Bài tổng quan
Quẻ Biến Sinh Khắc Mộ Tuyệt Và Phản Phục: Phản Ngâm, Phục Ngâm
Khi hào động hóa ra hào biến, quan hệ giữa hai bên quyết định lành dữ: hóa sinh, hóa khắc, hóa khứ hay hóa lai. Quẻ gốc là mình, mình đi khắc người thì không tính là hung, còn người đến khắc mình là hồi đầu khắc, xem việc gì cũng xấu. Điều ấy hiện ra qua quẻ Tốn biến Càn đoán trưởng bối mất chức rồi qua đời, quẻ Ly biến Khảm xem bệnh chủ nhà chỉ nguy vào mùa đông, và quẻ Khảm biến Khôn báo trước nạn lật thuyền. Phản ngâm là thành bại đảo chiều liên tục, như quẻ Tỷ biến Tỉnh và Lâm biến Trung Phu. Phục ngâm là điềm không yên, như quẻ Cấu biến Hằng xem cha nhậm chức nơi có giặc. Lý Ngã Bình phản bác quan điểm phản ngâm luôn là hung của sách Dịch Lâm Bổ Di.
Hóa sinh, hóa khắc: quẻ Tốn biến Càn, Ly biến Khảm
CHƯƠNG 25: QUẺ BIẾN SINH KHẮC MỘ TUYỆT
Quẻ khi biến, có biến sinh, biến khắc, biến Mộ, biến Tuyệt, biến tỷ hòa. Theo kinh nghiệm của ta, nếu gặp quẻ biến khắc, bất kể Dụng thần vượng hay suy, đều là hung hại.
Ví dụ: Quẻ Tốn mộc biến thành Khảm thủy, gọi là hóa sinh (tức biến sinh), do biến ra quẻ thủy hồi đầu sinh mộc, trường hợp này là cát.
Ví dụ: Quẻ Chấn mộc biến thành Càn kim, gọi là hóa Khắc (hay biến khắc), do biến ra quẻ kim hồi đầu khắc quẻ mộc, trường hợp này là hung. Cũng có trường hợp hóa Khắc mà không khắc, nên cần phải xác định rõ.
Ví dụ: Quẻ Đoài kim biến thành Chấn mộc, gọi là hóa khứ. Quẻ chính là bản thân mình, mình đi khắc người khác thì không coi là hung. Nên trường hợp này là hóa Khắc mà không khắc.
Ví dụ: Quẻ Chấn mộc biến thành Đoài kim, gọi là hóa lai. Người khác đến khắc mình, là hồi đầu khắc, đó là điềm hung, xem việc gì cũng xấu.
Vào ngày Tân Tị tháng Mão, có người đến xem không nói rõ là xem việc gì, được quẻ Tốn biến quẻ Càn:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Mộc; Không Vong: Thân, Dậu.)
Hỏi anh ta xem về việc gì, anh ta bèn nói: "Xem hộ về công danh của trưởng bối." Ta bèn nói: "Công danh cần phải tự xem lấy, xem hộ rất khó chọn Dụng thần, nên ta trước nay đều không dám đoán. Nhưng may tượng quẻ này rất rõ ràng dễ đoán, là quẻ Tốn mộc biến thành Càn kim, tức quẻ hóa lai, hồi đầu khắc, là quẻ tuyệt. Đừng nói đến công danh, mà tuổi thọ cũng chẳng được lâu." Quả nhiên vào tháng Ngọ bị cách chức, đến tháng bảy thì qua đời.
Ví dụ: Ngày Bính Dần tháng Ngọ, xem bệnh của chủ, được quẻ Ly biến Khảm:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Hỏa; Không Vong: Tuất, Hợi.)
Ly hỏa biến thành Khảm thủy hồi đầu khắc, nhưng nhờ Nguyệt kiến Ngọ hỏa vượng, nên đoán rằng đến mùa đông ắt sẽ gặp nguy. Sau quả nhiên chết vào ngày Đinh Hợi tháng 9. Những quẻ này thì không cần xem Dụng thần suy hay vượng.
Sách xưa cho rằng khi xem về gia trạch, mộ phần, hay đại sự, đều kỵ gặp biến khắc, đó chỉ là võ đoán, chưa qua chiêm nghiệm thực tế. Ta chiêm nghiệm suốt bốn mươi năm, chưa từng có một quẻ nào không lưu tâm đến. Nếu gặp người nào xem được quẻ có điều tồn nghi, suốt mấy năm trời đều ghi nhớ để tìm câu trả lời.
Hồi đầu khắc: quẻ Khảm biến Khôn, Khôn biến Tốn, Chấn biến Đoài
Như ngày Ất Dậu tháng Mão, xem về việc đòi tiền nhà, được quẻ Khảm biến Khôn:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thủy; Không Vong: Ngọ, Mùi.)
Ta đối với quẻ này có điều nghi ngờ, do Khảm thủy biến thành Khôn thổ, hồi đầu khắc. Bèn nói với người này rằng: "Tiền nhà là chuyện nhỏ, vì quẻ này rất hung, trong năm nay làm việc gì cũng nên cẩn thận." Sau đến tháng Tị, người này bị lật thuyền mà chết. Trường hợp này là xem chỗ này ứng chỗ khác, quẻ Khôn đã dự báo điềm hung, để cho người ta biết mà có cách đề phòng.
Phép xem xưa cho rằng khi xem về chuyện đại sự kỵ gặp quẻ biến khắc. Nhưng quẻ này chẳng phải là xem về chuyện nhỏ, nhưng lại ứng điềm hung lớn đấy sao?
Lý Ngã Bình bàn rằng: Sách "Dịch mạo" trong chương "Mộ Tuyệt" có viết: Nhật nguyệt được thời không phải là chân thực, mà không biết được việc hung sắp đến, thần linh đã hiện điềm ra từ trước. Nhật Nguyệt được thời tuy vượng, nhưng qua khỏi thời đó vẫn bị tổn thương. Như ví dụ về xem bệnh của chủ nhân trong chương này, xem vào tháng Ngọ được quẻ Ly biến Khảm, trước mắt là mùa hạ hỏa vượng sẽ không đáng ngại, nhưng đến mùa đông hỏa suy, vẫn gặp họa như thường. Những luận đoán đó đều không xuất phát từ kinh nghiệm. Thế của quẻ như gốc rễ của con người, quẻ biến khắc tuyệt, tựa như nhổ cây cả rễ, tuy trước mắt cành lá vẫn xanh, nhưng liệu sẽ duy trì được bao lâu? Trước mắt tuy vượng, nhưng qua thời điểm đó sẽ suy. Không, Phá tuy hư, nhưng đến lúc trở nên thực, vẫn ứng nghiệm. Vả lại kiểu kết luận "nửa hung nửa cát" không thể làm khuôn mẫu cho người học đời sau được.
Cuốn sách này chỉ coi quẻ hồi đầu khắc là hung. Ta xem những ví dụ trong chương "Phản phục" của sách "Dịch mạo", thấy đều là nhầm lẫn hồi đầu khắc thành Phản ngâm hưu tù.
Ví dụ: Ngày Giáp Tý tháng Dần, xem bệnh của mẹ, được quẻ Khôn biến Tốn:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Tuất, Hợi.)
Quẻ Khôn thổ biến thành quẻ Tốn mộc, chẳng phải là hồi đầu khắc ư? Nhưng sách "Dịch mạo" lại viết rằng: Tuy hóa Tuần Không, nhưng là quẻ Phản ngâm hưu tù nên vẫn là hung. Đã cho rằng gặp Không, Phá là nghiêm trọng, mà ở đây lại nói là "vẫn hung", lại giải thích vòng vo là do Hợi thủy xung phá Tị hỏa, cho nên là hung. Khi được quẻ biến, chỉ xem tượng quẻ, không xem Dụng thần. Cho dù hào có tốt, mà rễ khô nguồn cạn, cũng không thể được lâu dài.
Lại vào ngày Quý Dậu tháng Dần, xem về bệnh của con trai cả, được quẻ Chấn biến Đoài:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Mộc; Không Vong: Tuất, Hợi.)
Quẻ này chẳng phải là Chấn mộc hóa Đoài kim hồi đầu khắc ư? Vậy mà sách này lại không nhìn đến thổ bị Chấn mộc khắc, Chấn mộc bị Đoài kim khắc, mà lại lập luận rằng Chấn là trưởng nam, nay xem cho con trai cả, là điềm không tốt lành. Mà không biết rằng quẻ này biến thành hồi đầu khắc, thì tính mệnh của con gái út cũng khó bảo toàn. Nên nay ta dẫn ra những quẻ trong sách "Dịch mạo" để chỉ ra những sai lầm của sách đó.
Phản ngâm: quẻ Tỷ biến Tỉnh, Lâm biến Trung Phu
CHƯƠNG 26: PHẢN PHỤC
Quẻ có quẻ biến, hào có hào biến.
Quẻ biến, nội ngoại động mà phản ngâm, thuộc cùng một quẻ. Như quẻ Càn biến quẻ Khôn là vậy.
Hào biến, nội ngoại động mà phản ngâm, nhưng không cùng một quẻ. Như Thăng biến Quan là vậy.
Lại có ngoại quái phản ngâm, mà nội quái không động, như Quan biến Khôn là vậy.
Lại có nội quái phản ngâm, mà ngoại quái không động, như Tốn biến Quan là vậy.
1. Phản ngâm
Quẻ nội phản ngâm, trong sẽ không yên; quẻ ngoại phản ngâm, ngoài sẽ bất ổn. Quẻ nội quẻ ngoại đều phản ngâm, là điềm trong ngoài đều không yên ổn.
Quẻ Phản ngâm đều chủ về thành rồi lại bại, bại rồi lại thành; có rồi thành không, không rồi lại có; được rồi lại mất, mất rồi lại được; đến rồi lại đi, đi rồi sẽ đến; tan rồi lại hợp, hợp rồi sẽ tan; động rồi muốn tĩnh, tĩnh lại muốn động.
Nếu xem về công danh, mà hào Dụng thần vượng tướng, thì sẽ liên tục phải thuyên chuyển, thăng chức đến nơi khác, rồi lại điều động trở về. Nếu Dụng thần thất hãm, thì lúc thăng lúc giáng, khi mất khi được.
Xem về của cải, thì tụ tán bất thường. Xem về buôn bán kinh doanh, thì lúc phất lúc lụn bại bấp bênh.
Xem về mồ mả gia trạch, là điềm muốn chuyển mà lại không chuyển, hoặc chuyển qua chuyển lại, hoặc trước mắt sẽ gặp chuyện di cư thuyên chuyển.
Xem về những sự việc đã trải qua một thời gian dài, thì trước mắt sẽ có biến động.
Xem về thiên thời, nếu phải lúc tạnh sẽ gặp mưa, phải lúc mưa sẽ lại tạnh.
Xem về hôn nhân, thì trắc trở khó thành.
Xem về bệnh tật, thì khỏi rồi lại ốm.
Xem về trộm cướp kiện tụng, thì ắt liên tục hết lần này lại lần khác.
Xem về xuất hành, thì đi đến nửa đường ắt phải quay về. Cho dù có đến nơi, thì cũng không được việc.
Xem về người đi xa, nếu là quẻ ngoại phản ngâm, mà Dụng thần vượng tướng, thì sẽ trở về; hoặc sẽ tiếp tục đi sang nơi khác. Người ở bên ngoài xem về gia trạch, mà nội quái phản ngâm, tức người nhà không được yên ổn.
Xem về tình hình giữa hai bên, nếu quẻ nội phản ngâm, thì bản thân rối loạn bất ổn mà đối phương được an lành; nếu quẻ ngoại phản ngâm, thì người khác rối loạn mà bản thân ta được yên ổn.
Những trường hợp trên nếu Dụng thần là vượng tướng, không biến thành xung khắc, tuy gặp phản phục, sự việc vẫn được thành. Chỉ kỵ Dụng thần biến thành hồi đầu khắc, quẻ sẽ thành tượng đại hung.
Ví dụ: Ngày Nhâm Thân tháng Mão, xem về việc theo quan phủ đến nơi nhiệm chức, được quẻ Tỷ biến Tỉnh:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Tuất, Hợi.)
Ta bèn đoán rằng: Hào Thế tại Quan, gặp Nguyệt kiến nên vượng tướng, theo quan đi việc sẽ thành, nhưng vì quẻ nội phản ngâm, nên sẽ gặp chuyện tráo trở phản phúc. Lại hiềm hào Thế gặp Tuyệt tại Nhật thần Thân, mà hóa ra Dậu kim hồi đầu khắc, chuyến đi này sẽ không may mắn, tốt nhất là không nên đi. Sau vì chỗ điền khuyết của quan gần trại giặc nên người này từ chối không đi. Sau khi quan phủ đi rồi, người này lại vì lý do khác nên lại đến nơi quan trấn nhậm. Đến tháng Tuất, thành bị giặc phá vỡ, người này bị giết cùng với quan phủ. Đấy là do hào Thế cùng Quan Quỷ đều bị hào biến Dậu kim hồi đầu xung khắc. Trước không đi, sau lại đi, ấy là do gặp quẻ Phản ngâm khiến sự việc tráo trở, đã dừng lại đi.
Ví dụ: Ngày Kỷ Hợi tháng Mão, xem thăng tiến, được quẻ Lâm biến Trung Phu:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Thìn, Tị.)
Ta bèn đoán rằng: Hào Thế tại Mão mộc Quan Quỷ, gặp Nguyệt kiến, lại gặp Trường Sinh tại Nhật thần Hợi, nên Thế và Quan đều là vượng tướng, ắt sẽ được thăng chức. Quả nhiên trong tháng đó được bổ nhiệm, từ Giang Tây lên chức đi trấn nhậm Sơn Đông. Nhưng chưa được một năm, thì lại bị thuyên chuyển trở lại Giang Tây. Ứng ở tháng Mão vì hào Quan Mão mộc gặp Nguyệt kiến. Được thăng chức đi Sơn Đông, vì hào Quan Quỷ tại Mão mộc. Thăng chức rồi lại bị thuyên chuyển trở lại Giang Tây, là do quẻ ngoại Phản ngâm, khiến cho đi rồi lại quay về.
Phục ngâm: quẻ Cấu biến Hằng
2. Phục ngâm
Quẻ Phục ngâm có trường hợp nội ngoại phục ngâm (quẻ nội và quẻ ngoại đều phục ngâm), như quẻ Vô Vọng biến Đại Tráng:


Xem được quẻ nội ngoại phục ngâm, là điềm trong ngoài đều lo âu, đau buồn.
Quẻ nội động mà biến thành phục ngâm, là điềm bên trong có chuyện ưu phiền; nếu là quẻ ngoại động mà phục ngâm, là điềm bên ngoài bất an. Được các quẻ này, xem việc gì cũng không được như ý, động cũng như bất động, đều chủ về buồn bã lo âu.
Xem về công danh, thì đường quan trắc trở, lận đận không thăng tiến.
Xem về lợi lộc, thì tài hao lợi tán, mất cả vốn lẫn lời.
Xem về mồ mả, gia trạch, thì muốn dời chẳng được, mà giữ nguyên thì bất lợi.
Xem về hôn nhân, thì chỉ có âu lo mà không có chuyện vui.
Xem về bệnh tật, thì đau ốm triền miên khổ sở.
Xem về kiện tụng thị phi, sự việc khó mà được kết thúc.
Xem về xuất hành, khó có thể lên đường.
Xem về người đi xa, ắt ở ngoài gặp chuyện không hay.
Xem về tình thế giữa hai bên, thì quẻ nội tượng trưng cho bản thân, quẻ ngoại tượng trưng cho người khác. Quẻ nội phục ngâm, bản thân không được như ý. Quẻ ngoại phục ngâm, người khác phải chịu bất an.
Nếu so sánh quẻ Phục ngâm với quẻ Phản ngâm, thì quẻ Phục ngâm có xung có khắc. Nếu Dụng thần bị khắc, ắt gặp họa lớn. Trong quẻ Phản, quẻ Phục, nếu Dụng thần vượng tướng, thì đợi đến năm, tháng xung khai, ý nguyện sẽ thành. Nếu Dụng thần hưu tù, cho dù gặp năm, tháng xung khai, thì chuyện buồn lo vẫn không dứt.
Ví dụ: Ngày Quý Tị tháng Thân, xem cha nhậm chức ở xa có hình an không, được quẻ Cấu biến Hằng:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Kim; Không Vong: Ngọ, Mùi.)
Ta xem quẻ đoán rằng: Tị hỏa là Nhật thần sinh Phụ Mẫu, chắc rằng cha trấn nhậm ở bên ngoài vẫn được bình an. Chỉ hiềm gặp quẻ Phục ngâm, là điềm không được yên lành, tại nơi trấn nhậm hẳn gặp trắc trở, khiến không đắc chí mà lo buồn. Người xem bèn nói rằng: "Nghe đồn tại vùng đó có giặc Miêu gây hấn, không biết có gặp chuyện bất trắc gì không?" Ta đáp rằng: "Nhật kiến sinh Phụ, nên không có gì đáng ngại." Người này lại hỏi khi nào cha về. Ta đáp rằng: "Gặp quẻ Phục ngâm nên muốn về mà không được, đến năm Thìn mới mong được trở về."
Sau hay tin giặc Miêu nổi loạn tại địa phương đó, tình thế vô cùng nguy hiểm. Năm Dần xem quẻ, đến năm Thìn người cha bị bãi quan mà trở về chờ bổ khuyết. Đến năm Ngọ lại được thuyên chuyển đến Tứ Xuyên.
Ứng vào năm Thìn, vì hào Tuất Phụ biến thành Tuất Phụ, gặp năm Thìn sẽ xung khai Phụ Mẫu Tuất thổ. Bị bãi quan, là vì Nhật thần Tị xung khởi Tử Tôn Hợi thủy, khiến Hợi thủy ám động mà khắc Quan. Đến năm Ngọ lại được bổ nhiệm làm quan, vì ngày xem gặp Nhật thần là Tị hỏa trợ giúp cho hào Quan Ngọ hỏa. Nhưng vào lúc xem, bị Hợi thủy khắc nên không phát huy được. Nay hào Quan Ngọ hỏa gặp năm Ngọ, nên được vượng trở lại.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Sách "Dịch lâm bổ di" có viết: "Hào gặp phản ngâm là không tốt; quẻ gặp phản ngâm là cực hung" tức chưa xem Dụng thần vượng hay suy, đã vội cho rằng Phản ngâm là tai họa. Nay xem sách của Dã Hạc lão nhân, thấy có nêu chiêm nghiệm quẻ Tỷ biến quẻ Tỉnh, hào Thế gặp xung khắc, nên sự việc phản phục thất thường, bản thân mắc nạn; lại có chiêm nghiệm quẻ Lâm biến quẻ Trung Phu, mà hào Thế Quan được vượng, tuy gặp phản phục, chỉ khiến chức quan phải thay đổi mà thôi. Phương pháp dạy người thật là chí lý thay!
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
