Cách Xem Dụng Thần - Tăng San Bốc Dịch
Dùng quẻ Càn Vi Thiên làm mẫu để dạy cách tìm Dụng thần và xét lẽ sinh khắc suy vượng của ngũ hành qua Nguyệt kiến, Nhật thần, hào động và hào biến, cùng bảng liệt kê Dụng thần cho từng việc xem (cha mẹ, anh em, thê tài, con cháu, công danh...).
Cách xem Dụng thần và ngũ hành sinh khắc suy vượng
Dã Hạc nói: "Đạo của Chu Dịch, là để biết được thiên thời hạn hán hay mưa lụt, biết được địa lợi bội thu hay thất bát, biết được thời vận hưng thịnh hay suy vi, biết được bệnh tật được sống hay chết, biết được công danh thành hay bại, biết được tài vận tụ hay tán, biết được họa phúc để tìm đến hay tránh xa, nên người ta không thể không học Dịch.
Phàm học xem quẻ, trước tiên phải đọc "Hỗn Thiên Giáp Tý, Lục Thân Ca", học cách sắp xếp ngũ hành, lục thân, rồi tiếp tục học về biến động. Trong quẻ đã có hào động, động ắt sẽ biến. Đã biết lẽ động biến, sẽ xem đến Dụng thần, Nguyên thần, Kỵ thần, biết được những lẽ đó là đã bước vào được cánh cửa của Chu Dịch.
Lại xem chương "Tứ thời vượng tướng", chương "Ngũ hành tương sinh tương khắc", chương "Ngũ hành tương xung hương hợp", chương "Tuần Không", chương "Nguyệt phá", "Sinh vượng Mộ Tuyệt", như vậy là đã vào được trong điện đường của Chu Dịch! Lại xem các phần của quyển sau, để biết xem về chuyện gì cần dùng đến những phương pháp suy đoán nào. Đi dần từ nông đến sâu, sẽ đắc được chỗ thâm áo của nó. Chưa đến nửa năm, đã tiếp thu được tri thức trong mười mấy năm học của ta. Nay ta hãy điểm một quẻ, để dạy cho anh cách tìm Dụng thần và hiểu được cái lẽ sinh khắc suy vượng của ngũ hành."
Phàm khi xem về chuyện gì, trước hết cần ghi rõ năm, tháng, ngày, giờ rồi đối chiếu với chương Lục thân, viết ra Lục thân, sau đó đoán quẻ.
Ví dụ, xem được quẻ Càn Vi Thiên:
Nếu tự đoán cát hung cho mình, thì dùng hào Thế làm Dụng thần. Trong quẻ này, Dụng thần ở hào Tuất thổ, thì lấy Tuất thổ làm thân mình, nếu được vượng tướng là tốt, kỵ nhất là gặp hưu tù. Tốt hơn cả là nên gặp Tị, Ngọ hỏa để tương sinh, tối kỵ bị Dần, Mão mộc tương khắc. Hào Thế cũng không nên gặp Tuần Không, càng không nên gặp Nguyệt phá. Ở đây hào Thế gặp Tuất thổ, có 4 chỗ sinh khắc xung hợp.
Thứ nhất: Quan hệ sinh khắc xung hợp của Nguyệt kiến
Trong quẻ này, hào Thế tại Tuất thổ, nếu như xem tại tháng Dần tháng Mão, sẽ bị hành mộc của Dần, Mão khắc hại, tức hào Thế bị tổn thương. Nếu là tự đoán cát hung cho bản thân, thì quẻ này là hưu tù bất lợi. Nếu xem tại tháng Thìn, Thìn xung Tuất thổ, là Nguyệt phá, như vậy là hào Thế gặp Nguyệt phá, cũng có nghĩa bản thân mình không khác gì vật đã vỡ hỏng, không có tác dụng gì.
Nếu xem tại tháng Tị, tháng Ngọ, thì Tị, Ngọ hỏa chính là Quan tinh, sinh ra Tuất thổ, như vậy là hỏa vượng thổ tướng, hào Thế gặp vượng tướng, mọi sự đều thuận lợi.
Nếu xem tại tháng Mùi, Sửu, hai tháng này là thời điểm thổ vượng, cũng có thể phụ trợ cho Tuất thổ. Khi đó, hào Thế tại Tuất thổ cũng được gọi là vượng tướng, cũng đều cát lợi.
Nếu xem tại tháng Tuất, hào Thế nằm tại Tuất thổ, tính về Nguyệt kiến, như vậy là vượng tướng lại được thời, nếu tự xem cho mình, thì mọi việc đều hanh thông.
Nếu xem tại các tháng Thân, Dậu, Hợi, Tý thì Tuất thổ đều ở thời điểm tiết khí, như vậy là hào Thế hưu tù, bất lực.
Như vậy là Nguyệt kiến có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng thần của hào Thế Tuất thổ.
Về Dụng thần, thì khi tự đoán cát hung, lấy hào Thế làm chủ. Khi đó, không gọi là hào Thế, mà gọi là Dụng thần. Xem cho cha mẹ, thì lấy hào Phụ mẫu làm Dụng thần.
Thứ hai: Quan hệ sinh khắc xung hợp của Nhật thần
Tại quẻ này, hào Thế tại Tuất thổ, nếu như xem vào ngày Dần, ngày Mão, thì Dần, Mão mộc sẽ khắc hại Tuất thổ, như vậy hào Thế đã bị Nhật thần khắc hại, là điềm bất lợi.
Nếu xem vào ngày Thìn, Thìn xung Tuất thổ, như vậy gọi là hào Thế ám động.
Nếu xem vào ngày Tị, Ngọ, thì Tị, Ngọ chính là Quan tinh, sinh ra Tuất thổ, như vậy là hào Thế gặp Quan tinh mà sinh vượng, mọi việc đều cát lợi.
Nếu xem vào ngày Mùi, ngày Sửu, thì Mùi, Sửu thổ phụ trợ cho thổ, như vậy, Tuất thổ cũng được trợ giúp.
Nếu xem vào ngày Tuất, thì hào Thế gặp Nhật kiến, được thời được quyền.
Nếu xem vào ngày Thân, Dậu, Hợi, Tý thì Tuất thổ không khắc không sinh.
Như vậy là Nhật kiến có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng thần.
Thứ ba: Quan hệ sinh khắc xung hợp của hào động trong quẻ
Tại quẻ này, hào Thế là Tuất thổ, nếu hào 2 trong quẻ là Dần mộc phát động, sẽ khắc Tuất thổ; nếu hào 4 là Ngọ hỏa Quan tinh phát động, sẽ sinh Tuất thổ; hào 3 Thìn thổ phát động, sẽ xung Tuất thổ; như vậy là hào động trong quẻ có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng thần.
Thứ tư: Nếu bản thân hào Thế phát động, sẽ có quan hệ hồi đầu sinh, hồi đầu khắc của hào biến
Hào Thế tự phát động, động ắt sẽ biến, nếu biến ra Tị, Ngọ hỏa, gọi là hồi đầu sinh Thế. Nếu biến ra Dần mộc, Mão mộc, gọi là hồi đầu khắc Thế. Nếu biến ra Thìn thổ, gọi là hồi đầu xung Thế. Nếu biến ra Mão mộc, gọi là hợp Thế.
Như vậy là hào mà Dụng thần biến ra có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng thần.
Tân bình thích: Lý luận này rất đúng, nhưng ví dụ đưa ra không ổn. Quẻ này hào Thế phát động sẽ không hóa ra Tị Ngọ hỏa. Hào 6 muốn được Tị hỏa thì ngoại quái phải là Ly, tức là hào 5 độc động, hào Thế không động; Ngọ hỏa sẽ không hóa ở hào 6. Hào Thế độc động sẽ hóa ra Mùi thổ; hào 5, hào 4 phát động, hào Thế tĩnh mà vô hóa; hào 6, hào 5 phát động, hào Thế hóa ra Tuất thổ; hào 6, hào 4 phát động, hào Thế hóa ra Tý thủy; cả ba hào 4, 5, 6 đều động, hào Thế hóa ra Dậu kim. Ở trên nói hào Thế biến ra Dần Mão mộc hồi đầu khắc, biến ra Thìn thổ hồi đầu sinh, biến ra Mão mộc hợp Thế, đều không hợp lý. Cần phải xem phần luận phía sau của Dã Hạc.
Nếu bốn quan hệ trên đây đều là tương sinh, tương hợp Dụng thần thì các quẻ xem được đều cát lợi.
Tân bình thích: Nếu được bốn chỗ đều đến sinh Thế thì chưa hẳn là cát, quá vượng sẽ biến thành hung.
Nếu chỉ có ba chỗ tương sinh, một chỗ tương khắc, thì cũng được coi là cát lợi. Nếu có hai chỗ tương khắc, hai chỗ tương sinh, cần phải xem lẽ vượng, suy. Hào sinh ra Dụng thần, nếu được vượng tướng thì được coi là cát. Nếu hào khắc Dụng thần là vượng tướng, thì quẻ đó là hung. Nếu có ba chỗ tương khắc, một chỗ tương sinh, mà hào được tương sinh là vượng tướng, thì gọi là "khắc xứ phùng sinh" (nơi khắc gặp sinh), trong hung được cát; nếu hào này hưu tù thì, sinh chỉ có danh mà không có thực, cũng tương tự như trường hợp cả bốn đều khắc, mọi việc đều hung.
