Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Chín sao quản cục và sáu thế nước cát, sáu thế nước hung

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Chín sao quản cục và sáu thế nước cát, sáu thế nước hung

Một dòng nước đến từ bên trái thì nhà này phát phúc ba đời; cũng dòng nước ấy đến từ bên phải thì nhà kia bán sạch ruộng vườn. Người xưa gán cho mỗi nhóm núi một ngôi sao coi giữ cửa nước, và gán cho từng giai đoạn của dòng nước một vận của đời người. Nước Mộc Dục, nước Mộ, nước Tuyệt mà đến gần nhà thì chuyện gì sẽ xảy ra?


Vua Đại Vũ trị lụt không bằng cách đắp đê chặn nước, mà khơi cho mọi dòng chảy thông ra sông lớn, rồi từ sông lớn đổ ra biển. Người xem đất học đúng cách ấy khi nhìn nước quanh một nấm mồ: nước phải có chỗ đến, có chỗ đi, và hướng của từng dòng đã báo trước số phận của cả dòng họ. Cùng một dòng nước chảy từ bên trái sang bên phải, nhà này phát phúc ba đời, nhà kia bán hết ruộng vườn.

Tiêu nạp: khơi nước cho thông, từ khe nhỏ ra sông lớn, từ sông lớn ra biển

Tiêu nạp là thế cục giống như việc vua Đại Vũ ngày xưa trị thủy: đường nước phải được thông suốt, mọi nhánh nước đều đổ ra sông lớn, sông lớn lại đổ ra biển.

Các nhà xem đất nêu ra nhiều phép khác nhau để xét hướng nước. Có người dùng Ngũ hành để bàn về thế khởi của long mạch và tiêu nạp. Có người dùng Bát quái để bàn hình cục của nước. Có người dùng Song sơn để xét hướng tiêu nạp. Có người dùng Huyền không để xét nước sinh nhập hay khắc nhập. Có người dùng Cửu tinh để bàn chuyện quản cục. Có người dùng Thất diệu để bàn nước đến cục. Lại có người dùng Thiên tỉnh để chia sang hèn quý tiện mà bàn nước đến trước nhà. Phương pháp rất khác nhau, nhưng khi xét kỹ nguyên nhân thì lý lẽ phần nhiều giống nhau.

Chín sao quản cục: hai mươi bốn sơn khởi từ sao Tham Lang

Cùng một dòng nước, đứng trước ngọn núi này thì là phúc, đứng trước ngọn núi kia lại là họa; vì mỗi nhóm sơn có một ngôi sao riêng canh giữ.

Hai mươi bốn sơn được phối hợp với nhau theo phép tam hợp: các sơn hợp thành từng nhóm, mỗi nhóm hình thành một ngôi sao, trước hết là sao Tham Lang. Phép này lấy tam hợp trạch pháp làm cơ sở. Còn tám sao kia là Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phù, Hữu Bật thì không có huyệt trạch đối ứng riêng như Tham Lang, nên khi bàn về quản cục không tính theo cách ấy.

Dương công chuyên dùng ngũ hành tam hợp, từ việc chín sao quản cục mà bắt đầu phán đoán cát hung; những trường hợp còn lại cứ theo đó mà suy.

Sao Vũ Khúc quản cục. Sáu sơn Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất thuộc về Vũ Khúc. Nước đến phải đi từ phải sang trái, và phía nước đến phải có ao hồ lớn để nước tụ lại thì mới cát lợi. Nếu nước hướng đúng vào Vũ Khúc, cả nhà hưng vượng. Còn nước đi mà chảy thẳng một mạch, không ngoái đầu lại, thì đời con cháu sầu khổ, dòng trưởng ngày một sa sút, mọi việc đều trục trặc, ấy là hung hiểm.

Sao Cự Môn quản cục. Sáu sơn Hợi, Mão, Mùi, Tỵ, Dậu, Sửu thuộc về Cự Môn. Nước đến phải chảy từ trái sang phải, và nơi nước đến có ao hồ thì cát lợi. Nước hướng về Cự Môn rồi sau đó quay sang phía tây thì gia đình nhất định phúc dày, con cháu phú quý hưng vượng. Còn nếu nước đi từ trái sang phải mà không chuyển hướng quay về phía tây, thì dòng trưởng bán hết ruộng vườn, lâm họa sát thân, tài sản rơi hết sang tay phụ nữ ngoại tộc.

Sao Liêm Trinh, Phá Quân và Lộc Tồn. Các sơn Tân, Quý, Cấn, Giáp thuộc về Liêm Trinh; các sơn Khôn, Canh, Đinh, Tốn, Nhâm thuộc về Phá Quân; riêng Ất sơn thuộc về Lộc Tồn. Với Ất sơn, nước đến phải chảy từ trái sang phải; còn chín sơn kia thì nước phải đi từ phải sang trái mới cát lợi.

