Bài tổng quan
Tháp xá lợi, hoa sen trên mộ và hỏa táng nhà Phật
Dưới một ngôi tháp ở Định Huyện, hàng nghìn hạt ngọc xâu chuỗi, bốn mươi mốt đồng bạc Ba Tư và hơn hai trăm đồng tiền đồng nằm quanh tảng đá chứa hài cốt. Một tôn giáo từ bên ngoài đến đã đổi cách người Hoa tiễn người thân về đất ra sao…
Dấu Phật đầu tiên trong ngôi mộ Trung Hoa
Trong các tôn giáo từ bên ngoài đến, Phật giáo để lại dấu ấn rộng và sâu nhất trên đất Trung Hoa. Đạo Phật vào Trung Quốc từ đời Đông Hán, đi theo hai tuyến đường tơ lụa, một ở phương Bắc và một ở phương Nam. Theo tư liệu hiện có, hình bóng Phật giáo sớm nhất trong tang táng nằm ở các ngôi mộ khoét trong núi đời Đông Hán ở Lạc Sơn, Tứ Xuyên: trên vách mộ có khắc một nhân vật với vầng hào quang của đức Phật sau đầu. Nó cho thấy lúc ấy đạo Phật đã đứng khá vững trong tầng lớp trung lưu và hạ lưu, và ở phương Bắc thì còn sớm hơn nữa.
Mộ của các nhà sư và chuyện xá lợi
Một nắm tro, vài mảnh xương người tu hành có thể được đặt vào một chiếc hộp bằng vàng bọc bạc, đồng và đá.
Khi đạo Phật lan rộng, tăng lữ có mặt khắp nơi, và khi qua đời họ được hỏa táng. Mộ hỏa táng của các nhà sư rải khắp cả nước, nhiều như đền miếu. Ở Bắc Kinh từng tìm thấy một ngôi mộ tháp của hòa thượng Hải Vân Khả Yểm, niên đại năm Hiến Tông thứ 7 (1257): trong mộ có đồ dùng gia đình bằng gỗ, vải bông nhiều màu, chỉ may và lư hương. Ở vùng Vân Nam và nam Tứ Xuyên, chính quyền dựng nên từ năm 653 đến 937 lấy đạo Phật làm tôn giáo chính và buộc nhiều dân tộc bỏ lối chôn cổ truyền để chuyển sang hỏa táng.
Cốt còn lại sau khi hỏa táng nhà sư được gọi là xá lợi. Trong thuật ngữ nhà Phật, chữ này vốn chỉ riêng di cốt của đức Thích Ca. Tương truyền sau khi ngài nhập diệt, tám vị quốc vương chia nhau hài cốt để xây tháp cầu nguyện; tám nước ấy không có Trung Quốc. Dù vậy, tháp xá lợi ở Trung Quốc rất nhiều. Gần đây người ta tìm được bốn viên xá lợi trong mật thất dưới lòng đất của một ngôi tháp chùa ở Phù Phong, Thiểm Tây, cùng một lượng lớn đồ quý đời Đường: đồ thờ bằng vàng bạc, gốm sứ tráng men, đá quý, ngọc, đồ gốm, đá, sơn, sắt và cả những sợi vàng.
Ngôi tháp xá lợi sớm và có ghi chép chính xác nhất nằm ở Định Huyện, Hà Bắc, thuộc đời vua Hiếu Văn Đế nhà Bắc Ngụy, niên hiệu Thái Hòa (năm 481). Tảng đá chứa hài cốt được chôn sâu trong lòng đất, kèm theo hàng nghìn hạt pha lê, mã não, thủy tinh, ngọc trai, đá quý xâu thành chuỗi để trang trí, thêm 41 đồng bạc Ba Tư và hơn 200 đồng tiền đồng xếp thành "thất bảo". Người ta cũng tìm ra nền một tháp xá lợi đời Tùy, năm Nhân Thọ thứ 4 (604) ở Huy Huyện, Thiểm Tây; theo ghi chép, Tùy Văn Đế đã đích thân hạ lệnh cho 30 châu trong nước xây tháp xá lợi. Một ngôi tháp đời Đường năm Diên Tải nguyên niên (694) ở Kinh Xuyên, Cam Túc, thì dùng đá bọc một lớp đồng, trong lớp đồng lại có lớp bạc, rồi mới đến chiếc tiểu bằng vàng đựng hài cốt.
