Bài tổng quan
Hợp táng vợ chồng, cậu chủ tang và bài học hôn nhân
Khi nàng dâu mất, nhà ngoại thường kéo đến nhìn mặt người chết, sợ con gái mình bị ngược đãi mà không ai hay. Ở vùng người Tạng, người cậu phải được báo tin ngay, vì tang lễ của người mẹ là lúc hai họ gặp nhau hát đối, uống rượu tới khuya. Một chiếc quan tài đã làm được gì cho tình thân giữa hai nhà…
Hôn nhân đổi hình thái, mộ phần đổi theo
Tục chôn cất và chế độ hôn nhân đều không đứng yên. Cả hai chỉ là sản phẩm của từng thời, và cùng đi theo một quy luật: từ hình thái này chuyển sang hình thái khác. Vì vậy chỉ cần nhìn cách người xưa sắp xếp mộ vợ, mộ chồng cũng đoán được quan hệ giữa hai người ấy được tổ chức ra sao.
Thời đá cũ chưa có quan hệ vợ chồng tương đối cố định nên trong mộ chẳng thấy dấu vết nào của hôn nhân. Sang thời đá mới, người ta thường lấy vợ lấy chồng ngoài thị tộc. Đàn ông ban ngày làm việc và sinh hoạt ở thị tộc mình, tối mới sang thị tộc của người nữ ngủ lại. Sống thế nào thì chết chôn thế ấy: nam nữ mất đi đều được chôn trong mộ chung của thị tộc mình. Đến thời cận đại, một bộ phận người Lê dù đã bước vào công xã gia tộc phụ hệ vẫn giữ tục đem người phụ nữ có chồng đã chết về chôn trong mộ nhà mẹ đẻ. Nếu đường quá xa thì nhà ngoại phải tới đón hồn về thờ. Đó là tàn tích của chế độ mai táng thời mẫu hệ.
Ở các khu mộ thị tộc phía nam Đại Vấn Khẩu, Sơn Đông, người ta hay gặp dấu vết cà răng. Đáng chú ý là việc cà răng đúng vào tuổi trưởng thành: con gái mười bốn mười lăm, con trai mười lăm mười sáu, và vị trí răng bị cà khác nhau, có khi là răng cửa, có khi là răng hàm trên bên trái hoặc bên phải. So với tư liệu cổ và dân tộc học, người ta thấy tục này gắn chặt với việc lấy vợ lấy chồng ngoài thị tộc, và có ba công dụng. Thứ nhất, nó là dấu hiệu để nhận ra thị tộc. Muốn tránh kết hôn với người cùng huyết thống thì phải hạn chế thông hôn giữa một số thị tộc, nên mỗi người cần mang trên mình một dấu dễ nhận như cà răng, nhuộm răng, xăm vẽ hoa văn hoặc đeo khuyên mũi. Thứ hai, nó đánh dấu sự trưởng thành. Để sinh con khỏe mạnh, xã hội thị tộc coi trọng việc làm lễ thành đinh và lễ mặc váy rồi mới cho thông hôn. Có thị tộc đổi cách ăn mặc, kiểu tóc để đánh dấu, có thị tộc cà răng hay dùng cách khác. Thứ ba, nó đánh dấu vai vế, vì nhiều tộc dùng các vị trí cà răng khác nhau để phân biệt.
Một điểm giúp phân biệt mộ gia tộc với mộ thị tộc là mộ gia tộc có thể chôn thêm chồng hoặc vợ của người trong họ. Ở các văn hóa Tề Gia, Mã Gia Bình thời đá mới đã phát hiện mộ tuẫn táng thê thiếp, cho thấy địa vị của phụ nữ nô lệ lúc ấy. Hôn nhân khi đó không phải do yêu đương tự do hay mai mối mà là cưỡng ép. Kiểu mộ này tồn tại ở nhiều vùng phương Đông cho đến tận thời cận đại.
Thời Xuân Thu, Chiến Quốc, tầng lớp quý tộc rất chuộng việc đem tỳ thiếp chôn theo. Người bị chôn phần nhiều là các cô gái trẻ, có quan tài sơn vẽ, có cả vật tùy táng khá quý. Kiểu mộ ấy cho thấy đặc quyền đời sống và tình dục của quý tộc, và họ không muốn mất quyền ấy cả khi đã chết. Tần Thủy Hoàng mất, những người ở hậu cung chưa có con đều phải đi tuẫn táng, số lượng rất đông. Một mộ quách gỗ đầu thời Tây Hán ở Quảng Tây còn cho thấy cảnh cụ thể: dưới quan tài chính có bảy quan tài nhỏ, mỗi chiếc một bộ xương. Giám định cho biết sáu người là phụ nữ, tuổi chừng hai mươi sáu, hai mươi lăm, mười tám, mười sáu và hai cô gái khoảng mười ba. Họ mặc áo thêu hoa, đi giày, có người kèm vài vật tùy táng. Rõ ràng đó là tỳ thiếp hầu hạ chủ mộ, một bức tranh thu nhỏ đời sống hôn nhân của giới quyền quý đời Hán, nơi tình dục nằm dưới bóng quyền thế và của cải.
Nếu cuối thời thị tộc thê thiếp bị cướp về bằng chiến tranh và bạo lực, thì thời phong kiến họ được mua bằng tiền, và chồng nắm quyền sinh sát với vợ mình. Thư tịch còn ghi nhiều chuyện thê thiếp bị giết để chôn theo. Vào thời quá độ từ đồng đen sang đồ sắt, núi Miết Phượng ở Kiến Xuyên, Vân Nam, có cả một loạt mộ tuẫn táng. Cho đến đời Thanh, một số dân tộc vẫn giữ tục này, như người Mèo ở Quý Châu: chồng chết thì vợ bị chôn theo.
Chôn chung vợ chồng, từ thời Chu Công đến mộ động thất
Có một tục nhẹ nhàng hơn nhiều: cho vợ chồng nằm chung một mộ.
Tài liệu Tiên Tần cho rằng tục chôn chung vợ chồng bắt đầu từ thời Chu Công, còn khảo cổ cho thấy nó có thể còn sớm hơn. Đến Xuân Thu, Chiến Quốc, tục này rất thịnh. Kinh Thi có câu lấy cảnh sống chung phòng, chết chung mộ làm lời thề, rồi mong trăm tuổi sau hai người cùng về nơi ở vĩnh viễn.
Sống thì chung phòng, chết thì cùng huyệt.
Lễ ký chép chuyện Lý Vũ Tử muốn hợp táng Đỗ thị cùng mình. Khổng Tử cũng đem mẹ về chôn chung với cha. Thế nghĩa là từ trước Tiên Tần, chuyện chôn chung đã phổ biến, và phong tục mai táng này gắn với tình yêu nam nữ. Dưới niềm tin về hồn, người sống không lấy được nhau mong chết rồi nên duyên, người đã là vợ chồng mong chết rồi vẫn là vợ chồng.
Đời Hán, trào lưu chôn chung càng mạnh, từ vua đến dân thường đều làm. Lã hậu chôn cạnh Cao Đế ở Trường Lăng. Cảnh hoàng hậu chôn chung Cảnh Đế ở Dương Lăng. Có một chuyện khá thú vị trong Hậu Hán thư: em gái Hán Quang Vũ Đế gả cho Đặng Thần, chẳng bao lâu thì mất trong loạn binh, thi thể không còn. Khi Quang Vũ lên ngôi, ông truy phong bà làm công chúa Tân Dã. Đến lúc Đặng Thần qua đời, Quang Vũ ra lệnh gọi hồn bà về chôn chung với chồng.
Vào khoảng giữa Tây Hán, kiểu mộ đổi hẳn. Trước đó Trung Quốc phổ biến mộ huyệt đứng, đắp bùn lên quan tài. Vợ chồng thường chết trước chết sau, người sau chết thì phải đào mộ người trước lên, mà lúc ấy xương cốt và quan tài có thể đã mục, dễ lây bệnh. Vì thế hợp táng ở kiểu mộ này thường là chôn ở huyệt khác bên cạnh, không chung huyệt được, và điều đó vẫn là một thiếu sót với những ai muốn cùng vợ hoặc chồng hưởng hạnh phúc dưới âm phủ. Kiểu mộ động thất thì khác: có cửa mộ mở được để cho vào hợp táng cùng huyệt. Động thất còn giống căn phòng lúc sống, xây nhiều bằng gạch đá, chân tường có đường nước chảy, phần nào giải quyết được chuyện nước và đất ăn mòn xương, thi thể.
Tục hợp táng thịnh đời Hán gắn với bối cảnh: kinh tế cá thể tiểu nông thay dần kinh tế gia tộc, quan niệm gia đình nhỏ thay dần quan niệm gia tộc lớn. Đối với kẻ thống trị, nó cũng hợp với mong muốn bình thường của con người là vợ chồng thương yêu nhau suốt đời, và được giới nhân sĩ ủng hộ.