Có người hỏi rằng: "Quẻ này hào Thế là Tuất thổ lẽ nào không thể biến thành Dần, Mão, Tị, Ngọ hay sao?" Ta đáp rằng: "Các hào khác phần nhiều đều biến thành ra hồi đầu sinh khắc, mượn đây để làm phương pháp vậy".
Lại hỏi: "Mão mộc có thể khắc Tuất thổ, lại hợp với Tuất, vậy nên coi đó là khắc hay hợp?" Ta đáp: "Điều này đã trình bày trong chương Ngũ hành tương hợp".
Lại hỏi rằng: "Quẻ này là quẻ Càn Vi Thiên, trong quẻ thì Ngọ hỏa là Quan tinh, tại sao xem vào năm Ngọ tháng Ngọ ngày Ngọ, thì cũng lấy Ngọ đó làm Quan tinh, thế là tại sao?" Ta bèn đáp rằng: "Bất kể là xem được quẻ nào, nếu trong quẻ có Tị, Ngọ hỏa làm Quan tinh, khi xem vào tháng, ngày Tị, Ngọ, thì tháng, ngày Tị, Ngọ đó cũng là Quan tinh. Nếu trong quẻ có Tị, Ngọ hỏa làm Tài tinh, mà xem vào tháng, ngày Tị, Ngọ, thì cũng coi đó là Tài tinh. Những trường hợp khác cũng tương tự".
Về vượng tướng và hưu tù, tra trong chương "Vượng tướng". Về không và phá, tra trong chương "Tuần Không", "Nguyệt phá". Về xung và hợp, tra trong chương "Ngũ hành tương xung", "Ngũ hành tương hợp". Về sinh và khắc, tra trong chương "Ngũ hành tương sinh", "Ngũ hành tương khắc". Về Nguyên thần, tra trong chương "Nguyên thần". Về Dụng thần, Quan tinh, tra trong chương "Dụng thần". Về ám động, tra trong chương "Ám động". Về hồi đầu sinh, hồi đầu khắc, tra trong chương "Động biến sinh khắc". Về Nhật thần, Nguyệt kiến, tra trong chương "Nhật thần", "Nguyệt tướng".
Xem cho cha mẹ, thì lấy hào Phụ Mẫu trong quẻ làm Dụng thần. Trong quẻ này, hai hào Thìn, Tuất đều là hào Phụ Mẫu, nếu cả hai hào đều động, hoặc đều không động, thì chọn hào vượng làm Dụng thần. Nếu có một hào động, thì chọn hào động làm Dụng thần. Phụ Mẫu nếu rơi vào hào Thìn thổ hoặc Tuất thổ, thì thổ là Phụ Mẫu, tốt nhất nên gặp hỏa tương sinh, kỵ bị mộc tương khắc, kỵ gặp Nguyệt phá, Tuần Không. Cũng có bốn chỗ sinh khắc xung hợp, nếu sinh nhiều khắc ít là cát lợi, có thể tham khảo phần hào Thế trên đây.
Xem về nhà cửa, tàu thuyền, xe cộ, thư tín, tấu chương, đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, cần xem kỹ chương "Dụng thần".
Xem về chuyện của người khác, dùng hào Ứng làm Dụng thần. Trong quẻ này, hào Ứng tại Thìn thổ, bốn chỗ cùng tương sinh là tốt; bốn chỗ đều xung khắc là hung.
Xem chuyện của anh em, dùng hào Huynh Đệ làm Dụng thần. Trong quẻ này, hào Huynh Đệ tại Thân kim, nên dùng hào này. Nên gặp thổ tương sinh, kỵ gặp hỏa tương khắc, kỵ gặp Nguyệt phá, Tuần Không. Cũng có bốn chỗ sinh khắc, nếu sinh nhiều khắc ít là cát; nếu khắc nhiều sinh ít là hung.
Lại nói về hào Huynh Đệ, chính là thần cướp của. Nếu xem về sự an nguy lành dữ của anh chị em trong nhà, nếu được sinh vượng là tốt, kỵ gặp Nguyệt phá, Tuần Không. Nếu xem về thê thiếp, nô bộc và tài sản, nên khắc nhiều sinh ít, tốt nhất là Huynh Đệ nên gặp Tuần Không, Nguyệt phá, khiến cho nó không thể cướp đoạt được của cải của mình, hay khắc thê thiếp, nô bộc của mình.