Cách chôn này đã thay chiếc chĩnh lọ truyền thống của Ấn Độ cho lối chôn quan tài của Trung Quốc. Từ thời Ngũ Đại và đầu thời Tống, việc dùng tháp để giữ hài cốt bắt đầu phổ biến: tháp Hổ Khâu ở Tô Châu (xây năm 961), tháp chùa Thụy Quang (xây năm 1013), tháp chùa Tiên Nhạc ở Thụy An, Chiết Giang (xây năm 1043) đều thuộc kiểu này. Từ Tống đến Minh, Thanh, tháp xá lợi cứ nối nhau mọc lên khắp nước, nên rất ít tháp thật sự giữ di hài của Thích Ca Mâu Ni; có tháp chứa di cốt của một vị tăng Ấn Độ, có tháp chứa di cốt của một vị cao tăng Trung Quốc.
Có những lối tiễn biệt lạ hơn ở vùng cao. Một số vị hoạt Phật lớn của Lạt Ma giáo ở cao nguyên tây Tứ Xuyên và Tây Tạng, khi viên tịch được cho ngồi kiết già trong một thùng gỗ, đổ đầy muối vào, đặt trong điện Phật thờ ba đến năm năm, rồi mới đưa vào tủ kính hoặc hòm gỗ để thờ. Có nơi sau khi hỏa táng, tro được trộn với bùn để đắp thành tượng Phật mà thờ.
Sư tử, hoa sen và tháp nhỏ trong ngôi mộ
Từ những đoàn nhà sư đi qua, con sư tử, bông sen và bóng tháp bước vào cõi mộ của người Hoa.
Đạo Phật khiến tục chôn Trung Quốc có thêm nhiều nhân tố văn hóa mới. Đời Đông Hán, một vị tăng lưu lạc ở Tây Vực từng tặng sư tử cho Trung Quốc nhưng cũng không làm loài thú ấy lan rộng. Về sau bức tranh Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử đi khắp nước theo bước chân các nhà sư; đức Thích Ca, bậc cao nhất trong chư Phật, lại tự xưng là "Nhân trung sư tử". Vì thế sư tử được xem là thần thú, thú may mắn, có thể tránh tà, và thường đứng trước lăng mộ hay trước sân quan phủ. Trong mộ đời Đông Ngô thời Tam Quốc hay gặp tượng người giống tướng Bạch Hào, một số đồ trang sức mạ vàng, mạ đồng cũng có hình ảnh dính tới đạo Phật. Lăng Vĩnh Cố của Văn Minh thái hậu đời Bắc Ngụy ở Đại Đồng, Sơn Tây, đã gộp chùa Phật và đất mộ làm một. Trong mộ thất của Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoằng cũng ở vùng Đại Đồng, người ta tìm thấy những mảng đá trắng khảm có chạm hoa sen, đậm màu Phật giáo.
Từ thời Nam Bắc triều, trong điêu khắc, hội họa, hoa văn trên đồ gốm sứ của mộ táng và đường vân trang trí trên bia mộ, người ta ưa vẽ hoa sen, hoa sen quyện với mây, mẫu đơn nhiều nhánh. Đó là kết quả của sự gặp nhau giữa nghệ thuật Phật giáo và văn hóa Trung Hoa. Sau thời Tống, trong các ngôi mộ nhỏ thường có chĩnh gốm dáng chiếc tháp nhà Phật.
Thuyết chuyển thế làm đổi nhịp lễ tang
Nếu người chết rất mau đã sang kiếp khác, thì còn ai ngồi chờ ở ngôi mộ để nhận cúng bái suốt mười đời?
Ảnh hưởng sâu hơn của đạo Phật là quan niệm chuyển thế tái sinh. Văn hóa Hán xưa tuy cũng thấp thoáng ý niệm đầu thai nhưng chưa bao giờ phát triển đầy đủ. Người ta thường tin linh hồn tổ tiên vẫn sống ở cõi âm và luôn che chở con cháu. Bởi vậy nét lớn nhất của tục tang Trung Hoa là trọng lễ táng lớn, và tổ tiên phải được thờ cúng từ mấy đời trước, có khi tới mười đời. Đạo Phật lại cho rằng con người sau khi chết sẽ chuyển thế đầu thai rất nhanh. Điều ấy đổi khá nhiều quan niệm về linh hồn vốn có, và đổi theo cả những việc tang dựng trên nền quan niệm đó. Những gia đình theo đạo Phật phần nhiều chủ trương đám tang đơn giản, ít khi thờ tổ từ các đời xa, ít đi tảo mộ và ít khi chôn vợ chồng chung một huyệt.
Ở một số vùng theo đạo Phật, như nơi người Tạng Bào sinh sống, người ta tin người chết có thể được siêu độ nên coi nhẹ chuyện cúng tế. Người Mao Nhi Cái Tạng thiêu xác xong thì không lấy tro xương và cũng không xây mộ. Người Tày tin đạo Phật cũng phổ biến táng đơn giản: mộ đắp lên chỉ vài năm đã bị mưa gió san phẳng, người đến sau lại đào huyệt ở chỗ đó. Từ Đông Hán đến Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, lễ tang chuyển từ xa hoa, cầu kỳ sang giản dị. Nguyên nhân có nhiều, nhưng không phải là không liên quan đến sự thịnh hành đặc biệt của đạo Phật lúc ấy.
Từ "phong tục của dân Di Địch" đến hỏa táng của người Hán
Có những thứ từng bị khinh là của kẻ ngoại bang, rồi trải mấy trăm năm lại thành lẽ thường.
Đạo Phật còn làm người Hán nhìn hỏa táng bằng con mắt khác. Do quan niệm phân biệt Di và Hạ hình thành từ lâu, người Hán xem hỏa táng là "phong tục của dân Di Địch", chỉ hiểu hời hợt và không chịu ảnh hưởng rõ ràng. Khi đạo Phật vào, số tín đồ tăng lên, hỏa táng mới xuất hiện trong người Hán. Đời Đường, Tống, nó rất phổ biến ở một số vùng Trung Nguyên. Từ thời cận đại đến nay, người ta theo di pháp mà đa số hỏa táng. Các chính quyền phong kiến từng dùng trăm phương ngàn kế để ngăn, nhưng hỏa táng nhà Phật cuối cùng vẫn thấm sâu vào văn hóa Hán. Ngày nay người Hán phổ biến hỏa táng, tất nhiên chủ yếu vì nhu cầu của khoa học và xã hội hiện đại, nhưng giữa nó với ảnh hưởng của đạo Phật vẫn còn một sợi dây lịch sử.
Tăng lữ bước vào việc tang của dân gian
Khi trong nhà có người mất, người ta tìm đến những người tu hành để lo cho linh hồn người ra đi.
Tăng lữ còn tích cực tham gia việc tang của dân gian, siêu độ linh hồn người chết. Sư sãi ở cao nguyên Tây Tạng và tây Tứ Xuyên thường tụng kinh cho người mất. Ở một số vùng cao nguyên tây Tứ Xuyên, nhà có người thân chết thì mời sư đến niệm kinh và đem tặng toàn bộ tài sản người quá cố cho nhà chùa. Tăng lữ người Choang, quen gọi là "hoa tăng", phần nhiều để tóc, được lấy vợ sinh con, thường giúp xóm làng siêu độ vong hồn, ăn chay đuổi quỷ, lo mộ tổ, cầu khấn tổ tiên, mời thần linh; pháp khí họ dùng phần nhiều giống pháp khí đạo gia. Các thầy pháp của dân tộc Thổ Gia thì tự nhận thủy tổ của mình từng đến Tây Thiên, nơi Phật tổ ở, để thỉnh kinh, có được pháp khí và dùng chúng trong tang lễ cùng các nghi thức khác.
Lạt Ma giáo là một nhánh Phật giáo mang đậm màu sắc địa phương của Tây Tạng, và chính nó đưa tục hỏa táng đến đó. Từ đời Đường đến nay, người Tạng vẫn coi hỏa táng là cách chôn cất ở đẳng cấp cao nhất. Sau khi phái Cách Lỗ truyền Lạt Ma giáo vào Mông Cổ, những tục cũ của Sa Man giáo như tuẫn táng người, lừa, ngựa bị dẹp bớt, và nhờ đó phái này được dân chăn nuôi ủng hộ.
Trong mộ táng Trung Quốc có không ít tư liệu cho biết đạo Phật được truyền bá đến mức nào. Rất nhiều bia mộ chí đời Đường cho thấy lúc ấy nhiều quý tộc, quan lại, phụ nữ và người già đều theo đạo Phật. Động cơ của họ rất phức tạp: có người cầu trừ bệnh, trừ tai ương, có người mong được tha tội, có người cầu con, cầu phát đạt, có người muốn vơi nỗi cô đơn, cũng có người theo đuổi hạnh phúc ở kiếp sau.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