Sau đời Hán, phía nam Trung Quốc phổ biến vợ chồng chung một phòng, nhưng ở một số vùng vẫn lưu hành hợp táng hai phòng. Các mộ vách núi Tấn, Nam Bắc triều ở Tứ Xuyên có phòng nhỏ, chỉ đặt vừa một quan tài, có khi hai. Nhiều khi hai mộ gần nhau được xây đồng thời, ghép thành hình chữ Y, đó là kiểu hợp táng hai phòng của vợ chồng. Truyền thống này được kế thừa lâu, và đời Đường, Tống vẫn thịnh kiểu chung mộ khác phòng.
Hợp táng để giữ họ hàng, nhà ngoại đến nhìn mặt người mất
Nhưng vợ chồng chôn cạnh nhau chưa chắc chỉ vì thương nhau. Có khi đó là cách giữ chặt một liên minh giữa hai nhà.
Quan hệ thân thích của người phương Đông thời xưa chứa đủ thứ: chính trị, kinh tế, quyền lực, dân tộc. Hôn nhân thường là chiếc cầu nối các thứ ấy, và khi một trong hai người mất thì cầu có nguy cơ gãy. Hợp táng vợ chồng, cộng thêm hai nhà phải cùng nhau lo giỗ chạp, tảo mộ, giúp kéo dài mối quan hệ ấy.
Một ví dụ rất rõ: Đường Trung Tông và Vĩ hậu từng tổ chức hôn lễ cho người em trai đã mất, vợ của em trai là con gái Tiêu Chí Trung cũng vừa chết, và hai người được chôn chung một huyệt. Không lâu sau Vĩ thị thất thế. Họ Tiêu liền đào mộ, đem con gái về chôn nơi khác. Họ Tiêu đồng ý hợp táng ban đầu là mong nhờ mối thân cận để thăng tiến, đến khi thế lực Vĩ hậu sụp thì sợ liên lụy nên rút về. Trong dân gian cũng vậy. Bài thơ cổ Khổng tước Đông Nam phi kết bằng cảnh hai nhà cùng hợp táng bên núi Hoa Sơn.
Chế độ ngũ phục của người Hán xưa cũng đi cùng hướng ấy: chồng phải để tang vợ một năm, trong thời gian đó không được cưới vợ kế, và họ hàng cũng phải để tang người vợ đã khuất. Mọi quy định đều thắt chặt quan hệ thân thích.
Ở phương Đông xưa, người cùng dòng họ không lấy nhau, hôn nhân được dùng để gắn bộ lạc, thị tộc, gia tộc, dòng họ lại. Lễ ký nêu công dụng của hôn nhân.
Hôn nhân là sự kết hợp của hai họ, vừa nối dõi cho đời sau, vừa thắt chặt quan hệ giữa hai dòng họ.
Nhưng quan hệ ấy thường rạn khi một người mất. Vợ chết, nhà ngoại hay ngờ nhà chồng ngược đãi, hạ độc, đánh đập. Để tránh nghi ngờ, nhiều gia tộc có tục đợi người nhà ngoại đến nhìn mặt, kiểm tra thi thể, biết rõ nguyên nhân cái chết rồi mới đậy nắp quan tài đem chôn. Người Hán, người Choang, người Mao Nan, một bộ phận người Tạng và người Bố Y đều có tục này. Nó giúp cái chết của một người không làm hỏng việc thông hôn và quan hệ giữa các bộ lạc, gia tộc.
Người Tạng ở Thảo Địa, tây bắc Tứ Xuyên, đến nay còn giữ tục mẹ mất phải báo cho người cậu, nói rõ nguyên nhân cái chết và bàn việc làm tang. Nếu không, bị coi là bất kính với cậu và rắc rối sẽ kéo đến. Với người Tạng Gia Tuyến, có thể nói tang lễ của mẹ do người cậu chủ trì. Việc đầu tiên là báo tang. Cậu đến vào chiều tối thì nhà có tang đánh chiêng trống ra đầu thôn đón, bày bàn trà, rượu, trứng gà ở cửa. Người già bên nhà có tang đứng cạnh bàn, con cái đứng một bên. Trưởng họ kể nguyên nhân cái chết, nói nhà nghèo, lo liệu có thể thiếu chu đáo, xin lượng thứ. Nếu cậu chưa hài lòng việc tang thì nói rõ, nhà có tang phải giải thích tường tận. Xong mới rót rượu, đốt giấy, nổ pháo mời thần.
Kế đến là tục giao lễ. Người già bên nhà chồng cùng cậu vào phòng ngồi bên trái bàn thờ, con cái ngồi bên phải, khách ngồi dưới bên trái. Người coi việc tang dùng đĩa gỗ bưng hai tấm vải, một mâm thịt, một mâm hoa quả, sáu quả trứng luộc dâng cậu. Rồi đến hát đối: bên nhà chồng chọn một người dùng lời hát tỏ ý việc tang sơ suất xin lượng thứ, cậu hát đáp lại. Hai bên cùng kể chuyện người mất lúc còn sống, ca ngợi và tiếc thương, vừa hát vừa uống rượu đến khuya. Toàn bộ nghi thức hướng về một chủ đề: dùng tang lễ để thắt chặt quan hệ thân thích.
Ở những vùng có tục mua bán hôn nhân, gả con gái bị coi như trút được gánh nặng, ít ai lo đời sống và sức khỏe của con gái về sau, làm hỏng quan hệ qua lại cần thiết giữa hai nhà. Một số dân tộc đã đẻ ra niềm tin về hồn và tục chôn cất riêng để chữa chỗ khuyết ấy. Người A Xương cho rằng có một loại hồn riêng là hồn cô gái chết sau khi xuất giá. Con gái chết thì nhà mẹ phải đón hồn về thờ từ ba đến bảy ngày rồi mới đưa về nhà chồng, nếu không hồn sẽ về nhà hại người. Chị em gái chết, nếu anh em trai không đến thăm lúc sắp mất và sau khi mất, hồn sẽ về nhà mẹ đẻ để ăn thịt người. Niềm tin ấy ép các bên phải qua lại với nhau.
Khi người già hai bên mất thì họ hàng thân thích cũng phải qua lại. Nhiều dân tộc làm tang người già thì hai nhà cùng vái lạy cảm tạ khách. Người Hán xưa nay có tục con rể và thân quyến phải tham dự tang lễ cha mẹ vợ. Người Bố Y có tục: cha mẹ vợ mất, con rể và người nhà phải dắt một con bò đến trước quan tài. Trống đồng, sáo, tiêu nổi lên cùng lúc, bạn bè họ hàng đứng ngoài nhìn. Con rể, con dâu theo thầy cúng đi quanh con bò vài vòng, mỗi người vốc một nắm gạo rắc vào miệng bò. Người đứng cạnh không được vượt qua mặt con rể, nếu không bị coi là điềm xấu. Thầy cúng đứng trước quan tài hát lời tế xong thì lễ kết thúc. Lễ này gọi là "đánh bò". Nó vừa nhắc công ơn dưỡng dục của cha mẹ, vừa nhấn mạnh con cái, dâu rể, cháu chắt phải đoàn kết, qua lại với nhau sau khi cha mẹ vợ mất.
Các dân tộc vùng Kinh, Sở, Ngô, Việt xưa thịnh tục bốc mộ, người Kinh ở Việt Nam cũng làm. Người đứng ra bốc mộ phải là con rể. Đêm nhập táng, con rể gọi chừng mười người, mỗi người cầm một cây gậy trúc dài hơn một trượng, thêm lá trúc, vừa hát vừa kêu. Người Ngật Lão ở một số nơi lại để con rể đỡ linh bài thay vì con trai cả. Con rể trưởng dùng gậy gỗ xâu thịt lợn vác vai, đi quanh quan tài ba vòng. Các phong tục này mang dấu vết hôn nhân ở rể. Vì sao xã hội đã vào thời gia tộc, phong kiến mà phong tục ấy vẫn còn? Vì nó nâng địa vị con rể và tăng chức năng thực tế của quan hệ thân thích. Người Mèo ở Tương Tây hằng năm làm lễ tế, mỗi nhà phải mời cậu bên mẹ hoặc cậu bên nhà vợ tới dự. Người Mèo ở Tùng Đào, Quý Châu, làm lễ tế già, tục gọi lễ cúng lợn, phải mời cậu của chồng hoặc ba người thân, một nam một nữ, đến quỳ cạnh tượng thần, không được cười nói, không được di chuyển, rồi có người đến bê thịt cúng đi. Mục đích vẫn là tăng đoàn kết và quan hệ họ hàng.
Tang lễ dạy hôn nhân: chuyện con cái, chuyện chung thủy
Có một chỗ mộ phần làm việc của người thầy: dạy cho cả họ biết thế nào là một cuộc hôn nhân đúng khuôn phép.
Giáo dục hôn nhân là dạy thanh thiếu niên cách nhìn hôn nhân mà văn hóa dòng tộc cho phép, gồm nhiều điều trước và sau khi cưới. Từ xưa đến nay đó vẫn là chủ đề lớn của xã hội, và hầu hết các dân tộc phương Đông đều từng mượn tang lễ để dạy.