Khi nước chảy từ phải sang trái hướng về Liêm Trinh và Phá Quân, con trưởng lẫn con út đều thuận lợi; một trăm bước đất hương hỏa như thế có giá nghìn vàng. Riêng Lộc Tồn chiếm Ất sơn thì nước từ trái sang phải mới tốt; nếu nước chạy từ phải sang trái thì rất hung, con cháu đời sau tán gia bại sản, gia đạo sa sút, chẳng còn ruộng vườn. Nếu có quá nhiều dòng nước cùng hướng về Phá Quân, Lộc Tồn và Liêm Trinh, thì tai họa dồn dập, dòng trưởng chịu họa trước, con cháu nghèo khổ.

Sao Tham Lang quản cục. Hai sơn Bính và Càn thuộc về Tham Lang. Nước đến phải đi từ trái sang phải, và nơi nước đến có ao hồ đối diện thì mới cát lợi. Thế cát là Nhâm sơn hướng Bính, Tốn sơn hướng Càn: nước chảy tới mà vào ruộng, đi từ bên trái sang bên phải, thì gia chủ vinh hoa phú quý. Thế hung là nước đi của sao Tham Lang: nếu nó chảy từ phải sang trái, về phía đông, thì làm tổn hại dòng trưởng, gia sản lụn bại, đời con cháu cực khổ.

Bảy sao thu nạp: mỗi sao lo một việc trong nhà

Chín sao chia nhau coi giữ các cửa nước; còn một dòng nước đã vào trong cục thì mang theo vận của từng giai đoạn đời người.

Chỗ mộ lớn cần sửa sang thì xem ở sao Phá Quân; chuyện đoạn tử tuyệt tôn thì xem ở Lộc Tồn; việc nuôi tuổi thọ, dưỡng tính tình thì xem ở Tham Lang; việc tu thân gột rửa cho trong sạch thì xem ở Văn Khúc. Vũ Khúc chủ về đường quan chức hanh thông, Cự Môn là nơi suy bại, Liêm Trinh chủ về sinh, lão, bệnh, tử. Bảy sao đều có chức trách phân minh, mỗi sao lo một việc.

Lưu quốc sư căn cứ vào tình huống nước đến mà xác định sáu tướng gồm Sinh, Vượng, Quan Đới, Lâm Quan, Suy, Dưỡng: sáu tướng này đến cục thì cát lợi. Còn sáu thế gồm Mộc Dục, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai thì gọi là lục thế đến cục, đều là hung họa. Lý luận về nước theo cách này rất chính xác.

Ngọc Xích kinh nói: sự phồn vinh nối tiếp của một nhà gắn mật thiết với nước Tràng Sinh, nguồn của cải và bổng lộc có được là nhờ cung Vượng thần.

Nước Tràng Sinh chảy về hướng minh đường thì dù ngàn năm cũng không mục nát. Vượng thần tụ nước thành cục thì bổng lộc làm quan được lâu dài. Kẻ tham vinh hoa phú quý nên bỏ nước Tràng Sinh mà đón nước Vượng thần; muốn đời con cháu lâu dài thì ngược lại, bỏ Vượng thần mà đón nước Tràng Sinh. Nếu Phá Quân xâm nhập vào chỗ của Vượng thần thì gia chủ chẳng còn đất dung thân; nếu sao Thiên Canh xung phạm vị trí của Tham Lang thì khó có người giữ hương hỏa.

Những thế nước tốt: Tràng Sinh, Vượng, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Dưỡng

Tràng Sinh và Vượng thần. Nước Tràng Sinh hội hợp với Vượng thần thì chủ nhà sinh con thông minh lanh lợi. Nhưng nếu Vượng thần xung phạm vào Tràng Sinh thì dù có vinh hoa phú quý cũng chẳng vui được bao lâu: đứa con còn trong bụng mẹ có thể chết ngay, ấy là phạm vào thần Thai, hoặc mới sinh ít ngày đã mất vì sinh khí bị tổn thương. Quan Đới sẽ mất đi khi con trai đã trưởng thành, còn Lâm Quan chỉ mất đi khi con cái đã hoàn toàn nên người. Nếu Tràng Sinh và Vượng thần cùng ở một chỗ thì gia tài được bảo toàn, rất cát lợi.

