thần

Nhân vật chính không bao giờ đứng một mình, quanh nó còn bốn vị ủng hộ hoặc phá bĩnh.

Dụng thần không đứng một mình. Quanh nó có bốn vị tinh, tạo thành bộ năm thần với quan hệ sinh khắc cố định:

  • Nguyên thần là hào sinh cho dụng thần.
  • Kỵ thần là hào khắc dụng thần.
  • Tiết thần là hào bị dụng thần sinh ra, nên làm hao khí của dụng thần.
  • Cừu thần là hào khắc nguyên thần, tức kẻ thù của người giúp mình.

Cứ nhớ: Nguyên thần sinh Dụng thần; Kỵ thần khắc Dụng thần; Tiết thần làm Dụng thần mất khí hoặc là nơi Dụng thần sinh ra; Cừu thần khắc Nguyên thần. Năm vị trí này là bộ khung dùng suốt từ đầu đến cuối quá trình đọc quẻ, nên ngay từ đầu phải vẽ ra rõ ràng trên giấy.

Thứ tự làm việc cho người mới

Biết đủ người trong quẻ rồi, còn lại là biết đi từ đâu đến đâu.

Người mới nên đi theo một trình tự đơn giản. Trước hết đặt rõ câu hỏi, rồi lập quẻ. Sau đó xem quẻ thuộc cung nào, ghi địa chi và lục thân lên từng hào. Tiếp đến chọn dụng thần theo đúng việc cần hỏi và vẽ ra nguyên thần, kỵ thần, tiết thần, cừu thần quanh nó. Cuối cùng mới xét hào ấy vượng hay suy, có động hay không. Mỗi bước phải thật chắc rồi mới sang bước kế, nếu không các quy tắc về sau sẽ chồng lên nhau và rất dễ nhầm.

Ngoài ra, lục thân không nên bị hiểu một cách cứng nhắc theo chữ. Cách gọi như “Huynh đệ”, “Phụ mẫu” chỉ là tên vai trong cuộc chơi sinh khắc, còn một hào Huynh đệ có thể đại diện cho người bạn, đối thủ cạnh tranh, hay chính bản thân mình tùy câu hỏi. Chọn đúng dụng thần là một nửa công việc của người xem quẻ. Chọn sai dụng thần thì dù tính vượng suy chính xác đến đâu, kết luận cuối cùng vẫn lệch hướng, bởi mọi phép tính sau đó đều xoay quanh hào này.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn