Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Ngũ Hành Sinh Khắc, Động Tĩnh Và Tứ Thời Vượng Tướng Trong Lục Hào

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch16/09/202615 phút đọc4 lượt đọc
Ngũ Hành Sinh Khắc, Động Tĩnh Và Tứ Thời Vượng Tướng Trong Lục Hào

Quan hệ sinh khắc của ngũ hành là trục chính của phép đoán Lục Hào: Dụng thần và Nguyên thần nên được sinh, Kỵ thần và Cừu thần nên gặp khắc. Bị hào này khắc mà được hào khác sinh gọi là khắc xứ phùng sinh, như quẻ Ký Tế biến Cách xem em trai bệnh đậu mùa mà qua khỏi. Sáu hào đều tĩnh thì hào vượng tướng sinh khắc được hào hưu tù; có hào động thì hào động khắc được hào tĩnh. Hào biến chỉ tác động tới đúng hào gốc của nó, còn Nhật thần, Nguyệt kiến mới chi phối được hào biến. Bảng Vượng, Tướng, Hưu, Tù theo mười hai tháng làm nền để cân sức từng hào. Quẻ Lữ biến Càn còn cho thấy một vụ tự sát được đoán ra từ tượng đường ray.


Ngũ Hành Tương Sinh

Chương 11: Ngũ Hành Tương Sinh

Kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim.

Dụng thần và Nguyên thần, nên được tương sinh, như được Nguyệt kiến sinh, Nhật kiến sinh, hào động sinh, động hóa hồi đầu sinh.

Ví dụ: Ngày Kỷ Mão tháng Mão, em trai xem cho anh trai đang mắc tội lớn, mẹ đi kêu oan liệu có cứu được không, được quẻ Địa Lôi Phục biến Chấn Vi Lôi.

Quẻ gốc Địa Lôi Phục
Quẻ biến Chấn Vi Lôi

Lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần, hào Huynh Đệ Sửu thổ động, bị Nhật thần, Nguyệt kiến Mão mộc tương khắc, chủ về tội lớn khó thoát. Nhưng may được Huynh Đệ Sửu thổ biến thành Phụ Mẫu Ngọ hỏa, hồi đầu tương sinh. Nên đoán rằng: "Cần mau chóng đi kêu oan, Phụ Mẫu sinh Huynh, ý tứ của thần linh đã rõ ràng." Về sau, quả nhiên được miễn tội chết.

Tân bình thích: Ví dụ này Huynh Đệ được cứu, chính là Nguyên thần được Nhật Nguyệt sinh trợ, vượng mà có lực sinh Dụng thần, lại lâm Thanh Long, là tượng trong hung có hỉ. Nếu như Nguyên thần hưu tù vô lực, chưa hẳn được cứu.

Ví dụ: Năm Tân Tị có Dịch hữu Trương tiên sinh ở Đường Sơn đến thăm và đưa tôi xem một quẻ, ngày Canh Thân tháng Mùi, xem em gái bên ngoài bao giờ trở về, được quẻ Hỏa Sơn Lữ biến Càn Vi Thiên, bảo tôi phán đoán.

Quẻ gốc Hỏa Sơn Lữ
Quẻ biến Càn Vi Thiên

Tôi đoán rằng: Em gái người này sẽ không trở về, sợ rằng đã tự sát ở bên ngoài.

Trương tiên sinh đáp: Hôm trước ngày gieo quẻ, tức là ngày Đinh Mùi, cô gái này đã nằm đường ray tự sát. Trong quẻ Dụng thần động hóa hồi đầu sinh, tại sao không trở về được? Làm sao ông biết là tự sát?

Tôi trả lời: Trong quẻ này Dụng thần Huynh Đệ Ngọ hỏa Nguyệt hợp là có khí, lại động hồi đầu sinh, nhưng hóa ra Nguyên thần nhập Mộ ở Nguyệt kiến, Nhật thần khắc Tuyệt, vô lực sinh Dụng, trở về là xác chết.