Dưỡng. Nước Dưỡng chảy đến minh đường, dưới sự quản của sao Tham Lang sẽ xuất hiện người nối dõi là văn sĩ đại tài; dòng trưởng đời con cháu nhiều phúc nhiều quý, nhân đinh đông đúc, tính tình trung hậu lương thiện. Nước đến mà uốn lượn quay lại thì càng có nhiều người làm quan trong triều; càng quanh co, vinh hoa phú quý càng lâu dài. Nếu nước Dưỡng chảy đi thì trong nhà vợ và con dâu sớm thành góa bụa, phòng không lẻ bóng.

Quan Đới. Nước Quan Đới chảy đến thì người trong nhà thông minh trí tuệ, cũng chủ về phong lưu du ngoạn; bảy tuổi đã làm văn làm thơ, được người đời khen ngợi. Nhưng nếu nước Tràng Sinh và Vượng thần chảy đi, thì phải lấy đến người vợ thứ ba mới khá; con trai giỏi văn có nguy cơ chết yểu, con gái dễ bị tổn thương, nên ở chỗ ấy cần đào ao để giữ nước lại.

Lâm Quan. Nước Lâm Quan chảy về phía mộ phần, Quan Lộc và hướng chầu cùng một phương thì nền đất rất cát lợi: thiếu niên đã sớm thi đỗ, làm quan lên nhanh, đến chức tướng quốc phò tá minh quân. Điều kiêng kỵ nhất là nước Lâm Quan chảy sang hướng khác: khi ấy con cái đang thành đạt liền chết yểu, con dâu phải để tang chồng, gia sản lụn bại.

Đế Vượng. Một dòng nước Đế Vượng chảy đến chầu thì khí thịnh vượng bốc lên từ nhà trang, gia đình có người làm quan to, được phong tước cao, uy danh lừng lẫy bốn phương, tiền tài đổ vào như nước. Chỉ e sự hưu tù làm tiêu tán nước ấy, khi đó dù giàu như Thạch Sùng cũng chẳng được bao lâu sẽ lụn bại. Nước Đế Vượng mà chảy đi thì nền mộ, đáy mộ bị đục ruỗng, gia đình đói khổ ai oán.

Suy. Nước Suy thuộc sao Cự Môn quản cục. Nước đến minh đường thì sinh con thông minh học giỏi, văn tài được thiên hạ tán thưởng; người lớn trường thọ, phong lưu dư dả, lên xe xuống ngựa, yến tiệc có ca vũ, rượu ngon đầy đủ. Nước Suy là nước đến hay nước đi đều tốt, nếu chảy chậm và uốn khúc thì càng tốt.

Sáu thế nước xấu: Mộc Dục, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai

Có những dòng nước mà dù đến hay đi cũng mang tai họa, và mỗi thế nước xấu lại gõ vào một cửa khác nhau của gia đình.

Mộc Dục. Nước Mộc Dục chảy đến xâm phạm Đào Hoa thì con gái trong nhà dâm loạn không thể quản thúc, hoặc nhảy sông tự vẫn, hoặc bỏ nhà theo trai, gia sản lụn bại. Nước Mộc Dục đến từ phương Tý, Ngọ thì chủ về điền sản mất sạch; đến từ phương Mão, Dậu thì điền sản dư dả. Nếu nước Mộc Dục chảy ngược trở lại phá vị trí nước Tràng Sinh thì phụ nữ trong nhà sau khi sảy thai lại trở nên dâm loạn, đem tai họa đến cho người làm quan trong nhà.

Bệnh và Tử. Nước Bệnh, nước Tử thì dù thế nào cũng chớ cho chảy đến. Chảy thẳng hay chênh chếch đều gây họa: gặp loạn binh, uống nhầm thuốc độc, bệnh tật triền miên; con gái chưa chồng đã trụy thai; gia chủ nhất định gặp đủ loại tai nạn, có thể sa vào nghiện ngập, chỉ còn da bọc xương.

Mộ. Nước Mộ dù thế nào cũng không nên cho chảy đến, chỉ trừ trường hợp là nước của Phá Quân thì lại tốt: con trai sẽ lập võ công ngoài chiến trường, lưu danh sử sách. Nếu nước đến gần mộ thì gia sản lụn bại, mang công mắc nợ không trả nổi; nếu nước chảy qua mộ thì gia chủ dù có bốn năm người con rốt cuộc cũng tuyệt tự.

Tuyệt và Thai. Nước Tuyệt, Thai chảy đến thì phụ nữ có thai bị chết lưu, rồi tuyệt tự; dù có sinh con thì cha con, vợ chồng cũng tử biệt sinh ly. Nếu nước đến mạnh mẽ thì phụ nữ trong nhà dâm loạn, theo trai; nước đến vừa phải thì phụ nữ cũng hư đốn. Thế đất này phải có chỗ cho nước thoát ra, và sao Lộc Tồn phải phối hợp với dòng Kim Ngư thủy thì mới ổn.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia