Bài tổng quan
Tìm huyệt như xem bàn tay, quá hiệp, sa và cành rồng
Có người theo thầy học địa lý mấy chục năm, thuộc đủ bí quyết, vậy mà đứng trước thực địa lại không biết lần theo đâu. Cổ nhân dạy rằng toàn bộ phép điểm huyệt gói trong dáng một bàn tay đặt ngửa hay úp. Nhưng hai khuỷu tay mở ra ở chỗ nào mới là nơi đặt huyệt?
Mục lục · 11 phần
- 01Biết rồng quý còn dễ, điểm huyệt mới khó
- 02Nơi nhiều huyệt tụ hội và năm sao vây quanh
- 03Bàn tay ngửa và bàn tay úp
- 04Bảy cách kết huyệt
- 05Nhìn đất như nhìn một khuôn mặt
- 06Ba mạch rồng lớn từ Côn Luân và dáng quá hiệp
- 07Đón tiếp và tiễn đưa: điều kiện để quá hiệp kết huyệt
- 08Rồng là gì, sa là gì
- 09Cầm, Quỷ, Diệu, Quan: bốn loại sa với bốn ý nghĩa
- 10Thượng cách, trung cách, hạ cách của sa
- 11Sáu dáng cành của long mạch
Biết rồng quý còn dễ, điểm huyệt mới khó
Nhận ra một mạch rồng cát lợi thì không khó. Cái khó là nhìn khí, nhìn tượng, phân biệt đất đá để định đúng chỗ đặt huyệt. Có người bỏ công đi tìm trong phạm vi mấy chục dặm mà vẫn không định nổi mộ phần cho tổ tiên. Lạ hơn nữa, có người theo thầy học đạo địa lý mấy chục năm, thuộc đủ bí quyết, vậy mà đứng trước thực địa lại không biết lần theo đâu.
Họ không biết rằng thế núi bằng thì huyệt ở chỗ cao, mạch rồng vuông vức bằng phẳng thì huyệt ở giữa, thế rồng vươn cao thì huyệt ở chỗ thấp. Mặt rồng đầy đặn thì huyệt phải gầy, thân rồng gầy thì huyệt phải tròn. Nơi lõm xuống thì quý ở chỗ nhô lên, nơi bị kẹp hẹp thì quý ở chỗ tròn trịa, nơi nhô tròn thì quý ở chỗ lõm, nơi đột khởi thì quý ở chỗ mở miệng. Hiểu được như vậy thì còn tìm gì thêm nữa.
Nơi nhiều huyệt tụ hội và năm sao vây quanh
Có những chỗ đất chỉ lệch nhau một thước mà số phận con cháu khác hẳn nhau.
Nơi nào nhiều huyệt cùng tụ hội, nhất định có thế chầu bái của bậc quan cao lộc hậu, đó là đại phú đại quý. Tìm được chỗ có năm vì sao vây quanh chính huyệt thì cũng chắc chắn đại phú đại quý, lúc ấy chín sao chiếu có lệch đôi chút cũng chẳng ngại. Trong phạm vi hai trượng, chỗ này suy bại thì chỗ kia lại vinh hoa hưng thịnh. Thời điểm trước sau chênh nhau chút ít cũng đủ quyết định bao nhiêu năm thì phát đạt. Chỉ có thầy giỏi mới xác định chuẩn xác vị trí của huyệt trên đất thật.
Bàn tay ngửa và bàn tay úp
Toàn bộ ý nghĩa của phép điểm huyệt gói trong hình dáng bàn tay đặt ngửa hay úp. Bàn tay ngửa gọi là lòng bàn tay, bàn tay úp gọi là che ổ. Khi định vị huyệt, nhất định phải ở chỗ hai khuỷu mở ra, phía trên chia ra, phía dưới hợp lại, giống chữ Cá, hoặc chữ Tam, hoặc chữ Hựu.
Bảy cách kết huyệt
Có bảy kiểu kết huyệt thường gặp, mỗi kiểu mang một tên và một điều cần biết.
Kết huyệt trên cao: mạch rồng lên tới đỉnh thì mở thoáng, môi tròn, nhỏ và cao; núi chầu phía trước không ép sát hai đỉnh kiềm, hai tay có giáp kiềm chạy đến mặt trước. Nếu chính huyệt có hai kiềm lười nhác vô tình, thì vì tinh khí kết ở chỗ cao nên gọi là phép bức sát.
Kết huyệt nhỏ: thân thể đoan chính, mạch rồng bình hòa, khí Sinh, Vượng tụ ngay trong huyệt. Đó là phép giấu sa.
Kết huyệt thấp: thế đất hùng vĩ, mạch rồng gấp gáp, nếu huyệt tiếp liền mạch rồng thì đầy sát khí. Sau huyệt có một gò nhỏ gọi là Thiên Canh, tuyệt đối không được phá. Huyệt nên đặt ở chỗ thấp, gần hai cái kiềm ở bên dưới. Đó là phép thoát sát.
Phép thụ thai: mạch rồng tới đầu thì nhô lên, chĩa thẳng vào giữa, hai khuỷu tay vừa mở ra. Quý ở chỗ vừa không thoát ly khỏi mạch, vừa không bị mạch đè ép.
Phép tìm cho ra: có sáu dáng, là nhũ mà có lõm, kiềm mà có bọc, mặt mập thì lấy chỗ gầy, thoáng thì có mặt, nhô thì có miệng, lõm thì có nhô.
Nhìn đất như nhìn một khuôn mặt
Mặt người có tai, mũi, trán, môi; thân người có ngực, bụng, sườn. Mỗi chỗ kết huyệt cũng có một vị trí riêng như thế.
Dùng tai, mũi, trán, môi để giải thích chỗ đặt huyệt thì sẽ có một hình. Dùng ngực, bụng, sườn để giải thích thì sẽ là một hình khác. Lối nói xưa rằng chỉ có một hình là sai. Thế kết huyệt của đất giống như mạch trên mặt người. Khí từ phía sau não đi tới, nếu nhận khí ở phía trước thì huyệt kết ở trán; khí nhận bên trái thì huyệt kết ở tai; khí nhận từ phía kia thì huyệt kết ở mũi, nói cho chính xác là ngay lỗ mũi. Chôn ở khóe mắt thì mang sát khí, chôn ở môi thì mang tử khí, đều không hợp.
Nếu mặt cứng rắn không thể kết huyệt thì phải rời khỏi đầu và mặt. Cũng như thân người, chôn ở ngực thì tuyệt mệnh, chôn ở sườn thì thương tổn xương cốt, nên chôn ở chỗ lõm và tụ hợp là rốn hoặc bụng.
Ba mạch rồng lớn từ Côn Luân và dáng quá hiệp
Mọi dãy núi đều bắt nguồn từ núi Côn Luân ở phía tây bắc. Khi chạy đến vùng Trung Nguyên thì chia thành ba mạch chính, là ba đại long mạch trải dài mấy ngàn dặm. Mạch chủ lại đẻ ra nhiều mạch nhánh, nhánh trong thân, thân trong nhánh, trùng điệp như hàng nóc nhà. Trong đó nhô lên nhiều ngọn đẹp hình chóp ứng với Hỏa tinh và Mộc tinh gọi là Lầu. Những ngọn đẹp hình tròn ứng với Thổ tinh, Kim tinh hoặc Thủy tinh gọi là Điện.
Nhiều mạch rồng từ Lầu chạy xuống Điện, khí thế như nghìn quân vạn ngựa, như sóng dồn, đội ngũ chỉnh tề, bình phong màn trướng bày ra. Trước màn trướng bỗng nhô lên một ngọn, nhìn từ xa thấy cao hơn bình phong phía sau thì gọi là quý nhân ra khỏi trướng, thấp hơn thì gọi là quý nhân vào trướng. Nơi ấy nhiều nhánh hộ tùng, khí rồng rất vượng. Khí quá vượng thì dễ bị tiết lộ, nên rồng phải thay xương đổi cốt, tức là quá hiệp.
Quá hiệp thuận thế gọi là chính quá, nghiêng thế gọi là trắc quá. Hình thái quá hiệp rất nhiều: có dạng như từng chồng đá lớn, có dạng như xuyên qua đất hoang, có dạng như vượt qua dòng sông, có dạng như gò đống tròn trịa. Nói chung, quá hiệp thấp và ngửa là âm hiệp, nhấp nhô là dương hiệp, eo hẹp ở giữa là hiệp lưng ong, tròn tròn cao cao mà thẳng là hiệp gối hạc.
Lại có khi khí rồng quá vượng, một khi phóng túng thì khó thu về, gọi là băng hồng quá hiệp. Dáng băng hồng có dạng như chữ Thập, chữ Xuyên, chữ Chi, chữ Dã, có dạng đứt rồi nối, lúc đứt lúc liền, có dạng có đốt có mắt như vỏ trai ốc, có dạng như vó ngựa. Nói cho rõ thì băng khác hồng. Băng là núi lở, có khi cao tận mây, có khi nhọn như đao kiếm, có khi rộng lớn. Hồng là nước, có dạng như bay qua hang núi, có dạng lặng sâu như nước hồ, vì thế càng khó thấy mạch rồng. Ông họ Liêu chỉ nói chữ Thập thì làm sao gói hết ý nghĩa của hai chữ băng hồng.
Đón tiếp và tiễn đưa: điều kiện để quá hiệp kết huyệt
Các kiểu quá hiệp nêu trên mới chỉ là mặt trước, còn phải tìm chỗ kết huyệt ở mặt sau. Có chọn đặt huyệt hay không còn tùy hình thái đón tiếp, tiễn đưa, rộng lớn hay hạn hẹp. Nếu chỉ có tiễn đưa mà không có đón tiếp thì tuyệt đối không kết được huyệt. Nếu chỉ có đón tiếp mà không có tiễn đưa thì nên tìm chỗ kết huyệt ngay nơi đón khách. Nơi rộng rãi, nước tụ hội ở minh đường phía trước thì rất hợp để đặt huyệt vì dễ thu nạp khí rồng.
Nếu có cả đón tiếp lẫn tiễn đưa, Âm Dương phối hợp, thì nhất định có một nhánh núi thanh tú đẹp đẽ, trước sau hiệp đều có nước tụ ở minh đường; khoảng giữa mạch rồng ấy sẽ kết một huyệt tuyệt diệu. Có dạng quá hiệp sánh vai nhau như hai anh em ruột, có dạng một thấp một cao kết bạn đồng hành như cặp vợ chồng hòa hợp. Tất cả đều là chân long.
Rồng là gì, sa là gì
Núi mạch chạy ra từ chính diện, không dàn ra hai bên, khi nhô cao ngang, khi trải thấp ngoằn ngoèo, biến hóa khó lường, thì gọi là Long. Núi mạch không có chân long chân khí chạy suốt, chỉ qua loa cho có, thì gọi là Sa.
Sa mà được mạch chủ phóng ra rồi thu lại thành hình bao tròn, quay mặt về mạch chủ thì gọi là bao la sa. Hai bên trái phải đều có sa thì gọi là Long Hổ sa. Sa ở phía trước huyệt là án sa, ở phía dưới huyệt là thủy khẩu sa. Sa trải ra thuận theo thế rồng gọi là thuận sa, sa phóng thẳng vào huyệt gọi là bức sa. Các dạng sa cứng, sa phản, sa bay đều là hung sa.
Hạ sa là sa uốn quanh trước mặt long mạch, biến hóa rất tinh vi, người xem còn non kém thường không hiểu. Phải dựa vào thế và hướng của mạch rồng mới rõ. Muốn đặt huyệt ở nơi nào mà mạch rồng ở đó quay sang trái thì phải lấy sa bên trái làm hạ sa, mạch quay sang phải thì lấy sa bên phải làm hạ sa. Nói tóm lại, sang hèn của sa phải căn cứ vào sang hèn của rồng. Rồng đẹp thì sa tất đẹp, huyệt thật hay giả cũng tùy tình hình của rồng và huyệt.
Cầm, Quỷ, Diệu, Quan: bốn loại sa với bốn ý nghĩa
Mỗi ngọn sa đều có tên riêng tùy theo nó đứng ở đâu so với huyệt.
Sa phía sau mạch rồng phóng tới gọi là Cầm hoặc Quỷ. Gọi là Cầm vì sa ấy giống loài thú bốn chân như trâu bò, voi, hổ, lợn. Xưa nay người xem đất coi trọng Cầm và bảo Cầm chủ phú quý. Nếu mạch rồng phóng tới thanh tú đẹp đẽ thì huyệt Cầm báo vinh hoa phú quý. Gọi là Quỷ vì đuôi của mạch rồng dài dằng dặc, không quay đầu lại vẫn thấy được, như đuôi trâu, đuôi hổ, đuôi rắn. Người ta cho rằng huyệt Quỷ chủ quý hiển rạng rỡ, nhưng thực ra không hẳn vậy. Mạch rồng phóng tới phải mang ánh sáng đẹp của hai ngôi sao, phía sau huyệt lại có mạch khí của một ngôi sao nữa thì mới đại phú đại quý. Mỗi sao trong hai sao ấy có ba mươi sáu hình thái biến hóa, nhưng khi xem huyệt thì không cần chấp nhất vào từng hình thái cụ thể.
