Bài tổng quan
Can chi, trướng, hiệp và hình thế: bộ khung của long mạch
Một vị đại tướng đi qua doanh trại: bốn bề lều trướng vây quanh, cờ xí rợp trời, rồi thót lại chỉ còn chưa đầy một dặm để hộ vệ đúng một chỗ ngồi. Núi non cũng đi như thế, và nơi nó thót lại ấy quyết định một vùng đất sẽ thành làng nhỏ hay thành kinh đô. Thót lại ở đâu mới là chỗ đáng chọn?
Mục lục · 9 phần
- 01Làng mạc, đô thị và đền miếu mọc ở chỗ nào của rồng
- 02Can và chi: thân chính và cành nhánh của rồng
- 03Trướng: lều vải của đạo quân núi
- 04Xuất hiệp: chỗ rồng lột xác
- 05Thế là gốc, hình là hoa
- 06Thế phải đi, hình phải dừng
- 07Ly sào nhập lộ: bốn dáng núi, bốn tiểu cách
- 08Những dáng thế của long mạch
- 09Vì sao long mạch khiến người ta nhiều nghi ngờ
Làng mạc, đô thị và đền miếu mọc ở chỗ nào của rồng
Thôn trang và đô thị đông dân phần lớn nằm ở chỗ long mạch dừng nghỉ. Đàn tế thần linh và miếu mạo đa phần nằm ở nơi cùng tuyệt, hung sát. Nơi anh linh thần tiên và thánh tích Phật giáo thường ở trên các danh sơn. Những quận, trấn náo nhiệt phần nhiều nằm ở chỗ nhiều rồng tụ hội.
Kinh đô có thể nói là nơi vạn dòng nước, ngàn ngọn núi cùng quay về triều hội, tôn kính thần linh. Nơi ấy là chính giữa trời đất, hút lấy chính khí biến hóa của âm dương, ngũ hành phối hợp với nhau, lại có bát quái giúp sức. Tuy có lúc hưng thịnh lúc suy vong, dân số có lúc đông lúc giảm, vai trò của nó vẫn nối tiếp không dứt. Vì vậy nơi nhiều rồng gặp nhau, nhỏ thì thành quận, trấn, lớn thì thành đô thành, và đều có phép tắc nhất định, không thể tùy ý thay đổi.
Long mạch từ khắp nơi chạy tới, khi như sợi dây, khi như con rắn, con lươn, qua sông thì bị ngăn rồi lại nhô lên, hoặc biến hóa có hình, hoặc ẩn chìm không hình. Số rồng tụ hợp dưới ba mươi sáu mà trên ba mươi thì thành quận, trấn đông mấy vạn dân, của cải dư dả, anh hào, chí sĩ, danh thần đều ở đó. Số rồng tụ hợp trên hai mươi đến ba mươi thì thành thị trấn, huyện thành. Số rồng tụ hợp từ sáu, bảy đến mười thì thành thôn trang, dân cư cũng đông, tiền của dư dả. Còn số rồng tụ hợp ít hơn nữa thì tùy sự vận chuyển của trời đất mà có khi hưng khi lụi.
Nhìn lại lịch sử các đời trước, thấy có lúc đổi quận thành ấp, có lúc đổi ấp thành quận, đều là vì lẽ ấy. Hung cát, thịnh suy không do sức người quyết định mà do trời đất tự định mệnh. Người phàm tục làm sao biết nổi, phải là bậc đạo sĩ có nhãn quang đặc biệt mới nhận ra.
Can và chi: thân chính và cành nhánh của rồng
Rồng có chi trong can, mạch có can trong chi. Can long là thân chính đi xuống từ đỉnh tổ sơn, giống như đỉnh đầu và sống mũi người. Nó ở giữa mà tiến về phía trước. Phân chi thì giống như chân tay hai bên, từ hai bên hộ tống, hai dòng nước kèm theo đến tận cùng làm thành can. Sức kết đất của nó nặng và lớn khác thường. Nếu chỉ là một bên của can, một bên nhẹ một bên nặng, thì lấy dòng nước một bên làm chi, sức kết đất của nó nhẹ hơn.