Nguyên thần chính là tư duy và thế giới nội tâm của một cá nhân, Dụng thần lâm hào 2, hào 2 là trạch (nơi ở), Nguyên thần không hiện trên quẻ, Mộ ở Nguyệt kiến và hào động Mùi thổ, Tuyệt ở Nhật, không thể sinh hào 2 Dụng thần, chính là bản thân cô gái không muốn về nhà. Dụng thần, Nguyên thần hưu tù, Nguyên thần gặp một trong Tử Mộ Tuyệt, phần lớn là tự sát, Nguyên thần Tử tại Ngọ hỏa, Mộ tại Mùi thổ, Tuyệt tại Thân kim, Tử Mộ Tuyệt đều đầy đủ, vì vậy mới dám đoán là tự sát.

Quẻ này rất hay, Nguyên thần Mộ ở hào 5, Dụng thần cũng hợp ở hào 5, hào 5 là đường đi, hóa ra Thân kim, chính là đường ray, tượng nằm đường ray tự sát rất rõ ràng.

Lại ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Tị, xem về bệnh tật, được quẻ Cấu.

Quẻ Thiên Phong Cấu

Thầy thuốc mang quẻ này đến hỏi ta rằng: "Người nọ mắc bệnh rất hiểm nghèo, nên tôi bảo người bệnh gieo quẻ xem uống thuốc có chữa được hay không? Quẻ này Nguyệt kiến Tị hỏa, hào Ứng là Ngọ hỏa sinh hào Thế Mão mộc, chủ về chữa khỏi được, tại sao uống thuốc đều không có tác dụng?"

Ta bèn đáp rằng: "Ý tứ của quẻ này rất rõ ràng, chẳng qua là anh xem sai. Xem về thuốc thang cần lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần, lấy hào Phụ Mẫu làm Kỵ thần. Quẻ này Hợi thủy là Tử Tôn, gặp Nguyệt phá mà vô căn, được Nhật thần Thân tương sinh cũng không sinh khởi được, hào Thế là Phụ Mẫu lại khắc Tử Tôn. Như vậy gọi là Phụ Mẫu trì Thế, có thuốc thần cũng khó chữa, như vậy uống thuốc làm sao có tác dụng được? Chẳng phải là quẻ không chính xác, mà do anh suy đoán không đúng mà thôi."

Tân bình thích: Luận bàn này của Dã Hạc không đúng, Tử Tôn mặc dù là Nguyệt phá, sao lại Nhật sinh bất khởi? Đây là dạy người ta "hễ là hào Nguyệt phá thì khỏi cần xem Nhật, Nguyệt phá thì vô căn, Nhật sinh cũng suy ra là hung", cái lý này dễ khiến chúng ta lầm đường lạc lối. Quẻ này ý nghĩ xem thuốc phát sinh từ thầy thuốc, không phải từ nội tâm của người bệnh, mặc dù là người bệnh gieo quẻ, nhưng vẫn coi như thầy thuốc gieo quẻ xem cho người bệnh, lấy Ứng làm Dụng thần. Dã Hạc bảo người ta xem nhiều quẻ chính là mời, người thầy thuốc này bảo người ta gieo quẻ chính là mệnh lệnh, có sự khác biệt về bản chất. Trong quẻ Ứng ở người bệnh, mặc dù được Nguyệt kiến trợ giúp, nhưng Nguyên thần không ở trong quẻ, không được Nguyệt sinh, Nhật thần khắc, vô lực sinh Dụng, vì vậy thuốc không công hiệu. Tử Tôn là thuốc, chính là lục thân khắc Dụng thần, uống thuốc làm sao có hiệu nghiệm?

Ngũ Hành Tương Khắc

Chương 12: Ngũ Hành Tương Khắc

Kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim.