Xem về thê thiếp, nô bộc và tài sản, dùng hào Thê Tài làm Dụng thần. Trong quẻ này, hào Thê Tài tại Dần mộc, chính là Dụng thần. Kỵ gặp Tuần Không, Nguyệt phá, nên gặp thủy tương sinh, tránh gặp kim tương khắc. Cũng có bốn chỗ sinh khắc, sinh nhiều khắc ít là cát, cũng tương tự như trường hợp trên.
Xem về mua bán vàng bạc cũng lấy hào Thê Tài làm Dụng thần, cần đọc kỹ chương "Dụng thần".
Xem về con cháu, lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Trong quẻ này, Tử Tôn tại hào sơ Tý thủy, chính là Dụng thần. Kỵ gặp Nguyệt phá, Tuần Không, ưa gặp kim tương sinh, tránh gặp thổ tương khắc. Cũng có bốn chỗ sinh khắc xung hợp, nên khắc ít sinh nhiều, cũng tương tự như trường hợp trên.
Xem về việc của người khác, phần nhiều đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần, có thể tra trong chương "Dụng thần".
Xem về công danh, lấy hào Quan Quỷ làm Dụng thần. Trong quẻ này, Ngọ hỏa là Quan tinh, tức dùng hào này làm Dụng thần. Tối kỵ gặp Tuần Không, Nguyệt phá, tránh gặp thủy tương khắc, ưa gặp mộc tương sinh. Cũng có bốn chỗ sinh khắc, tương tự như trường hợp trên.
Xem về chuyện tà ma quỷ quái, gian thần giặc cướp, đều lấy hào Quan Quỷ làm Dụng thần, cần đọc kỹ trong chương "Dụng thần".
Những việc cần suy xét từ xưa đến nay, đều ghi rõ phương pháp xem quẻ ở quyển sau, e rằng anh mới học, không biết bắt đầu từ đâu, nên viết bài này làm cương lĩnh, để giúp anh nhập môn. Biết được cương lĩnh này, sau đó đọc kỹ các chương ở sau, đi từ nông đến sâu, tự đi đến chỗ toàn thiện.
Bản toàn đồ tám cung trên đây đều là hào tĩnh. Nhưng hào ắt có động, động ắt sẽ biến. Phần phía sau tuy cũng có chương "Động biến", nhưng e rằng anh không hiểu rõ, nên sắp một quẻ biến ra đây làm mẫu, để giải thích cho anh được biết.
Trong quẻ có O sẽ biến thành nét đứt (âm), vòng tròn là trùng, trùng là dương, dương động sẽ biến thành âm.
Trong quẻ có X sẽ biến thành nét liền (dương), dấu gạch chéo là giao, giao là âm, âm động sẽ biến thành dương.
Ví dụ: Xem được quẻ Trạch Thiên Quải biến Thiên Phong Cấu.
Ba hào trên là quẻ ngoại, là quẻ Đoài, Đoài vi Trạch (đầm); ba hào dưới là quẻ nội, là quẻ Càn, Càn vi Thiên (trời).
Trạch trên Thiên dưới, là quẻ Trạch Thiên Quải, tìm ra quẻ Trạch Thiên Quải trong bản toàn đồ, đối chiếu vào đó để sắp đặt Thế, Ứng, ngũ hành, lục thân. Sau đó, lại xem hình tượng của ba hào trên, thấy hào 6 của quẻ Đoài là hào giao động, X sẽ biến thành nét liền, như vậy, quẻ Đoài đã biến thành quẻ Càn, Càn vi Thiên.
Lại xem ba hào dưới của quẻ Càn, thấy hào sơ trùng động, O biến thành hào đứt, như vậy, quẻ Càn đã biến thành quẻ Tốn, Tốn vi Phong.
Thiên trên Phong dưới, là quẻ Thiên Phong Cấu. Tra trong bản toàn đồ tìm ra quẻ Thiên Phong Cấu, viết Sửu thổ của hào sơ trong quẻ Cấu vào bên cạnh hào sơ phát động Tý thủy của quẻ trước đó, như thế gọi là Tý thủy biến thành Sửu thổ; viết Tuất thổ của hào 6 trong quẻ Cấu vào bên cạnh hào 6 phát động của quẻ trước đó, như vậy là Mùi thổ biến thành Tuất thổ. Các hào còn lại không động không biến, không cần phải viết ra nữa.
Căn cứ vào lục thân, thì Sửu thổ, Tuất thổ trong quẻ Cấu vốn là Phụ Mẫu, nay đều viết thành Huynh Đệ, là tại sao? Lục thân cần sắp đặt căn cứ vào quẻ gốc. Quẻ trước là Trạch Thiên Quải, thổ là Huynh Đệ, bởi vậy hai hào thổ là Sửu, Tuất của quẻ biến cũng là Huynh Đệ.
Các quẻ khác cũng loại suy ra từ đó.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