Khuyến khích sinh nhiều con là một việc lớn. Người Hán xưa cho rằng điều căn bản của hôn nhân là sinh con nối dõi, lo hương khói tổ tiên. Trung Quốc cổ có rất nhiều mộ tuẫn táng thê thiếp, nô tỳ, và theo tục lệ các dân tộc cùng tư liệu liên quan, người bị chôn theo về cơ bản đều chưa từng sinh con. Điển hình nhất là Tần Thủy Hoàng: toàn bộ phụ nữ chưa sinh con ở hậu cung bị đem chôn theo khi ông băng hà. Thời phong kiến có tục "thất xuất", bảy trường hợp chồng được bỏ vợ, và không sinh được con đứng đầu. Điều này thể hiện cụ thể trong tục chôn cất. Đa số dân tộc có quy định bất thành văn: người phụ nữ chết mà chưa từng sinh con, lại chưa bị đuổi đi, thì không được chôn trong mộ gia tộc, tên không được ghi vào gia phả, không được hưởng hương khói và không có người đi tảo mộ, thắp hương. Tục này phản ánh sự hắt hủi phụ nữ và cổ vũ đàn ông có nhiều vợ, nhiều thiếp thời ấy.
Chế độ ngũ phục của người Hán xưa còn chứa nhiều thông điệp khác. Chồng chết thì vợ phải theo con để tang ba năm. Vợ chết thì chồng chỉ để tang một năm. Thiếp chết thì chồng không cần mặc tang phục. Thê thiếp coi chồng như vua, chồng xem thê thiếp như thần và nô bộc, phân biệt vợ chính, vợ phụ, thiếp, chủ và tớ. Con gái trước và sau khi xuất giá có lệ để tang cha mẹ khác nhau, ý muốn dạy con gái xuất giá coi nhà chồng như nhà mình, coi chồng như vua. Chế độ này còn bắt để tang cả vợ của anh, em trai, nhằm dạy luân lý và ngăn tục anh em chung một vợ của xã hội thị tộc. Con trai phải để tang mẹ kế ba năm, như Công Khổng Huyền thời Hán Vũ Đế, nhằm giữ hòa khí giữa vợ kế với chồng và giữa mẹ kế với con chồng.
Ở một số vùng người Choang, thanh niên chết khi chưa có gia đình bị trùm túi vải lên đầu, buộc phên trúc vào người rồi làm bộc táng. Truyền rằng làm vậy thì quỷ không thấy đường, không thể đi khắp nơi hại người. Tục này có ý nghĩa thúc thanh niên sớm kết hôn, sinh con, phát triển thế lực cho tộc. Người Ha Nê ở Hải Huyện, Vân Nam, gọi hồn người chưa cưới và người đã cưới nhưng chưa sinh con là "Mật ha" đẳng cấp thấp, khâm liệm đơn giản, mang đi chôn là xong. Người chỉ có con gái, không có con trai, hồn gọi là "Mật sa", tang lễ cũng làm đơn giản. Còn người đông con trai, đông cháu thì tang lễ thường long trọng. Tục này giục người trong tộc sớm cưới gả, đẻ nhiều, đồng thời củng cố chế độ thị tộc phụ hệ và tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Xã hội thị tộc thường chuộng lấy người ngoài thị tộc. Ai phạm điều đó, lấy người cùng tộc, thường bị xử tử, chết rồi còn bị phanh thây để làm gương. Kiểu mai táng riêng ấy thực ra là để dạy các thành viên phải lấy người ngoài. Xã hội phong kiến lại chuộng hình phạt chôn sống hay dìm sông với những kẻ tư thông, gian díu. Người Thủy ở Quý Châu thường chôn sống những đứa trẻ ngoài giá thú ngay lúc mới sinh. Có nơi bắt cả người mẹ, nếu người đàn ông ở trong thôn thì bắt cả nam lẫn nữ, nhốt vào lồng lợn rồi ném xuống sông. Tục mai táng đặc biệt ấy cũng dạy hôn nhân phong kiến cho người trong tộc. Từ sau thời Ngụy Tấn, nhất là từ đời Tống, khi có liệt nữ, trinh nữ chết, địa phương hay làng xóm góp tiền xây mộ lớn hơn thông thường, dựng bia mộ rất lớn trước mộ. Kiểu mai táng ấy cũng nhằm cổ vũ hôn nhân phong kiến và lễ giáo phong kiến.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
