Bài tổng quan
Hà Đồ, Lạc Thư và đường từ thái cực đến sáu mươi bốn quẻ
Một con rùa đội chín, đạp một; hai vai là hai và bốn; hai chân là sáu và tám; năm ở giữa: đó là cách người xưa nhớ bức tranh số Lạc Thư. Từ hai tấm tranh số ấy, một nét vạch tách làm hai, làm bốn, làm tám rồi thành sáu mươi bốn quẻ, mỗi quẻ có một cái tên và một câu chuyện. Vì sao quẻ Thái và quẻ Bĩ lại đối nhau như thế...
Hà Đồ, Lạc Thư: hai bức tranh số đứng sau tám quẻ
Hà Đồ và Lạc Thư là hai tấm tranh số quý giá, được coi là cơ sở hình thành Bát Quái. Hệ Từ Truyện trong Dịch Kinh nói: sông Hà hiện ra bức đồ, sông Lạc hiện ra cuốn thư, thánh nhân lấy đó làm phép.
Trong Hà Đồ, các số từ một đến mười được xếp như sau: một và sáu ở phía dưới, hai và bảy ở phía trên, ba và tám bên trái, bốn và chín bên phải, năm và mười ở giữa. Xét phương vị thì người đứng quay mặt về phương Nam, nên trên là Nam, thuộc lửa; dưới là Bắc, thuộc nước; trái là Đông, thuộc Mộc; phải là Tây, thuộc Kim; giữa là Thổ. Số lẻ gồm một, ba, bảy, chín; số chẵn gồm hai, bốn, sáu, tám; mười số cộng lại là năm mươi lăm.
Lạc Thư lấy các số từ một đến chín xếp thành phương vị theo hình con rùa: đội chín, đạp một; trái ba, phải bảy; hai và bốn là vai; sáu và tám là chân; năm ở giữa. Cách xếp số trong Lạc Thư và Hà Đồ giống nhau ở chỗ số lẻ nằm ở bốn chính phương: một ở Bắc, ba ở Đông, chín ở Nam, bảy ở Tây; số chẵn nằm ở bốn góc; tổng bốn mặt là bốn mươi, thêm năm ở giữa thành bốn mươi lăm.
So hai bức với nhau, có ba điểm giống: đều lấy số năm, vừa là số dương vừa nằm giữa, làm trung tâm; số lẻ một và ba đều đứng cùng phương vị; và điểm khác duy nhất là bốn số chẵn: trong Hà Đồ, hai, bốn, sáu, tám chạy theo thứ tự vận động, còn trong Lạc Thư chúng đi theo nguyên tắc đầu tiên, ngược chiều từ hai đến bốn rồi thuận chiều từ sáu đến tám. Việc coi Hà Đồ và Lạc Thư là do long mã và thần quy ban xuống thật ra là một thần thoại dân gian, tạo nên màu sắc thần bí.
Thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh tám quẻ
Từ hai bức tranh số, con đường đi tiếp là con đường của một nét vạch: từ một tròn đầy, tách làm hai, rồi làm bốn, rồi làm tám.
Hệ Từ thượng của Dịch Kinh bàn đến quá trình sinh ra Bát Quái:
Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái định cát hung, cát hung sinh đại nghiệp.
Lý luận đời sau dựa trên đó mà phát triển rất nhiều học thuyết. "Thái cực" là lúc âm dương chưa chia, thời kỳ hỗn mang, từ đó hình thành muôn vật; chữ "thái" mang nghĩa đạt đến cực điểm. Theo lời giải trong Chính Nghĩa, thái cực là nguyên khí hỗn mang lúc trời đất chưa phân, hợp làm một, tức là buổi sơ khởi, thể duy nhất. Trong Hệ Từ thượng, thái cực không có hình vẽ; mãi đến đời Tống mới có một bức vẽ cho nó, cũng chẳng có chữ chú: chỉ là một vòng tròn lớn với hai con cá âm dương, mỗi con cá có một mắt.
Thái cực chia thành âm dương, từ đó hình thành muôn vật trên trái đất; sự chia ấy gọi là "lưỡng nghi", "nghi" nghĩa là dung chứa. Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, mà tứ tượng có nhiều cách giải: có người cho là bốn mùa, có người cho là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, hay là âm, dương, cương, nhu; có cách lấy lưỡng nghi tổ hợp thành lão dương, lão âm, thiếu dương, thiếu âm. Tứ tượng sinh Bát Quái, tượng trưng cho trời, đất, nước, lửa, gió, sấm, núi, sông ngòi, bao quát muôn vật trong vũ trụ; từ đó người Trung Hoa nhận ra điều may rủi, hướng lành tránh dữ, và đại nghiệp cũng từ đó sinh ra.