Thế nào là chi trong can? Là dòng nước lớn nhận thêm một dòng nước bên cạnh, lúc phân lúc hợp, đến chỗ qua mạch thì tạo nên một sa trướng. Dưới sa trướng ấy, dòng nước và ranh giới núi cũng nằm ngang trước huyệt, hai bên sa trướng đều hộ vệ cho nước vào cục thế, giao hội trước huyệt. Giống như ngón giữa trên bàn tay người, đó là chi ở trong can. Can chính giống như lõi của gốc cây, chi can thì giống như lõi của cành cây. Hai dòng nước lớn của đại can đều tụ hợp ở nơi tận cùng. Cảnh các sa và các dòng nước tụ hội lại gọi là đại tụ. Còn chi trong chi thì giống như trên bàn tay có ngón lớn ngón nhỏ, sức của nó yếu nhất, phát mạch cũng không bền lâu. Nước một bên đi tới trước minh đường, là một chủ một khách, hữu tình thì là tiểu kết.
Đó chỉ là đại cương, chủ yếu còn tùy từng trường hợp. Cổ thư viết:
Có rồng đi từ hai bên mà quy về đường chính. Có rồng đi từ giữa mà ra hai bên.
Trương Tử Vi lấy cành ngô đồng làm ví dụ: sa trướng xuyên ra từ giữa, chủ can từ giữa phân ra hai bên. Còn cành dương liễu thì chủ can nghiêng hẳn về một bên. Cành thược dược thì một đốt chìa ra từ bên tả, rồi một đốt chĩa xuống từ bên tả, một đốt chìa ra từ bên hữu, rồi một đốt chĩa xuống từ bên hữu. Đó cũng là cách vận hành quen thuộc của long mạch. Cho nên chủ can có khi lệch sang một bên, nhưng có nước lớn nhỏ ngăn lại khiến hai bên đều chỉnh tề. Vì vậy sơn mạch khi vận hành thường có dòng nước đi cùng.
Trướng: lều vải của đạo quân núi
Núi được gọi là trướng là lấy doanh trướng khi hành quân làm ví dụ. Không thể lấy cung điện làm ví dụ, vì cung điện không dời đi tùy ý được, còn doanh trướng thì có thể di chuyển mỗi ngày, giống như sự vận hành của sơn mạch. Doanh trướng có hình dạng như tấm bình phong, tấm màn che.
Phàm núi bắt đầu khởi thế từ ngọn tổ thì nhất định triển khai thành trướng lều vải. Sau khi đứt đoạn qua mạch, núi qua mạch giống như một vị đại tướng đi qua doanh trướng, bốn bề doanh trướng vây quanh làm công cụ hộ vệ cho ông ta. Hễ qua hiệp mà lại thành doanh trướng thì đều là rồng cao quý. Có thuyết gọi đó là cách "quý long trùng trùng xuất nhập trướng", ý nói thế núi vừa rời doanh trướng phía sau đã lập tức bước vào doanh trướng phía trước. Nếu so sánh với việc ra vào của vị đại tướng thì hình thế núi sẽ hiện ra đúng như điều ta mong.
Doanh trướng đầu tiên của đại long thường dàn ngang mười mấy dặm, đến chỗ sắp kết huyệt thì thót lại, không quá một dặm, đủ để thuộc hạ hộ vệ trụ huyệt mà thôi. Sơn trướng có khi thành hình chữ Thập, đó là sơn trướng thượng đẳng: hình chữ thập dựng đứng, sơn mạch vạch ngang qua là trướng. Có khi thành hình chữ Đinh, là sơn trướng quý hạng nhì: sơn mạch chạy ngang tới, gần đến chỗ tận cùng thì thụt xuống một trướng, thành cảnh tượng một sĩ quan nằm một sĩ quan đứng.
Long cao quý khi đi, hễ đến chỗ chuyển ngoặt đều có tiểu trướng, nhưng sức không lớn mạnh bằng lúc qua hiệp vào sa trướng, hình thế cũng không thịnh bằng. Núi nào cũng nhất định có hiệp, tức khe hẹp kẹp giữa hai quả núi, nơi dòng sông chảy qua, bởi vì sự thăng giáng, lớn nhỏ của âm dương do quy luật quyết định. Núi cũng nhất định có sa trướng, đó cũng là sự mở khép, ngang dọc của âm dương do quy luật quyết định.
Phàm đã thăng thì có giáng. Thăng chưa đến cùng thì không thể giáng đến cùng, giáng chưa đến cùng thì không thể thăng đến tột độ. Cái lý lớn nhỏ cũng như vậy, nên núi ắt có hiệp. Đã hợp ắt có khai, hợp chưa tới cùng thì khai cũng chưa hết mức. Cái lý ngang dọc cũng tương tự, nên núi nhất định thành trướng. Như vậy núi nhất định có khí âm dương. Chỉ cần theo thể thế động tĩnh mà tìm hiểu thì thấy công đức sinh ra vạn vật là vô cùng vô tận. Nếu gộp hiệp và trướng lại mà xem thì đạo lý ấy tự nhiên trở nên rất rõ ràng.
Xuất hiệp: chỗ rồng lột xác
Núi có hiệp là nơi long mạch đứt đoạn lớn để qua mạch, cũng là nơi khó thoát thai hoán cốt. Giống như một người xuất thân từ khoa cử, ra làm quan, cuối cùng lên đến chức khanh tướng: ấy là rồng có sức lớn. Chỗ có hiệp nhất định do quy luật, không phải tự dưng mà có.
Khi long mạch sắp đứt đoạn qua mạch, trước hết nó khởi thế từ tổ sơn, hai bên vai tổ sơn giương ra hai trướng màn, mạch thì rút từ chính giữa ra khỏi hiệp, nên gọi là xuất hiệp. Chỗ rút lại hạ dần xuống, nhỏ dần. Có khi đứt đoạn trên đất bằng, có khi đứt đoạn ở nơi vượt sông, có khi ở nơi vượt thung lũng. Sau khi đứt đoạn lại nổi lên thành núi cao. Trước hiệp có nghênh có tống, hai bên có chân núi quay đầu nghịch nghênh, để chia dòng nước làm đứt mạch mà không làm thất thoát chân khí.
Khi long mạch xuất hiệp, khí thế của nó giống như một vị đại tướng dừng ngựa, cắm doanh trại, cờ xí, chiêng trống, đội ngũ dàn khắp bốn phía quanh chính mạch, tạo nên cục thế thoáng đãng mà kín đáo, giữa chốn núi rừng bốn phương tám hướng không chỗ nào khuyết hãm. Đó là cách đầu tiên của sơn hiệp.
Hiệp chia ra lão hiệp, trung hiệp và thiếu hiệp. Đến thiếu hiệp thì không còn xa chính huyệt. Long mạch thành kinh đô, đế đô thì khỏi bàn. Phàm long mạch thành tỉnh, phủ, châu, huyện, làng lớn, âm trạch lớn đều có hiệp, hình dáng cũng giống nhau, chỉ khác ở lớn nhỏ và thứ bậc nặng nhẹ. Một nơi phú quý quý địa không có hiệp riêng, phần nhiều nhờ hiệp của chính long phân chi mà kết huyệt ở hai bên, điều này khỏi cần bàn thêm.
Chính, bình, phục là quá dương hiệp. Khởi sống lưng là quá âm hiệp. Có loại qua hiệp từ trung tâm, chính điện, sức tương đối nặng. Có loại qua hiệp từ hai bên, sức tương đối nhẹ. Có loại xuyên qua ruộng, có loại vượt qua nước. Sơn hiệp phải ngắn, phải nhỏ, phải hẹp, thắt lại như lưng ong, cổ hạc mới hợp cách.
Thế là gốc, hình là hoa
Dải núi từ xa chạy đến gọi là thế. Chỗ nó kết thành huyệt gọi là hình. Thế giống như gốc cây, hình giống như bông hoa. Hoa tươi thì kết được nhiều quả, gốc dài và sâu thì thân cành dày đặc.
Hình được gọi là trú, vì nó đến từ xa mà dừng lại ở gần. Thế được gọi là giáng, vì nó từ chỗ cao hạ xuống đất bằng. Thế kết thúc thì hình thành công. Hình đã kết hẳn thì thế mới dừng nghỉ. Thế cần trải dài, hình cần thu hẹp.
Thế giống một vị đại tướng xuất hành, đường đi uy nghiêm, cờ xí xe cộ theo sau. Hình giống vị quan thứ sử đến thành trì do mình cai quản, kiểm tra kho tàng, nhà cửa và thành quách. Đứng xa xem thế, tuy giản lược nhưng chân thực. Đứng gần xét hình, tuy giản lược nhưng phong phú.
Giáng mà chân thực thì khí thế đi trên một mạch, không phân tán. Trú mà phong phú thì bốn bề chiếu ứng, chầu vào nhau. Giáng là từ phía sau đến, trú là từ phía trước ngoảnh lại nhìn. Hình thừa thế mà giáng thì chỉ lo phóng túng. Thế theo hình mà trú thì chỉ lo bỏ đi. Giáng thì khí tụ hợp, tụ hợp thì vạn vật đều đến bổ trợ. Trú thì khí dừng ngưng, dừng ngưng thì làm chỗ dựa cho vạn vật.
Cho nên khi nghiên cứu sự lên xuống của núi, quan sát các chỗ then chốt của núi, sự thuận nghịch của núi, nhận rõ hướng chảy của nước, nếu trú thì sẽ giáng, nếu giáng thì sẽ trú. Giáng như người đi nhậm chức, trú như gặp gỡ hợp ý, như chủ nhà đón khách quý, như người thân gặp bạn cũ: cân nhắc mức độ dung nạp, xét kỹ tinh thần. Người xưa lấy vị tướng xuất quân làm tổ, lấy giáng làm tông, lấy trú để thành thân thể của mình, lấy án đối ứng với minh đường làm con cháu.
Thế phải đi, hình phải dừng
Sự khác nhau giữa hình và thế thật là quan trọng. Khác nhau giữa xa và gần, giữa đi và dừng, cũng như nội tâm với con mắt. Việc xem xét kỹ sự lưu thông tiềm ẩn huyền diệu của núi tuy đã được các bậc tổ sư thuật số tiến hành, nhưng nhất định cũng phải hỏi ý các bậc danh Nho, dùng học vấn Nho gia mà cân nhắc nặng nhẹ, nghiên cứu cho kỹ hình thế.
Thế nhất định phải đi, có đi mới xa, có xa mới tung hoành được. Hình thì không nên đi, đi dễ phóng đãng, phóng đãng thì khó ngưng tụ. Thế không nên dừng, dừng thì đường tới không có ai theo. Hình nhất định nên dừng, dừng mới hàm súc, bao dung được. Hình không nên hiển lộ, hiển lộ thì chân khí bị gió làm phân tán. Thế nhất định nên hiển lộ, hiển lộ thì chân khí mới tụ hợp và hòa tan vào nhau.
Hình là chỗ tích tụ của thế. Thế là điều hình tôn sùng. Hình là kết quả của thế, thế là kẻ theo hầu của hình. Có thế ở hai bên tả hữu, lấy khoảng giữa mà theo hầu hộ vệ huyệt. Có thế ở trước mặt, lấy việc triều hướng huyệt để đáp lại chân long. Thế từ ngoài đến nên tròn, thế bên trong nên vuông.
Hình dáng của tông long giống nhị hoa. Hình dáng của tùng long giống hai vai của người nằm sấp, như hai mang thở của con cá, tùy xu hướng của thân thể mà chiếu ứng, phòng vệ hai bên. Hình dáng của thừa long giống tâm linh có mắt đi kèm, như ánh sáng của mặt trời mặt trăng soi tỏ lai lịch và kho báu kín đáo.
Những dạng khác nhau của hình thế giống nhiều cảnh đời. Có hình như nơi ở của thế gia đại tộc, cổng kín tường cao, người ngoài khó nhìn trộm vào nội thất. Có hình như tấm thảm trải rộng trên sàn nhà, chủ khách giao tiếp có thể bày tỏ hết lòng tôn kính. Có hình như vườn hoa hoang phế, hàng rào đổ nát, ai muốn ra vào cũng được. Có hình như một ông lão quyền thế phú quý, quanh ông nhất định có thị vệ hai bên. Có hình như nhà kho cất bảo bối và lương thực, nhất định có nhiều thiết bị phòng vệ nghiêm ngặt. Nền móng bền vững thì can chi vượng thịnh. Hộ vệ dày đặc thì hình ở gần chân long. Hiểu được dị tướng của hình và thế thì có thể phân biệt cát hung.
Ly sào nhập lộ: bốn dáng núi, bốn tiểu cách
Sơn mạch có vô vàn hình dáng. Quản Công Minh xếp thành bốn dáng chính là lạc, xuyên, chuyển, biến, rồi gọi chung là cách ly sào nhập lộ. Cách này gồm các tiểu cách: phát tổ quá mạch; trú hình phát tướng, đây là cách khởi từ tổ sơn; quá tướng, đây là dạng chuyển, biến; trú tướng, đây là cách kết tụ.
Trú tướng là khi núi mạch phía sau tưởng như đã đoạn tuyệt nhưng vẫn còn nối tiếp, còn núi mạch phía trước tưởng như sắp rời đi, sắp lên đường nhưng cứ đứng đúng chỗ ấy. Núi hai bên chầu vào như để củng cố, phòng vệ cửa nhà.
Quá tướng thì như con đường vị đại tướng đi qua, nửa như định dừng quân hạ trại chỉnh đốn đội ngũ, nhưng lại vẫn trùng trùng kéo quân đi.
Lạc là chi xen lẫn với can, không còn rõ chủ khách, từ trên cao giáng xuống chỗ thấp nhỏ như có mục đích riêng.
Những dáng thế của long mạch
Hình dạng thế cách của rồng có nhiều kiểu. Có kiểu theo dạng chữ: chữ Cá, chữ Vương, chữ Công, chữ Chỉ, chữ Dã, chữ Phẩm, chữ Nhất, chữ Hạ, chữ Thượng, chữ Thập, chữ Xuyên.
Có kiểu theo tên gọi: Tam Thai, Ngũ Não, Thất Tinh, Long Lâu, Phượng Các, Bảo Điện, Ngự Tòa, Ngự Liên, Ngự Tản, Quý Nhân, Văn Bút, Tinh Tiết, Triển Cáo, Đốn Hốt, Bảo Kiếm, Hoàng Cầm, Vân Cẩm Trướng, Phù Dung Trướng, Trực Lai Tam Thai, Bình Địa Văn Tinh, Tấu Mã Kim Tinh, Giang Nhạn Xuyên Vân, Phi Phụng Xung Tiêu, Phi Nga Giáng Thế, Phi Nhạn Hạ Sơn, Bàn Long Ủy Khúc, Sinh Xà Hoạt Động, Thiên Mã Hành Không, Lưỡng Hồng Ẩm Thủy, Hổ Cứ Ngưu Miên, Phủ Chiên Triển Tịch, Độ Thủy Xuyên Điền, Lạc Địa Mai Hoa, Xuất Thủy Liên Hoa, Mãn Sàng Nha Hốt, Nhật Nguyệt Hợp Bích.
Có kiểu theo ngũ hành: Triều Thiên Thủy, Khúc Xích Mộc, Thập Tự Mộc, Cái Thiên Thổ, Ngọc Tỉnh Thổ, Thấu Thiên Kim, Phúc Chung Kim, Bình Diện Kim, Trương Thiên Thủy, Chi Huyền Thủy, Ba Lãng Thủy, Văn Khúc Thủy, Chiếu Thiên Thủy, Tam Tiêm Hỏa, Khởi Diệm Hỏa, Bát Giác Hỏa. Lại có kiểu theo cành lá: cành ngô đồng, cành thược dược, cành dương liễu, cành kiêm hà, lá kim hà, lá sen.
Hình dạng, thể cách muôn hình vạn trạng. Chỉ cần núi nhấp nhô lên xuống, có đoạn có nối, màn trướng trùng trùng, hai bên cùng đưa tiễn, mở trướng xuyên tim, mạch từ trong đi ra, đều là phẩm cách cao quý bậc thượng.
Sống, đến, đẹp, vui: chỉ một đốt cũng chủ phúc phận hai mươi năm. Chết, đi, xấu, giận: chỉ một đốt cũng chủ tai ương hai mươi năm.
Vì sao long mạch khiến người ta nhiều nghi ngờ
Long mạch khiến người ta nghi ngờ nhiều nhất ở chỗ nào? Ấy là khi ta tìm đến đỉnh núi, thấy các nhánh phân chi của rồng. Hoặc ở chỗ chủ can, thấy quan và hiệp cùng đi song hành, có hộ vệ, có nâng đỡ, cờ xí giáo mác hai bên tả hữu cùng theo, nhưng hoàn toàn không thấy đỉnh núi nhô lên ở bốn phía. Nhìn quanh không biết dựa vào đâu để tìm long mạch.
Điều này cần được giải thích rõ, để làm chỗ dựa thật sự khi từ chủ can mà tìm ra rồng. Chủ can của rồng dài và xa vô cùng. Khi đi được giữa chừng, đến chỗ dương khí hội tụ, núi nước phía trước lại tươi đẹp đáng yêu, hộ long ở phía sau cũng quay lưng lại. Nếu tại đây còn nghi ngờ hướng đi của long mạch, thì có thể nói rằng hãy nhìn đội ngũ nghênh đón và đưa tiễn thân can long.
Điều này giống như vận chuyển lương thảo đi ngàn dặm, chẳng lẽ không có chỗ dừng nghỉ, tá túc để phân biệt trong ngoài? Long mạch đi xa nhất định phải có quan đô đốc đi cùng. Phàm có dòng nước dẫn can đi, thì ở nơi chi long đến tận cùng sẽ xuất hiện cờ xí giáo mác. Giáo mác nói ở đây chính là đỉnh núi xuất hiện, vuông vức, thuần khiết, hùng vĩ, nhưng ta lại không tìm thấy huyệt ở chốn này. Khi can long đi xa chưa dừng nghỉ thì chi long đã lạc huyệt rồi.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