Sa ở bên cạnh huyệt gọi là Diệu, sa ở trước núi án gọi là Quan. Diệu có khi ở trước mặt Thanh Long, Bạch Hổ, có khi ở sau lưng; có sa sắc nhọn như dao, sáng loáng như kiếm, nhọn như cây dù; có sa men theo bờ sông phóng thẳng như một đường, có sa uốn lượn như cái móc câu. Quan thì ở trước huyệt hoặc ngoài núi án, hình dạng cũng muôn vẻ. Loại sa này nếu từ trong huyệt không nhìn thấy được thì mới quý hiếm và đem lại phú quý.
Sa ở phía trước gọi là án sơn hoặc triều sơn. Dáng án sơn đẹp nhất là cong như cánh cung hoặc vầng trăng lưỡi liềm. Những ngọn kiểu Mộc tinh, Hỏa tinh thì tốt nhất đứng dưới núi chầu, như quý nhân đứng dưới trướng.
Thượng cách, trung cách, hạ cách của sa
Sa có muôn hình nghìn dạng, không kể xiết. Sa tròn, nhọn, vuông, uốn lượn hay thẳng tắp mà thành đúng chính thể là thượng cách. Cũng những dáng ấy mà thành biến thể là trung cách. Sa nhọn, vuông, ngoằn ngoèo hay thẳng tắp mà không thành chính thể, thậm chí kém cả biến thể thì gọi là hạ cách hay tiện cách. Trên thân mạch chủ thấy được quý sa là thượng cách; gần núi án hoặc gần Thanh Long, Bạch Hổ thấy quý sa là trung cách; còn lại là hạ cách.
Kinh của họ Hứa nói sáu loại sa Quan, Quỷ, Cầm, Diệu, Thú, Bắc Thần là sáu loại cát. Họ Hứa phân tích rất tỉ mỉ nhưng quá vụn vặt, phải gắn chặt với việc quan sát diện mạo của rồng.
Sáu dáng cành của long mạch
Rồng thượng cách có dáng cành ngô đồng: rồng đi ở chính giữa, từ chính diện chạy ra. Vì chạy ra từ chính diện nên có thể trải dài ngàn dặm, uốn lượn mấy chục dặm.
Kém một bậc là dáng cành thược dược. Loại rồng này, nếu Mộc tinh khởi từ Thiếu tổ sơn thì hay nhất, vì phần nhiều nó lệch sang trái hoặc phải; có Mộc tinh thì đoan chính tròn trịa, khí thanh tú bốc lên cao, chỗ tận cùng nhất định có huyệt hoa tâm.
Kém nữa là dáng cành dương liễu. Loại rồng này phần nhiều chếch xéo, không thẳng, nhìn nghiêng thấy mềm yếu.
Kế đó là dáng lau sậy. Loại này đầy kỳ xảo, thoạt nhìn quá mỏng manh, nhìn kỹ lại thấy rất đoan chính, vì vậy chỗ tận cùng thường thành huyệt nhũ.
Dưới nữa là dáng roi lau. Loại này rất quý hiếm nhưng cũng dễ giả. Có khi Kim tinh rơi rụng thành hoa lau, có khi Thủy tinh cuộn sóng thành hoa lau, có khi Mộc tinh chợt nhọn chợt tròn thành roi lau, có khi Thủy tinh chảy thẳng thành roi lau, có khi Thổ tinh dáng chữ Nhất như cây roi lau. Thẳng hay xiên đều có chỗ kỳ diệu của nó.
Dưới nữa là dáng cành kỷ tử. Loại này có nhiều nhánh và nhiều đốt, có khi chia nhánh hai bên, có khi chỉ chia về một bên, nên rất khó nhận ra huyệt.
Ngoài sáu dáng ấy, mạch rồng còn rất nhiều dạng khác, nhưng sáu dạng nêu trên là hay nhất. Cách xem rồng để định huyệt không giống cách luận về cách của sa, đó là chỗ khác nhau giữa rồng và sa.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