Khổng Dĩnh Đạt đời Đường cho rằng nguyên khí là căn nguyên của vũ trụ, còn gọi là đại dương, lấy nét liền biểu thị quá trình từ thái cực đến Bát Quái. Bào Vân Long đời Tống, trong Thiên Nguyên Phát Vi, căn cứ vào Hệ Từ thượng mà cũng vẽ biểu đồ quá trình hình thành tám quẻ. Những người xem phong thủy ngày nay cũng lấy quá trình ấy vẽ thành hình riêng của mình.
Tiên Thiên và Hậu Thiên: hai cách xếp tám quẻ quanh một vòng tròn
Khi Dịch Kinh được truyền đến đời Tống, các học gia dựa vào hai đoạn văn trong Thuyết Quái mà lập ra hai bản đồ: Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái. Tiên Thiên Bát Quái còn gọi là Phục Hy Bát Quái Đồ, chính là hình bát quái thường gặp ngày nay.
Thiệu Ung, học giả đời Tống, giải thích: Càn ở Nam, Khôn ở Bắc, Ly ở Đông, Khảm ở Tây, Chấn ở Đông Bắc, Tốn ở Tây Nam, Đoài ở Đông Nam, Cấn ở Tây Bắc; từ Chấn tới Càn là thuận, từ Tốn tới Khôn là nghịch. Bào Vân Long cũng dựa vào Thuyết Quái mà vẽ phương vị Phục Hy Bát Quái. Mọi hiện tượng trong vũ trụ nhờ đó quay về như ban đầu, tuần hoàn không dừng, nên hình bát quái là một vòng tròn.
Ở Tiên Thiên, từ một đến bốn đi ngược chiều kim đồng hồ theo trật tự Càn, Đoài, Ly, Chấn; Càn tượng trưng trời, ở vị trí cao nhất, là phương Nam. Từ năm đến tám đi thuận chiều kim đồng hồ, theo trật tự Tốn, Khảm, Cấn, Khôn; Khôn tượng trưng đất, ở vị trí thấp nhất, là phương Bắc. Các nhà phong thủy ngày nay lấy Tiên Thiên Bát Quái phối với Lạc Thư để vẽ thành hình riêng.
Hậu Thiên Bát Quái dùng phương vị và mùa để nói rõ các hiện tượng của tám quẻ. Nó xuất phát từ lời Thuyết Quái, đại ý: vạn vật xuất ra ở Chấn, Chấn là phương Đông; vạn vật tề chỉnh ở Tốn, Tốn là Đông Nam; Ly là sáng, vạn vật đều thấy nhau, là quẻ phương Nam, thánh nhân quay mặt về Nam mà nghe thiên hạ, hướng về chỗ sáng mà trị, ý lấy ở đó; Khôn là đất, vạn vật đều nhờ đó nuôi dưỡng; Đoài là chính thu, là nơi vạn vật vui mừng; Càn là quẻ Tây Bắc, nói chuyện âm dương giao tranh; Khảm là nước, là quẻ chính Bắc, là quẻ lao nhọc, nơi vạn vật quy về; Cấn là quẻ Đông Bắc, nơi vạn vật kết thúc rồi lại bắt đầu.
