Bài tổng quan
Hướng quyết định cát hung, và phép phối thư hùng cho nước
Huyệt vốn không phân thiện ác, nước cũng không phân cát hung, chỉ có hướng mới phân ra tốt xấu, nên có nơi long tốt mà nước ác thì tai họa liên miên. Hai người nữ chung một nhà hay hai người nam chung một nhà đều không sinh sôi được, và người xưa đem lẽ ấy phối vào từng dòng nước. Vì sao nước chảy hơi quá hay hơi thiếu đều làm phúc lộc không bền?
Mục lục · 7 phần
Hướng là chúa tể của nước
Núi và nước vốn cùng một nguồn, và sau khi gặp tam hợp thì tốt lành. Cả hai đều cần thu được khí sinh vượng. Muốn thu nạp khí sinh vượng ở phía dưới tọa hướng của long mạch thì nên dùng tam hợp hợp với thế nhà, chủ về người đông, con cháu đầy nhà. Thu nạp nước mà hợp với thế nhà thì chủ về tài lộc dồi dào.
Phàm huyệt của long là quý hay hung đều tùy vào tình hình cụ thể của nước. Huyệt vốn không có thiện ác, chỉ có nước mới phân. Nước vốn cũng không phân cát hung, mà chính hướng phân ra thiện ác. Núi sa là cát hay hung thì dựa vào long mạch, còn nước là cát hay hung thì nhờ vào hướng. Như vậy hướng là chúa tể của ngũ hành sinh vượng, của chuyện phát đạt hay lụn bại. Nếu hướng không hợp thì cả sa lẫn nước đều hung.
Long mạch tốt lành mà nước hung ác thì tai họa liên miên. Ngược lại huyệt dù hung mà nước cát thì phúc lộc vẫn dồi dào. Kinh Thư viết rằng tuy có nước tuyệt diệt song không có địa mạch tuyệt diệt, và tuy không có dòng nước tuyệt diệt song lại có hướng nước tuyệt diệt. Muốn biết huyệt tọa cát hay hung thì phải xem chỗ ra vào của thần nước. Chọn huyệt phải lấy dòng nước làm chủ, lấy hướng của nước làm chuyên, tuyệt đối không để nước xung với các vị tử, tuyệt, hưu, tù.
Nước đến từ chỗ cát, nước về chỗ hung
Nếu nước đến từ chỗ cát mà quy về nơi hung thì có ai biết cách tránh? Nếu dòng nước đến từ nơi hung mà quy về chỗ cát thì ai biết cách cầu theo cát lợi? Cách tránh hung về cát nằm ở việc điểm huyệt, định hướng của nước và thế tiêu nạp của nước.
Nếu chỉ chuộng việc đối ứng chỉnh tề mà bỏ mất quan vị thì quan quý sẽ hóa thành quỷ sát. Dù cục cách ngay ngắn, đối xứng tề chỉnh, nhưng hướng nước không phù hợp, khiến sa sơn và dòng nước rơi vào đất chết thì quan quý của long sẽ biến thành quỷ sát, khiến tài lộc lụn bại, người nhà giảm thiểu.
Đổi hướng để đổi vận
Nước chầu và nước đón đổi chỗ, chuyển dịch, hướng nước lúc được lúc không, khiến cát và hung tự tách bạch. Long mạch, huyệt, sa sơn và dòng nước vốn không phân cát hung mà vẫn mang đến phú quý hay bần tiện, phúc hay họa. Ấy là vì có hướng. Hướng có thể biến hung thành cát. Vì vậy nếu phương hướng của long mạch đổi được thì nên đổi, không cần phải thay địa mạch hay dời huyệt.
Thần còn mà quỷ mất thì phúc đến mau chóng. Hung sát bức thân thì bần tiện khó tránh. Cần xem kỹ khí hưu, tù, vượng, tướng. Dù nói thế nào thì ý chính vẫn là dùng hướng để tránh hung, trừ họa. Tóm lại, thu được một hướng cát thì vạn sự hanh thông.
Nước đẹp đến chào đón thì phú quý song toàn, đáng theo thì theo. Nước hưu, tù, quay lưng, nghịch thì sinh họa, cần tránh thì tránh. Lập hướng mà có dòng nước từ nơi sinh vượng chảy đến thì phú quý tự nhiên tới. Chọn huyệt mà mất nước sinh vượng thì sinh họa. Nước xung phá chỗ sinh thì họa đang kề bên, nước xung phá chỗ vượng thì suy vong tới gần.
Bốn vị quái liệt và cửa nước của tam hợp
Có câu phú quý theo quái liệt, tổ tông theo nạp giáp. Quái liệt gồm Càn, Khôn, Đinh, Canh, Giáp, Quý, Nhâm, Ất, Cấn, Bính, Tân. Tam hợp dùng nạp giáp thì chỉ có cách lập hướng nước để tiêu trừ nước mới hợp với tam hợp. Bốn vị Ất, Tân, Đinh, Quý là nước của thiên can, cần chảy cùng long và huyệt, không nên để hướng đối diện với nước đi. Ất, Tân, Đinh, Quý phải chính đối với nước đi, thì hai bên trái phải tự nhiên có nước sinh vượng tới diệt sát khí.
Dù bát sát hoàng tuyền có thể diệt trừ ác tinh, nhưng nếu quái liệt đóng ở phương sinh vượng thì không như vậy. Nước của huyệt sinh có đảo hướng sang trái mà tuyệt diệt thì nước của long vượng lại không ngại việc đảo từ trái sang phải, lúc này xu hướng gần phương sinh dưỡng. Cho nên xác lập nước và hướng thì có ứng nghiệm cát hung, còn nhận ra sơn mạch và tiêu trừ sát khí thì có ứng nghiệm rất nhanh.
Ý ấy bàn về cách xác lập hướng nước để xem long cát hay hung. Sa sơn và dòng nước không phân cát hung mà lấy hướng làm căn cứ, còn hướng thì lại căn cứ vào khí mạch cát hay hung. Khí tới mà phủ khắp là thần khí, ngược lại là quỷ khí. Quỷ khí và thần khí vận hành không ngừng, sinh thành âm dương, cát hung họa phúc.
Tứ sinh và tam hợp là thiên cơ huyền diệu. Xác định long mạch, huyệt, phương hướng thì phải xem cửa nước. Phải có tam hợp sinh vượng mà Kim, Mộc, Thủy, Hỏa tự thành, cửa nước ứng hợp với mộ khố lưu động. Song sơn và ngũ hành đều là bí quyết. Nước tràng sinh về đường cục, đặt nước mộ tuyệt chảy đi là song sơn. Bốn cục đầy đủ thì phúc lộc cùng tới. Công vị ngay ngắn thì ắt là nơi khí mạch tròn đầy.
Thái cực phân hai khí, và hai khí phải phối cho đủ
Thái cực chia ra mà thành hai nghi, hai khí âm dương phân bố thì thuận và nghịch cùng đi.
Hãy lấy Bính hỏa làm ví dụ: từ Ngọ đi tiếp thì Mùi là suy, Thân là bệnh, Dậu là tử, Tuất là chỗ táng. Tuất là phần mộ của Bính, cũng là gốc diệt của dương hỏa, gốc sinh của âm thủy. Bính dùng Ất cùng hội tụ, vì Ất sinh ở Ngọ, mộc dục và quan đới lâm quan ở Thìn, đế vượng ở Mão. Còn Ất thì từ Dần đi tiếp, Sửu là suy, Tí là bệnh, Hợi là tử, Tuất là chỗ táng, nên Tuất cũng là phần mộ của Ất. Bính gặp Ất thành thư hùng tụ hội.
Càn, Giáp, Đinh, Hợi, Mão, Mùi là sáu cục âm. Cấn, Bính, Tân, Dần, Ngọ, Tuất là sáu cục dương. Mười hai long với hướng nước đều chung một cửa ải. Lại có Tân phối Nhâm, Nhâm phối Tân là cục dương thủy, mười hai long hướng nước đều xuất phát từ Thìn. Canh phối Đinh là cục dương kim, Đinh phối Canh là cục dương hỏa, mười hai long hướng nước xuất phát từ Sửu. Quý phối Giáp là cục âm thủy, Giáp phối Quý là cục dương mộc, cũng theo cách ấy mà định.
Long mạch có bốn mươi tám long hợp hướng và bốn mươi tám long không hợp hướng. Chỉ có long mạch mà hướng không hợp thì cũng vô dụng. Ất, Tân, Đinh, Quý cần hợp với Giáp, Canh, Bính, Nhâm. Ất và Bính tới Tuất thì bị diệt. Nếu gặp âm dương mà không cùng một loại thì gọi là sai.
Thử xét long Ất mộc dùng khí Bính để phối, ấy là âm dương chính phối, nước chảy ở Bính, Tuất thì cùng gặp nhau. Nếu cửa nước lại là Canh, Nhâm tương hợp thì không còn là chính phối, gọi là dương sai, chủ tổn thương đến nam nhân. Còn long Bính hỏa dùng khí Ất để phối thì là chính phối, và nước xuất phát từ Tuất. Nếu phối với cửa nước Quý, Nhâm thì khác loại, gọi là âm sai, chủ tổn hại đến nữ nhân.
Thư hùng cùng một đường thì cũng chỉ là miễn cưỡng ứng hợp. Anh em một nhà dù yếu nhưng vẫn hữu dụng. Nếu Bính gặp Ất thì là thư hùng phối nhau. Bính phối với Bính, Ất phối với Ất là anh em một nhà, dù đến đi đều suy nhược nhưng phú quý vẫn tới. Nếu long Bính gặp hướng Ất, rồi cửa nước lại xuất phát từ Đinh hoặc Quý thì đó là thư gặp hùng. Dù sa và nước có cát cũng ít hữu dụng, tuy là chính phối nhưng phát phúc rất chậm. Việc hay đến muộn, con đầu lòng không tốt, con thứ mới phát đạt.
Hai nữ chung nhà, hai nam chung nhà, và chuyện giao hội quá độ
Hai người nữ ở chung thì thuần âm, không phối hợp được. Hai người nam ở chung thì thuần dương, không sinh sôi được. Long thủy âm phải có hỏa dương. Nếu lại gặp âm thủy, kim, hỏa thì thành âm phối với âm, như hai nữ chung nhà, chỉ thuần âm nên không phát triển. Long dương hỏa cần có mộc âm. Nếu lại gặp dương mộc, kim, thủy thì thành dương phối với dương, như hai nam cùng nhà, thuần dương nên không sinh sôi. Âm dương giao hội quá độ thì hại, giao hội không đủ thì yếu.
Chẳng hạn long âm mộc gặp dương hỏa thì cần nước chảy từ Dần đến Tuất. Nhưng nếu nước lại chạy tới Hợi thì gọi là giao hội quá độ, chủ sinh khí phát tán, tài lộc lụn bại, gặp tai họa, sinh ra hạng người tà ác. Còn nếu nước chạy qua Tuất rồi lên đến Dậu, Thân, Mùi thì gọi là giao hội không đủ, nước xung phá khí sinh vượng, chủ khắc vợ hại con, cuối đời lụn bại. Dù sa và nước đều cát lợi nhưng phúc lộc cũng không bền.
Thịnh suy quan hệ với hình ứng. Dương dùng âm để ứng hợp, âm dùng dương để chầu đối. Hình dùng khí để phát, từ đó thấy long và hướng có sinh ra phú quý hay không đều nhờ thần nước hợp với phép tắc mà cùng hợp. Long dương mà nước âm, hoặc nước dương mà long âm, âm dương hội hợp thì khí cảm mà quỷ ứng, phúc họa bắt đầu sinh sôi. Nếu huyệt đón nhận sinh khí thì hình và khí cùng ứng hợp. Âm dương đã giao hội mà không hợp hướng thì hướng và khí không cùng ứng mà suy bại. Nếu hướng đón được sinh khí thì tốt. Đó là bàn việc long đón sinh khí để lập hướng.
Cửa trời nuôi của, trục đất nuôi người
Tiến sang trái là vào từ Tí, đi sang phải là từ Tí chuyển ra. Ý nói cách phân bố sinh khí để biết thịnh suy và cách định huyệt để cầu phú quý. Nếu đã rõ hướng thì rõ được thần nước có sinh vượng hay không. Vì vậy dương chuyển sang trái, khởi đi từ Hợi, Tí, Sửu. Âm chuyển sang phải, khởi từ Tí, Hợi, Tuất.
Sinh và vượng nâng nhau thì huyền khiếu thông suốt. Chỉ cần đối ngẫu mà không cần anh em. Ất, Bính, Đinh, Canh, Quý, Giáp, Tân, Nhâm đều cùng ứng hợp mà thành đôi. Nếu long Ất mộc gặp hướng Giáp mộc, long Tân kim gặp hướng Canh kim thì Giáp, Ất, Canh, Tân đều là anh em cùng khí, dù là âm gặp dương cũng không tốt.
Thiên Quan là nguồn khởi phát của tài lộc, Địa Trục khiến người nhà đông đúc. Nơi thần nước bắt nguồn gọi là Thiên Quan, nơi thần nước chảy đi gọi là Địa Trục. Nếu nước chảy tới dài thì tài lộc phong phú. Nước chảy đi hợp phép tắc rồi quy tụ về nơi suy mộ thì nhà đông người.
Long mạch và nước giao hội khiến âm dương gặp nhau. Nếu nước sinh vượng tới được minh đường thì nước sinh khiến người nhà đầy nhà, nước vượng khiến tài lộc sung túc. Âm dương trái nghịch, hướng khó thu nạp thì tài lộc hao tán, người nhà giảm thiểu, cho nên cần xác lập ngũ hành huyền không cùng tiến thoái để trừ họa. Chọn sinh nhập, khắc nhập là cát, sinh xuất, khắc xuất là hung. Nếu nước đến hợp phép tắc thì phú quý bền lâu. Nếu nước đi hợp phép tắc thì người nhà đông đúc.
Ngũ hành thật ra không có liên hệ gì với long, chỉ cần xem đường nước là biết cát hung họa phúc. Ngũ hành chỉ dùng khi lập huyệt, lập hướng và xác định nước đến, nước đi để tìm sinh và khắc. Quay về bản thân, bao bọc bản thân là quan là phụ. Khắc nhập là quan, sinh nhập là phụ. Thường khi ngũ hành vận hành khí thì phải chọn tương sinh mà kỵ tương khắc, ở đây lại chọn khắc nhập vì nước từ nơi khác đến hội hợp với long gốc. Nếu long tính chuyên nhất thì khí sinh xuất, khắc xuất sẽ chuyển động. Nước chảy thẳng thì khi sinh nhập, khắc nhập sẽ dừng lại.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
