Bài tổng quan
Cổng Tiết Hiếu, núi nhọn phát khoa bảng và hồng miếu thổ huyết
Ba đứa trẻ trong cùng một dòng họ không cất được tiếng, và người xem đất chỉ tay vào ngọn núi nhọn ở phương Đoài. Cũng ở vùng đất ấy, một cổng nhà nhô cao khiến cả họ không ra nổi người học, còn bên kia dòng nước, một ngọn núi lại nâng một người lên quan tam phẩm. Có thần đồng mười lăm tuổi đỗ tiên sĩ mà…
Mục lục · 6 phần
- 01Cổng nhà Tiết Hiếu nhô cao và cuộc đất không ra người học
- 02Ngọn núi đỉnh nhọn ngoài dòng nước và chuyện làm quan hình pháp
- 03Núi nhọn ở Đoài, ba người con không nói được
- 04Khôn có nước phóng quang, vận 6 phát và vận 8 mất con trưởng
- 05Hồng miếu ở Tốn, thần đồng thổ huyết và lửa dục của phòng trưởng
- 06Rạch bắn thẳng sau lưng huyệt và sáu trăm mẫu ruộng tan thành mây khói
Cổng nhà Tiết Hiếu nhô cao và cuộc đất không ra người học
Ngôi mộ họ Y lập sơn Quý hướng Đinh, vận 5. Từ phương Tốn có một con khe nước chảy tới, vòng qua phương Ly, đến Canh Dậu Tân thì uốn khúc mà đi mất. Ở phương Tốn có một cổng Tiết Hiếu, nơi ghi nhớ những người hiếu nghĩa.
Chương Trọng Sơn viết: cuộc đất này sau khi táng đại phát tài đinh nhưng không có người đi học. Vận 6 bình bình; vận 7 lại đại phát nhưng gặp nhiều lời qua tiếng lại và kiện tụng.
Thẩm Trúc Nhưng chú giải: đại phát tài đinh vì vượng tinh đáo sơn đáo hướng, ở hướng lại có nước. Phương Tốn vốn là Nhất Tứ đồng cung, lại có cổng cao của Tiết Hiếu nhô lên, đáng lẽ chủ phát thi cử đỗ đạt; nhưng địa quái Nhị khắc thiên quái Nhất, cho nên chẳng có người học hành nên danh. Vận 6 bình bình vì phương Cấn không có nước. Vận 7 đại phát vì nước uốn khúc chảy ra phương Đoài; vận 7 lắm kiện tụng vì Thất là Đoài, là lời qua tiếng lại, cộng thêm vận bàn Lục tới Tốn, Lục là việc quan, mà phương Tốn lại có cổng ghi nhớ người hiếu nghĩa nhô lên cao.
Ở đầu phía đông của ngôi mộ này còn có một huyệt liền kề, cùng táng theo một sơn hướng và một vận như nhau. Về sau huyệt ấy cũng đại phát, nhưng có hai người con gái và một người con trai bị câm. Vì mộ kề bên nằm ở phương Đoài, Đoài là miệng, là thiếu nữ, nên chủ hai thiếu nữ câm; Bát là Cấn, là thiếu nam, nên một người con trai câm. Đó là ý của câu hào ly thiên lý lạc không vong, rằng ngàn dặm tất thước đều rơi vào không vong.
Bạch Hạc Minh bình thêm: phương Tốn của cuộc này vốn là Nhất Tứ đồng cung (Tứ là địa bàn), đáng tiếc địa quái, tức sơn tinh, khắc thiên quái, tức hướng tinh, cho nên không ra người học. Nếu phương ấy dựng được một công trình hình tròn trịa để kim làm thổ tiết khí mà sinh thủy, thì ắt sẽ có người học hành thành đạt.
Ngọn núi đỉnh nhọn ngoài dòng nước và chuyện làm quan hình pháp
Cùng một chữ Nhất Tứ đồng cung, nơi này đỗ đạt còn nơi kia chỉ nghe tiếng thị phi.
Ngôi mộ họ Hoa cũng lập sơn Quý hướng Đinh, vận 5. Nước từ phương Tốn chảy tới, đến phương Đoài thì uốn khúc quanh co mà đi; ngoài dòng nước ở phương Tốn lại có một ngọn núi đỉnh nhọn.
Chương Trọng Sơn viết: cuộc đất này sau khi táng đại phát tài đinh và khoa bảng; vận 7 đại phát, làm quan nổi tiếng về hình pháp.
Thẩm Trúc Nhưng chú: phát tài đinh vì vượng tinh đáo sơn đáo hướng, ở hướng lại có sông nước. Phát khoa bảng vì phương Tốn có Nhất Tứ đồng cung, lại được thêm ngọn núi đỉnh nhọn bên ngoài dòng nước. Nhị Hắc tuy cùng tới nhưng không hại được. Cổ thư viết:
Nhất Tứ đồng cung là hiện rõ chuẩn mực phát về khoa bảng đỗ đạt.
Vận 6 bình bình vì phi tinh ở phương Cấn là Lục mà lại không có sông nước. Vận 7 đại phát về quan hình pháp, chức tước tới tam phẩm, vì song Thất tới Đoài mà nước lại uốn khúc quanh co đi ra. Đó là cách phối hợp thủy pháp để đoán định.
Bạch Hạc Minh nêu một câu hỏi: ở một cuộc đất khác, phương Tốn cũng Nhất Tứ đồng cung nhưng lại không phát đỗ đạt khoa cử, vì sao lại khác như vậy? Ông trả lời rằng cuộc này phương Tốn gặp núi cao đỉnh nhọn, mà sao Văn Xương (Tứ Lục) gặp núi cao đỉnh nhọn là tượng cây bút văn nổi tiếng.
Núi nhọn ở Đoài, ba người con không nói được
Ba đứa trẻ không cất được tiếng, và thủ phạm là một ngọn núi nhọn đứng ngay phương Đoài.
Một ngôi mộ tổ khác, cũng sơn Quý hướng Đinh, vận 5. Nước theo phương Tốn tới phương Đoài rồi đi mất; ở phương Đoài có một ngọn núi đỉnh nhọn.
Chương Trọng Sơn viết: mộ này sau khi táng chủ về phát tài đinh, nhưng có hai người con gái và một người con trai bị câm.
Thẩm Trúc Nhưng chú: hai người con gái câm vì phương Đoài có núi nhọn. Đoài là lời qua tiếng lại, là thị phi; Thất tới Đoài, Đoài là thiếu nữ, nên chủ hai cô gái bị câm. Một người con trai câm vì Bát tới Cấn, Cấn là thiếu nam. Còn phát tài đinh là vì vượng sơn vượng hướng, ở hướng lại có nước.
Tắc Tiên nhắc rằng đã có một cuộc cùng vận Quý Đinh, phương Đoài bị bế tắc nên cũng sinh ra người câm, trong khi chỗ có nước thì đều có lợi. Vì vậy phải kỵ sự bế tắc của phục ngâm; Lý Khí lấy hình thế Loan Đầu làm tượng, hiểu được điều này thì ở phương nào trong tám phương phạm phục ngâm, cũng biết nên gạt ra khi luận. Ông nói thêm rằng phương Tốn của các cuộc này đều là Nhất Tứ đồng cung, và nước với thổ tương khắc. Mộ có cổng Tiết Hiếu nhô cao thì không ra người học; còn mộ họ Hoa được ngọn núi đỉnh nhọn ngoài dòng nước, đó là chuẩn mực đỗ đạt khoa bảng, làm quan đến tam phẩm.
Bạch Hạc Minh nhận xét: cuộc này Ngũ Hoàng là vượng tài, nhưng một khi bước qua vận 6 thì nguồn tài đại bại. Lý do là các phương Tốn, Ly, Khôn thấy nước, mà đó là loại thủy suy tử đang có sức; còn phương Đoài tuy có núi nhưng nước lại đi mất, nên sức mạnh của cát thủy quá yếu.
Khôn có nước phóng quang, vận 6 phát và vận 8 mất con trưởng
Một ngôi sao đi qua hai thời, mà cùng chỗ ấy khi thì sinh người, khi lại lấy người.
Ngôi mộ họ Chu lập sơn Nhâm hướng Bính, vận 5. Ở phương Khôn có nước phóng quang.
Chương Trọng Sơn nói: cuộc đất này lúc mới táng bất lợi; qua vận 6, sơn và nước đều được vượng tinh nên đại phát tài đinh; đến vận 8 thì phòng trưởng suy bại.
Thẩm Trúc Nhưng chú: lúc mới táng bất lợi vì phạm thượng sơn hạ thủy. Qua vận 6, đinh và tài đều vượng vì phương Khôn có nước phóng quang; Khôn là Lục, phi tinh ở sơn cũng là Lục, nên chủ về vận 6 hưng vượng. Một khi qua vận 8, phòng trưởng không thêm người, tiền của cũng suy bại. Khi ấy phòng trưởng có một người con; đến năm thứ bảy đời Đạo Quang (Đinh Hợi), Nhị Hắc nhập trung cung, Thái Tuế Lục Bạch tới hướng, kim khắc mộc, nên người con của phòng trưởng mắc bệnh rồi mất sớm.
Tắc Tiên giải thích: qua vận 8, Lục của phương Khôn đã đi từ lâu, thành tử khí. Lục thuộc trưởng nên phòng trưởng không thêm người, tiền tài còn suy bại. Vả lại vào vận 8, Ngũ Hoàng bay tới Khôn, phạm hỏa khắc kim, cũng là tượng bất lợi.
Bạch Hạc Minh nói thêm: Vương Tắc Tiên chỉ ra rằng vận 8 Ngũ Hoàng bay tới Khôn, phạm hỏa khắc kim. Kiền Lục là kim, là trưởng phòng, cho nên bất lợi cho phòng trưởng. Việc Ngũ Hoàng bay tới Khôn là xem theo tinh bàn của vận 8.
Hồng miếu ở Tốn, thần đồng thổ huyết và lửa dục của phòng trưởng
Một ngôi miếu nhỏ nhô cao đủ làm đổi hướng cả một cuộc đất vốn đã hợp thập.
Ngôi mộ họ Từ ở Dư Dao lập sơn Sửu hướng Mùi, vận 5. Phương Kiền có nước, phương Tốn có một ngôi hồng miếu.
Chương Trọng Sơn dẫn lời Tiền Uẩn Nham: ngôi mộ này sau khi táng phát cả phú lẫn quý. Vận 6 có năm người đỗ hương bảng, lại xuất hiện một thần đồng mười lăm tuổi đỗ tiên sĩ nhưng đến mười chín tuổi thì thổ huyết mà chết. Nay đang ở vận 8, phòng trưởng dâm loạn; khoa bảng thì không còn, nhưng tài khí khá lớn.
Thẩm Trúc Nhưng chú: cuộc đất này đại phát tài đinh do vượng sơn vượng hướng. Trung cung là Ngũ, hướng là Ngũ, sơn cũng là Ngũ; sơn và hướng hợp thập, trung cung cũng hợp thập. Phát đỗ đạt do phương Kiền có sông nước mở rộng và Nhất Lục đồng cung; phương Tốn lại có Tứ Cửu là bạn bè. Năm người đỗ vì vượng tinh ở sơn là Ngũ. Thổ huyết mà chết vì hồng miếu nhô cao.
Vận 8 không phát công danh do Bát Bạch ở sơn, phương Cấn không có Nhất Tứ. Vận 8 phòng trưởng dâm loạn do Tốn thuộc mộc, là trưởng nữ, nên ứng vào phòng trưởng. Phương Tốn có Cửu, Cửu là lửa dục; lại có Tam là trưởng nam, là tặc tinh, tức sao giặc. Lửa dục của người nữ cùng một cung với tặc tinh của người nam, làm sao tránh khỏi dâm loạn? Tài khí vượng vì hợp thập và ngũ hợp thập.
Tắc Tiên nhận xét: vận 6 đỗ kỳ thi hương là đoán theo thiên bàn, vì trong tám phương chỉ có phương Kiền có nước thuần thanh phóng quang, nên ứng vào vận 6; thêm phi tinh Nhất ở hướng cũng tới Kiền. Nhất Lục đồng cung gọi là thôi quan thủy, nước thúc đẩy quan vận, nên chủ phát quý. Vận 8 phòng trưởng dâm loạn vì phương Tốn là Tứ Cửu bạn bè. Qua vận 8, Đoài Thất bay tới Tốn, âm thần tụ lại thành bầy, cộng thêm ngôi hồng miếu nhỏ mà cao. Âm thần mà có lực thì nếu không chủ dâm loạn, cũng ứng ra người đào hoa.
Bạch Hạc Minh dẫn kinh: thần ở phía trước, miếu ở phía sau là cuộc đất cô sát. Gần ngôi mộ này có hồng miếu thì đã không cát lợi, mà ảnh hưởng đến Lý Khí của nó cũng khá lớn; xem trường hợp này ắt hiểu rõ điều đó.
Rạch bắn thẳng sau lưng huyệt và sáu trăm mẫu ruộng tan thành mây khói
Cuộc đất hung đến mức ruộng đồng cũng tan theo, vậy mà vẫn còn một khe hở cho chuyện văn chương.
Ngôi mộ tổ của họ Trần ở Dư Lục lập sơn Ất hướng Tân, vận 6. Từ Tuất Kiền Hợi có sông rạch chảy tới, đến Canh Dậu Tân thì rộng lớn ra, tới Khôn Thân thì đi mất. Ở phương Cấn có một con rạch khác bắn thẳng tới phía sau huyệt.
Chương Trọng Sơn viết: sơn và hướng của cuộc đất này hung nhiều cát ít. Chủ nhân kể lại rằng sau khi táng, hơn sáu trăm mẫu ruộng tan thành mây khói, trong nhà có năm sáu người trở thành quả phụ. Trọng Sơn đáp: phạm thượng sơn hạ thủy, sao không bị họa như vậy cho được.
Thẩm Trúc Nhưng chú giải: phương Cấn có con rạch bắn thẳng vào huyệt. Sao tới Cấn là Nhị Thất; Nhị là quả tú, Thất là thiếu nữ; lại thêm Lục Bạch ở sơn là nam mà nam đã lạc xuống nước, nên chủ tổn thương đàn ông, xuất hiện quả phụ. Nước đến và nước đi đều khắc vào đầu hướng: ở hướng là Nhất, phương nước đến là Cửu, nước khắc lửa; ở hướng là Nhất, phương nước đi là Ngũ, Ngũ là Liêm Trinh nên phải luận là hỏa, cũng là nước khắc lửa. Phi tinh lại phạm thượng sơn hạ thủy, cho nên sau khi táng ruộng đất tan thành mây khói. Cuộc đất này ắt là vô khí; nếu là cuộc có khí thì tài đinh tuy suy bại nhưng công danh cũng không đến nỗi, vì hai phương Kiền và Đoài có nước, Nhất là Khôi tinh, Cửu là văn vẻ, tuy khắc nhau nhưng không trở ngại.
Bạch Hạc Minh nói đây là cách thượng sơn hạ thủy, chủ phá tài tổn đinh, nhưng vẫn có thể xuất hiện văn nhân, và toàn bộ nhờ các sao của hai phương Kiền Đoài phối hợp với nước. Từ đoạn này có thể thấy vượng tài vượng đinh với việc ra văn nhân là hai chuyện khác nhau.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