Cách hiểu đó như sau. Thiên đế tuy là chúa tể sáng tạo, nhưng vạn vật bắt đầu từ quẻ Chấn, vì Chấn là hướng Đông, mặt trời mọc từ Đông soi sáng muôn vật; theo mùa, Chấn ứng với mùa xuân, vạn vật sinh sôi. Đến Tốn, muôn vật đã ngăn nắp trật tự, vì Tốn là Đông Nam, mặt trời đã nhô cao, vạn vật xanh tươi rõ ràng, lớn đồng loạt; theo mùa, ứng với lúc giữa xuân và hạ. Ly tượng trưng ánh sáng mặt trời lúc giữa ngày, chiếu rọi hướng Nam, làm muôn vật rõ ràng; theo mùa là mùa hạ. Khôn là đất nuôi dưỡng muôn vật, nên chúa sáng chế giao sứ mệnh ấy cho đất; phương Tây Nam, theo mùa là giữa hạ và thu. Đoài tượng trưng mùa thu, lúc mặt đất kết giao, vạn vật tươi tốt; phương Tây. Càn là Tây Bắc, mặt trời lặn về Tây, sáng tối, âm dương thay nhau hỗn loạn nên có chuyện tranh đấu; theo mùa là giữa thu và đông. Khảm tượng trưng nước, nước chảy không ngừng, chỉ nỗi vất vả lao khổ; phương Bắc, ánh mặt trời tắt hẳn, chỉ còn một mảng tối, vạn vật mệt mỏi quay về nghỉ; mùa đông. Cấn ở Đông Bắc, lúc bình minh bóng tối tan, ánh sáng bắt đầu chiếu đến, vạn vật qua một ngày cũng là bắt đầu một ngày mới; mọi việc đều hoàn tất ở Cấn; theo mùa là lúc giữa đông và xuân.
Từ những lời ấy, học giả đời Tống vẽ Hậu Thiên Bát Quái Đồ, còn gọi là Văn Vương Bát Quái Đồ, và Bào Vân Long cũng đánh dấu thêm phương vị cho nó. Các nhà phong thủy hiện đại lại liên hệ Hà Đồ với Lạc Thư mà vẽ thành bản Hà Thư phối Hậu Thiên Bát Quái.
Sáu mươi bốn quẻ và cách gọi tên của từng quẻ
Từ tám quẻ gốc, hai quẻ chồng lên nhau tạo thành sáu mươi bốn hình, mỗi hình mang một cái tên và một câu chuyện.
Dịch Kinh lấy sáu mươi bốn quẻ làm chủ, mà sáu mươi bốn quẻ ấy lại dựa trên tám quẻ cơ bản. Về nghĩa chữ "quái", sách Dịch Thích đời Hán giải thích là treo hình tượng vật để cho người xem, nên gọi là quái; thật ra đó chỉ là cách đọc trại, chữ quái không có nghĩa là "treo đồ vật". Có học giả căn cứ vào Hệ Từ: xưa Bào Hy làm vua thiên hạ, ngước lên xem tượng trời, cúi xuống xem phép đất, xem vằn muông thú và điều thích nghi của đất, gần thì lấy nơi thân người, xa thì lấy nơi muôn vật, rồi mới làm ra tám quẻ để thông đức thần minh, phân loại tình của muôn vật. Quản Tử còn nói Phục Hy chế ra cửu số, nên suy ra quẻ có thể là dấu hiệu đầu tiên dùng để bói các hoạt động của con người.
Để nhớ hình tám quẻ, người xưa có câu:
Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.
Nghĩa là Càn ba vạch liền, Khôn sáu vạch đứt, Chấn như bát ngửa, Cấn như bát úp, Ly rỗng ở giữa, Khảm đầy ở giữa, Đoài khuyết ở trên, Tốn đứt ở dưới. Từ hình quẻ thấy rằng tám quẻ cứ hai quẻ ứng nhau thành một cặp, chia ra bốn cặp: Càn Khôn, Chấn Cấn, Ly Khảm, Đoài Tốn.
Lấy hai quẻ bất kỳ trong tám quẻ chồng lên nhau thì được sáu mươi bốn quẻ: Càn, Khôn, Truân, Mông, Nhu, Tụng, Sư, Tỵ, Tiểu Súc, Lý, Thái, Bĩ, Đồng Nhân, Đại Hữu, Khiêm, Dự, Tùy, Cổ, Lâm, Quan, Phệ Hạp, Bí, Bác, Phục, Vô Vọng, Đại Súc, Di, Đại Quá, Khảm, Ly, Hàm, Hằng, Độn, Đại Tráng, Tấn, Minh Di, Gia Nhân, Khuê, Kiển, Giải, Tổn, Ích, Quải, Cấu, Tụy, Thăng, Khốn, Tỉnh, Cách, Đỉnh, Chấn, Cấn, Tiệm, Quy Muội, Phong, Lữ, Tốn, Đoài, Hoán, Tiết, Trung Phu, Tiểu Quá, Ký Tế, Vị Tế.