Kỵ thần và Cừu thần, nên gặp khắc, như bị Nguyệt kiến khắc, Nhật thần khắc, hào động khắc, động hóa hồi đầu khắc.

Nếu như Dụng thần, Nguyên thần gặp một trong bốn thứ khắc trên đây, lại không được những hào khác sinh vượng, phò trợ, thì là điềm hung. Xem về việc tốt, ắt vui quá hóa buồn; xem về việc xấu, cần phải nhanh chóng tránh né.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Mão, xem về việc cha đang vướng chuyện kiện tụng, đã bị khép tội nặng, được quẻ Trạch Địa Tụy biến Thiên Hỏa Đồng Nhân:

Quẻ gốc Trạch Địa Tụy
Quẻ biến Thiên Hỏa Đồng Nhân

Tại quẻ ngoại, hào Phụ Mẫu Mùi thổ bị Nguyệt kiến Mão khắc. Tại quẻ nội, Hợi, Mão, Mùi hợp thành tam hợp mộc cục, khắc chế Mùi thổ; Phụ Mẫu bị Nguyệt kiến khắc, bị Nhật thần hình, nên không còn cứu vãn được. Về sau, quả nhiên người cha bị khép trọng hình.

Cùng ngày tháng trên, em gái xem cho anh trai vướng chuyện kiện tụng, đã bị khép trọng tội, được quẻ Thiên Địa Bĩ biến Thiên Thủy Tụng:

Quẻ gốc Thiên Địa Bĩ
Quẻ biến Thiên Thủy Tụng

Lấy hào Huynh Đệ Thân kim làm Dụng thần, hào Quan Quỷ Tị hỏa động, hình khắc Thân kim, nên trọng tội đã định. May được Nhật thần Thìn xung động Phụ Mẫu Tuất thổ, khiến Tuất thổ ám động mà sinh ra Thân kim, là trong khắc gặp sinh, nếu còn cha mẹ, ắt được cứu. Sau vì cha người này tuổi đã bát tuần, nên theo lệ nộp tiền chuộc mà được miễn tội chết.

Tân bình thích: Quẻ này Nguyệt hợp Tuất thổ là hợp vượng, lại được Quan Quỷ Tị hỏa sinh, vì vậy Nhật xung là ám động. Đồng thời Nhật Nguyệt không khắc Dụng thần, Dụng thần vốn được Nhật sinh phù là có căn (có gốc rễ), nếu Nhật Nguyệt khắc Dụng thì dù cho có Nguyên thần ám động cũng chưa hẳn là cát.

Lại ví dụ: Vào ngày Quý Hợi tháng Mão, sau khi chuyển sang ở nhà mới, người nhà không được yên ổn, xem được quẻ Thủy Thiên Nhu biến Càn Vi Thiên:

Quẻ gốc Thủy Thiên Nhu
Quẻ biến Càn Vi Thiên

Hào Tử Tôn Thân kim trì Thế, biến thành Ngọ hỏa hồi đầu khắc, như vậy là bản thân cùng con cháu đều bị khắc. Hào 6 Tài Tý thủy động hóa thổ hồi đầu khắc thủy, Tài là tượng trưng cho thê thiếp nô bộc, nên chủ về cả nhà bị hại, cần nhanh chóng chuyển đi chỗ khác.

Người này bèn hỏi rằng: "Nếu sửa đổi hướng cổng, liệu có tránh được tai họa không?" Ta bèn đáp: "Không thể! Vì phạm kỵ hồi đầu khắc bản thân mình, đến mùa hạ hỏa vượng, ắt gặp tai họa".

Nhà người này nằm bên sông Hoàng Hà, vì chần chừ chưa chuyển, sang tháng Ngọ vỡ đê, cả nhà chín người trôi theo sóng nước. Ứng vào tháng Ngọ, vì đến Ngọ là hỏa thịnh, khắc Thế khắc Tử, lại xung Tý thủy Thê Tài, chủ về cả nhà gặp họa.

Thánh nhân làm ra "Dịch", để giúp người ta tìm cát tránh hung. Người không xem mà không biết, đó cũng là số trời. Xem mà thần linh không mách cho, đó cũng là số trời. Quẻ đã xem, đã được thần linh mách bảo, tức biết rõ mà vẫn làm trái, thì không thể đổ tất cả cho số, cho mệnh.

Khắc Xứ Phùng Sinh

Chương 13: Khắc Xứ Phùng Sinh

Bị hào này khắc, lại được hào khác sinh, như vậy là khắc xứ phùng sinh (trong khắc gặp sinh).

Dụng thần, Nguyên thần, được khắc ít sinh nhiều là cát lợi.

Còn với Kỵ thần, bị khắc ít sinh nhiều là hung, bởi vậy Kỵ thần nên gặp khắc, không nên gặp sinh.

Tân bình thích: Lý này của Dã Hạc rất đúng, nếu như sức mạnh của Kỵ thần và Dụng thần tương đương, không thể phân biệt, thì hãy xem sự suy vượng của Nguyên thần và Cừu thần ra sao, Nguyên thần vượng thì đoán là cát, Cừu thần vượng thì đoán là hung.

Ví dụ: Vào ngày Bính Thân tháng Thìn, xem cho em trai bị bệnh đậu mùa, đã đến lúc nguy kịch, được quẻ Ký Tế biến Cách:

Quẻ gốc Thủy Hỏa Ký Tế
Quẻ biến Trạch Hỏa Cách

Bèn đoán rằng: Nguyệt kiến tại Thìn thổ, tuy khắc Huynh Đệ Hợi thủy, nhưng nhờ được Nhật thần Thân tương sinh, lại được hào động Thân kim tương sinh, nên tuy nguy kịch, sau vẫn được cứu. Quả nhiên đến giờ Dậu ngày đó, gặp được danh y cứu chữa, đến ngày Kỷ Hợi đã khỏi hoàn toàn.

Động Tĩnh Sinh Khắc: hào vượng tướng trong quẻ tĩnh

Chương 14: Động Tĩnh Sinh Khắc

Nếu sáu hào đều yên tĩnh, hào vượng tướng có thể sinh ra hào hưu tù, cũng có thể khắc được hào hưu tù. Vượng tướng cũng tương tự như người có sức mạnh.

Ví dụ: Vào tháng Dần, tháng Mão mùa xuân, xem được quẻ Khôn:

Quẻ Khôn Vi Địa

Nếu như xem cho cha mẹ, thì lấy hào Phụ Mẫu Tị hỏa làm Dụng thần. Hào 3 Mão mộc tại mùa xuân là vượng tướng. Phụ Mẫu Tị hỏa, gặp mộc mùa xuân tương sinh, Phụ vượng sẽ khắc Tử Tôn, nên nếu xem về con cháu, thì là tượng con cháu suy vi.

Mộc mùa xuân được thời đắc lệnh, nên có thể khắc được hai thổ là Sửu, Mùi. Thổ nằm tại hào Huynh Đệ, nên nếu xem về anh chị em, thì là tượng hưu tù, không có khí. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đấy.

Tân bình thích: Chỗ này nói rất đúng, thường có rất nhiều người gặp phải quẻ tĩnh mà không biết bắt đầu từ đâu. Trước tiên xem ảnh hưởng của Nhật Nguyệt đối với Dụng thần ra sao, sau đó xem ảnh hưởng của hào vượng đối với Dụng thần, kết hợp lại mà đoán, thì sẽ không phán đoán sai lầm.

Ví dụ: Ngày Ất Hợi tháng Mão, một người phụ nữ muốn thuê một quầy hàng, xem buôn bán thế nào? Được quẻ Tốn:

Quẻ Tốn Vi Phong

(Bản cung thuộc Mộc; Không Vong: Thân, Dậu.)

Lấy Thê Tài làm Dụng thần. Dụng thần mặc dù Tử Tôn ám động đến sinh, nhưng Nguyệt kiến khắc, Huynh Đệ trì Thế lại khắc, quẻ lục xung, tượng không lâu dài, không nên thuê quầy hàng, nếu thuê thì mở không được lâu dài.

Nghe lời tôi không thuê. Một tháng sau, quầy hàng đó đã bị tháo dỡ.

Trong quẻ có hào động sẽ khắc được hào tĩnh. Cho dù hào tĩnh là vượng tướng, cũng không thể khắc được hào động. Nên tĩnh cũng như người ngồi, người nằm; động, cũng như người đi, người chạy.

Động Tĩnh Sinh Khắc: hào động khắc hào tĩnh

Trong quẻ có hào động sẽ khắc được hào tĩnh. Cho dù hào tĩnh là vượng tướng, cũng không thể khắc được hào động. Nên tĩnh cũng như người ngồi, người nằm; động, cũng như người đi, người chạy.

Ví dụ: Vào tháng Dần, xem được quẻ Đoài biến Quy Muội:

Quẻ gốc Đoài Vi Trạch
Quẻ biến Lôi Trạch Quy Muội

(Quẻ gốc bản cung thuộc Kim.)

Hào Dậu kim phát động, tuy hưu tù, nhưng động nên vẫn khắc được Mão mộc vượng tướng.

Mão mộc tuy đương lệnh, có thể khắc hai hào thổ Sửu, Mùi. Nhưng trong quẻ này, mộc bị Dậu kim khắc thương, nên cũng khó mà khắc được thổ. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.

Tân bình thích: Lý này rất đúng, hiện nay hào động hưu tù, về sau trị Nhật, trị Nguyệt sẽ vượng, khi được vượng liền có thể khắc chế hào khác.

Ví dụ thực tiễn, ngày Ất Dậu tháng Thìn, nam đoán bạn gái đột nhiên ra đi không từ biệt, kết quả ra sao? Được quẻ Tốn biến Tỉnh:

Quẻ gốc Tốn Vi Phong
Quẻ biến Thủy Phong Tỉnh

Tôi đoán rằng: Lấy Thê Tài Mùi thổ Tuần Không làm Dụng thần. Tài Không sinh Ứng, bạn gái đã thay lòng đổi dạ, không muốn tiếp tục chung sống với anh ta, đã phải lòng người khác. Huynh Đệ lâm Huyền Vũ là tượng lừa gạt, bạn gái đã bị người ta lừa đi. Lại là quẻ lục xung, xung thì tán, chắc chắn chia tay.

Sau đó bạn gái trở về vào ngày Hợi, ngày Mão chính thức đề xuất chia tay, nói rằng cô ta đã có người yêu khác.

Ở đây Kỵ thần Mão mộc bị Nhật thần khắc, mặc dù hưu tù phát động nhưng vẫn có thể khắc được Thê Tài Nguyệt kiến cung phù.

Động Biến Sinh Khắc Xung Hợp

Chương 15: Động Biến Sinh Khắc Xung Hợp

Quẻ có hào động, có động ắt sẽ biến. Hào được biến ra, có khả năng sinh, khắc, xung, hợp với hào gốc (bản vị), mà không thể sinh hay khắc các hào khác. Mà các hào khác cùng hào động cũng không thể sinh hay khắc hào biến.

Ví dụ: Vào ngày Mão tháng Tý, xem được quẻ Khôn biến Hỏa Địa Tấn:

Quẻ gốc Khôn Vi Địa
Quẻ biến Hỏa Địa Tấn

Trong quẻ này, hào Dậu kim phát động, biến thành Tị hỏa. Như vậy, Dậu là hào động, hào gốc Tị là hào biến. Hào biến Tị hỏa hồi đầu khắc hào gốc Dậu kim, nhưng không thể sinh hay khắc những hào khác.