Trong số đó, quẻ đầu của mỗi nhóm đều do hai quẻ giống nhau chồng lên, nên vẫn giữ tên Bát Quái. Tên các quẻ khác hoặc lấy theo hình vẽ, như quẻ Di có bốn hào ở giữa rất giống hàm răng trong miệng, tên cũ gọi là "di"; quẻ Phệ Hạp giống miệng đang ngậm vật, nên gọi là "phệ hạp". Hoặc lấy ý của quẻ trên và quẻ dưới: quẻ Đỉnh có trên là Ly (lửa), dưới là Tốn (gió), nghĩa là gió thổi bếp lò, xưa dùng đỉnh để hầm thức ăn. Hoặc kết hợp hai ý thành ý mới: quẻ Quan trên là Tốn (gió), dưới là Khôn (đất), gió thổi trên đất, phong cảnh thanh quan; quẻ Ích trên là Tốn, dưới là Chấn, gió và sấm hỗ trợ nhau, tăng thêm. Hoặc đối nghịch nhau: quẻ Bĩ trên Càn dưới Khôn, trời ở trên đất ở dưới không giao nhau nên bĩ cực; quẻ Thái trên Khôn dưới Càn, trời đất giao nhau nên muôn vật thái hòa. Nói tóm lại, từ tám quẻ diễn ra sáu mươi bốn quẻ vô cùng phức tạp.
Nét liền, nét đứt, và cách đếm sáu hào
Mỗi quẻ trong sáu mươi bốn quẻ được dựng bằng hai loại vạch, đứt và liền, xếp lần lượt từ dưới lên trên. Vạch liền tiêu biểu cho dương, cương, nam, vua, mạnh, và số lẻ, tượng trưng mặt tích cực của vạn vật. Vạch đứt tiêu biểu cho âm, nhu, nữ, bề tôi, yếu, và số chẵn, tượng trưng mặt tiêu cực. Trong Dịch Kinh và Dịch Truyện hay dùng chữ cương và nhu, hoặc âm và dương, nên vạch liền gọi là cương hào, dương hào; vạch đứt gọi là nhu hào, âm hào.
Vạch liền thuộc tính dương cương, tích cực, độc lập, dùng các số lẻ một, ba, năm, bảy, chín, lấy số lớn nhất là chín làm đại diện, gọi là "cửu". Vạch đứt thuộc tính âm nhu, tiêu cực, phụ thuộc, dùng số chẵn hai, bốn, sáu, tám, mười, lấy số sáu ở giữa làm đại diện, gọi là "lục". Vị trí thấp nhất gọi là "sơ", rồi nhị, tam, tứ, ngũ, cao nhất gọi là "thượng". Quẻ Càn toàn hào cương, sáu hào gọi từ dưới lên: sơ cửu, cửu nhị, cửu tam, cửu tứ, cửu ngũ, thượng cửu. Quẻ Khôn toàn hào nhu: sơ lục, lục nhị, lục tam, lục tứ, lục ngũ, thượng lục. Quẻ Truân thì sáu hào gọi là sơ cửu, lục nhị, lục tam, lục tứ, cửu ngũ, thượng lục. Riêng hai quẻ Càn, Khôn, ngoài sáu hào còn có "dụng cửu", "dụng lục" vô hình; các quẻ khác chỉ có sáu hào từ sơ đến thượng.
Ba hào ở trên gọi là thượng quái, hoặc ngoại quái; ba hào ở dưới gọi là hạ quái, hoặc nội quái. Bát Quái không chỉ là ký hiệu mà còn tượng trưng cho nhiều loại sự vật: lúc đầu chỉ trời, đất, sấm, núi, lửa, nước, sông ngòi, gió và các hiện tượng tự nhiên, về sau chỉ rộng ra mọi sự vật. Thuyết Quái đã giải thích rõ điều ấy. Bảng sau tóm lại:
| Quẻ | Càn | Khôn | Chấn | Tốn | Khảm | Ly | Cấn | Đoài |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Người | Cha | Mẹ | Con trai cả | Con gái cả | Con trai thứ | Con gái thứ | Con trai út | Con gái út |
| Động vật | Ngựa | Trâu | Rồng | Gà | Lợn | Chim trĩ | Chó | Dê |
| Cơ thể | Đầu | Bụng | Chân | Đùi | Tai | Mắt | Tay | Miệng |
| Phương vị | Tây Bắc | Tây Nam | Đông | Đông Nam | Bắc | Nam | Đông Bắc | Tây |
| Mùa | Giữa thu đông | Giữa hạ thu | Xuân | Giữa xuân hạ | Đông | Hạ | Giữa đông xuân | Thu |
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Phong Thủy Toàn Thư.