Hào 4 là Sửu thổ, động mà sinh hào Thế Dậu kim. Còn hào biến Dậu kim cũng không thể sinh ra các hào khác.

Vậy thứ gì có thể chế ngự được hào biến? Chỉ có Nhật thần, Nguyệt kiến mới có thể sinh, hoặc khắc, hoặc xung, hoặc hợp hào biến. Tại sao lại như vậy? Vì là Nhật thần (ngày), Nguyệt kiến (tháng) cũng như trời, có thể sinh hoặc khắc hào động, hào tĩnh, hào phi, hào phục, hào biến, trong khi các hào đều không thể thương hại đến Nhật Nguyệt. Trong "Hoàng kim sách" có viết:

"Hào gây tổn thương đến Nhật Nguyệt, chỉ là nói suông".

Như trong quẻ này, Tý thủy là Nguyệt kiến, có thể khắc được hào Tị hỏa biến ra từ hào Thế; Mão là Nhật kiến, có thể xung được hào biến Dậu kim. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đấy.

Tứ Thời Vượng Tướng

Chương 16: Tứ Thời Vượng Tướng

Tháng giêng: Dần là Nguyệt kiến, Dần mộc vượng, tiếp đến là Mão mộc.

Tháng hai: Mão là Nguyệt kiến, Mão mộc vượng, tiếp đến là Dần mộc.

Tháng giêng, tháng hai, mộc là vượng, hỏa được sinh ra từ mộc, nên là tướng, còn lại kim, thủy, thổ đều là hưu tù.

Tháng ba: Thìn là Nguyệt kiến, Thìn thổ vượng, tiếp đến là Sửu, Mùi thổ. Kim được sinh từ thổ, nên kim là tướng. Mộc tuy không vượng, nhưng vẫn còn khí dư. Những hành còn lại là thủy, hỏa đều hưu tù.

Tháng tư: Tị là Nguyệt lệnh, Tị hỏa vượng, tiếp đến là Ngọ hỏa.

Tháng năm: Ngọ là Nguyệt kiến, Ngọ hỏa vượng, tiếp đến là Tị hỏa.

Tháng tư, tháng năm, hỏa là vượng, thổ là tướng, những hành còn lại là kim, mộc, thủy đều là hưu tù.

Tháng sáu: Mùi là Nguyệt kiến, Mùi thổ vượng, tiếp đến là Thìn, Tuất thổ. Thổ sinh kim, nên kim là tướng. Hỏa tuy đã suy, nhưng vẫn còn khí dư. Những hành còn lại là mộc, thủy đều hưu tù.

Tháng bảy: Thân là Nguyệt kiến, Thân kim vượng, tiếp đến là Dậu kim.

Tháng tám: Dậu là Nguyệt kiến, Dậu kim vượng, tiếp đến là Thân kim.

Tháng bảy, tháng tám, kim vượng sinh thủy, thủy là tướng. Những hành còn lại đều là hưu tù.

Tháng chín: Tuất là Nguyệt lệnh, Tuất thổ vượng, tiếp đến là Sửu, Mùi thổ. Thổ sinh kim, kim là tướng, những hành còn lại đều là hưu tù.

Tháng mười: Hợi là Nguyệt kiến, Hợi thủy vượng, tiếp đến là Tý thủy.

Tháng mười một: Tý là Nguyệt kiến, Tý thủy vượng, tiếp đến là Hợi thủy.

Tháng mười, tháng mười một, thủy sinh mộc, mộc là tướng. Những hành còn lại đều là suy.

Tháng mười hai: Sửu là Nguyệt kiến, Sửu thổ vượng, tiếp đến là Thìn, Tuất thổ. Thổ sinh kim, kim là tướng. Thủy tuy đã suy, nhưng vẫn còn khí dư. Những hành còn lại là mộc, hỏa đều hưu tù.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch